Lãnh đạo của đảng bộ hà tây về xây dựng và phát triển văn hóa trong giai đoạn 1991 2006 - Pdf 35

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chương 1. VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA CỦA TỈNH HÀ TÂY THỜI KỲ TRƯỚC
KHI TÁI LẬP TỈNH NĂM 1991 ............................................................. 7
1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội .......................................................................... 7
1.1.1. Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên .......................................... 7
1.1.2. Điều kiện xã hội ................................................................................ 10
1.2. Khái niệm văn hóa ....................................................................................... 11
1.3. Khái quát về công tác xây dựng, phát triển văn hóa tỉnh Hà Tây từ năm
1965 - 1991 ....................................................................................... 13
1.3.1. Văn hóa tỉnh Hà Tây góp phần xây dựng hậu phương miền Bắc,
chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng giặc Mỹ giai đoạn
1965 - 1975 ....................................................................................... 13
1.3.2. Văn hóa tỉnh Hà Tây góp phần thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược
giai đoạn 1975 - 1991 ....................................................................... 18
Chương 2. QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỜI KỲ 1991-2006 . 29
2.1. Những chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền
văn hóa Việt Nam trong giai đoạn 1991 - 2006 ............................... 29
2.2. Chỉ đạo xây dựng phát triển văn hóa trong những năm đầu tái lập tỉnh
Hà Tây 1991 - 1998 .......................................................................... 36
2.3. Chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa ở Hà Tây “tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” giai đoạn 1998 - 2006 ................................................... 45
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ
TÂY ................................................................................................... 61

3.1. Kết quả ......................................................................................................... 61
3.1.1. Những thành tựu đã đạt được............................................................ 61
3.1.2. Những hạn chế .................................................................................. 67
3.2. Một số bài học kinh nghiệm ......................................................................... 68

tộc. Tiếp tục tinh thần “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội” và Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, tháng 7
năm 1998 - Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VIII) Đảng Cộng sản Việt
Nam đã ra nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến
tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

1


Hà Tây, trước khi hợp nhất với Hà Nội vào năm 2008, là một tỉnh thuộc
đồng bằng sông Hồng, cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội. Cùng với Thăng
Long, xứ Đông, xứ Đoài đã có một lịch sử văn hóa lâu đời. Hà Tây được coi là
“Đất tụ khí anh hoa”, “là cái bình phong che chắn trung đô”, là vùng đất “Bốn
bề như gấm như hoa, nhìn vào quê lụa, nhìn ra kinh kỳ”, là quê hương của
những người thợ khéo, là đất trăm nghề, có nền văn hóa lâu đời. Do đặc điểm
của vùng đất ven đô, ngay từ xa xưa, người dân Hà Tây, ngoài giỏi giang việc
đồng áng, cấy cày, thạo nghề thủ công, mỹ nghệ, còn có những ngày hội làng,
những điệu hát đặc sắc. Bằng toàn bộ những sản phẩm được tạo ra bởi bàn tay
khéo léo - người thợ thủ công Hà Tây đã cung cấp cho thủ đô nhiều mặt hàng
thiết yếu. Ngược lại thông qua hoạt động giao lưu hàng hóa giữa các vùng sản
xuất, các làng nghề với kinh thành, những giá trị văn hóa, văn minh của cuộc
sống nơi thành thị đã ảnh hưởng rất nhiều, góp phần làm thay đổi lối nghĩ, nếp
sống của một bộ phận cư dân nông nghiệp ở Hà Tây.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế, văn hóa của tỉnh đã có những bước
phát triển đáng kể. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên
một bước. Việc gìn giữ và phát huy văn hóa, khôi phục và phát triển các làng
nghề truyền thống không chỉ tạo ra một sự chuyển biến đáng kể trong đời sống
kinh tế ở nông thôn mà còn góp phần bảo tồn những giá trị tinh thần phong phú
của người dân Hà Tây ở các làng nghề, tạo điều kiện cần thiết để thực hiện một
cách có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

nhân dân ở các địa phương trong tỉnh đã được tạo ra. Với các cách tiếp cận
khác nhau, nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý về lĩnh vực văn hóa đã
quan tâm, nghiên cứu, đánh giá tổng kết về văn hóa làng. Nhiều công trình
nhiều tài liệu vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn sâu sắc như các
tác phẩm: “Sự biến đổi làng xã ngày nay ở đồng bằng sông Hồng” của giáo sư
tiến sĩ Tô Duy Hợp do nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội ấn hành năm
2000, đi sâu phân tích quá trình biến đổi mọi mặt của làng xã. Cũng trong
năm 2000 - Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây xuất bản tập sách “Làng mỹ tục Hà Tây” của tác giả Nguyễn Tá Nhí. Đây là một công trình nghiên cứu khá
công phu về những làng xã tiêu biểu từng được tặng danh hiệu “Mỹ tục khả
phong” của tỉnh Hà Tây. Kết quả nghiên cứu này không chỉ góp phần khẳng
định truyền thống văn hiến tốt đẹp của quê hương, mà còn phát huy tác dụng
tích cực trong cuộc vận động xây dựng đời sống mới hiện nay ở nông thôn Hà

3


Tây. Tập sách “Lễ hội cổ truyền Hà Tây” do Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây
phát hành vào năm 1994, lại phản ánh sự phong phú đặc sắc của văn hóa Hà
Tây thông qua việc sưu tầm giới thiệu những lễ hội cổ truyền độc đáo ở nhiều
vùng quê khác nhau trên địa bàn Hà Tây. Liên tục trong các năm 2001, 2002
và 2003 để cổ vũ động viên nhân dân các địa phương tích cực tham gia hưởng
ứng phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa”, Sở Văn hóa
Thông tin Hà Tây đã xuất bản bộ sách “Làng văn hóa - Hà Tây” gồm nhiều
tập. Đây là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả, nêu gương, giới thiệu và
trao đổi những kinh nghiệm hay của các tập thể và cá nhân điển hình trong
phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa” ở các địa phương
trong tỉnh.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống và
chuyên sâu về lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về xây dựng và phát triển
văn hóa trong thời kỳ đổi mới.

12/8/1991 đã quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh: Hà Tây và Hòa
Bình. 5 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và thị
xã Sơn Tây được tách khỏi Thành phố Hà Nội để trở về Hà Tây. Tỉnh Hà Tây
được tái lập và chính thức làm việc từ ngày 1/10/1991.
Ngày 29/5/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Việt Nam chính thức thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành
chính Thủ đô Hà Nội và một số tỉnh liên quan, theo đó toàn bộ diện tích tự
nhiên và dân số của tỉnh Hà Tây được chuyển về Hà Nội (trừ xã Tân Đức
thuộc huyện Ba Vì được chuyển về thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo một
Nghị quyết riêng của Quốc hội). Hà Tây trở thành một phần của Hà Nội
nhưng sự kiện này không ảnh hưởng đến việc nghiên cứu của đề tài.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu
Đề tài dựa trên các nguồn tài liệu sau:
- Các tác phẩm của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh liên quan đến đề tài.
- Hệ thống các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1991-2006.
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Hà Tây, báo cáo hàng năm của Ủy ban
nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Tây.

5


- Các công trình nghiên cứu về văn hóa, các công trình lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgich,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp.
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần hệ thống hóa quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo xây
dựng, phát triển văn hóa trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1991 - 2006.

Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và Thị xã Sơn Tây [46, tr.8].
Như vậy có thể nói rằng sau 26 năm, với 3 lần hợp nhất, chia tách và tái
hợp nhất tỉnh Hà Tây mới tạm ổn định, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình phát triển của tỉnh. Những vấn đề về kinh tế, xã hội và văn hóa cũng vì
thế mà có những thay đổi nhất định, trong đó đáng quan tâm là sự biến dạng
của một số giá trị văn hóa truyền thống để phù hợp với sự thay đổi của việc
sắp xếp, điều chỉnh địa giới hành chính.
Tính đến đầu năm 2005, sau một vài điều chỉnh về địa giới hành chính
trong nội bộ các địa phương trong tỉnh theo Nghị quyết Hội đồng Nhân dân
tỉnh khóa XIV (kỳ họp thứ III năm 2005), tỉnh Hà Tây có diện tích là 2.191,6
km2, dân số hơn 2,5 triệu người, mật độ dân số bình quân 1.141 người/km2
nơi cao nhất 4.148 người/km2 (Hà Đông), thấp nhất 602 người/km2 (Ba Vì).
Về đơn vị hành chính, Hà Tây gồm 2 thị xã là Hà Đông, Sơn Tây; 12 huyện là
các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất,
Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức; gồm
295 xã, 27 phường, thị trấn [46, tr.9].
Hà Tây nằm ở rìa Tây của đồng bằng Bắc Bộ phía đầu bên phải của
võng Sông Hồng. Địa hình tỉnh Hà Tây gồm 3 vùng chủ yếu.
Vùng núi Ba Vì có diện tích khoảng 7000 ha. Đỉnh cao nhất của núi Ba
Vì cao trên 1280m, ngọn thấp nhất trên 700m. Đây là vùng sinh thái khá hoàn
chỉnh. Tính độ cao từ 400m trở lên, khí hậu giống như vùng ôn đới, nhưng lại
có độ ẩm cao do ảnh hưởng của dòng sông Đà và không khí ấm từ biển Đông
thổi vào, vì thế cây cối quanh năm xanh tốt. Mặt khác, do kiến tạo địa chất, ở
vùng núi Ba Vì có rất nhiều khe, thác thu hút đông đảo cư dân đến sinh sống.
Độ cao từ 100 m trở xuống là địa bàn sinh sống của người Mường, người Dao

7


và người Kinh thuộc các xã Khánh Thượng, Ba Vì, Minh Quang, Ba Trại,


- Phía Bắc giáp sông Hồng, từ xã Tân Đức của huyện Ba Vì đến xã
Liên Hà của huyện Đan Phượng, bên kia sông là đất Vĩnh phúc, kéo dài
khoảng 52 km.
- Phía nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam dài khoảng 42 km.
- Phía Tây đoạn giáp sông Thao và sông Đà, từ Trung Hà đến Tu Vũ,
bên kia sông là đất tỉnh Phú Thọ tiếp đến là vùng đồi núi Ba Vì đến dãy núi
Miếu Môn, rồi đến dãy núi đá vôi Hương Tích là dài nhất khoảng 150 km
(bên kia dãy núi là tỉnh Hoà Bình).
- Đường ranh giới phía Đông, nơi phía trên giáp hai huyện Từ Liêm và
Thanh Trì của Hà Nội, phía dưới giáp sông Hồng từ xã Ninh Sở của huyện
Thường Tín đến hết xã Quảng Năng của huyện Phú Xuyên, bên kia sông là
đất của tỉnh Hưng Yên, có chiều dài khoảng 70 km.
Hà Tây là một trong số ít các tỉnh khu vực đồng bằng Bắc Bộ có lịch sử
hình thành và phát triển tương đối phức tạp bởi sự thay đổi địa giới hành
chính. Điều này ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế xã hội và văn hóa
của tỉnh.
1.1.2. Điều kiện xã hội
Hà Tây là một trong những tỉnh có số dân đông, đứng thứ 2 (sau Thành
phố Hà Nội) so với dân số 11 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng và
so với cả nước, Hà Tây có dân số đứng thứ 5 (sau Thành phố Hồ Chí Minh,
Thủ đô Hà Nội, tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Nghệ An so với cả nước). Năm 2005
lực lượng lao động toàn tỉnh là 1.327 nghìn người [46, tr.12].
Hà Tây có 10 xã thuộc các huyện Ba Vì, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ
Đức có đồng bào dân tộc Mường, Dao sinh sống (tổng số khoảng 20.000
người).
Người Hà Tây cần cù lao động, với sản xuất nông nghiệp là chính. Thế
mạnh của Hà Tây là tỉnh có nhiều ngành, nghề truyền thống có từ lâu đời và
nổi tiếng. Toàn tỉnh có trên 1116 làng có nghề, trong đó 240 làng được công
nhận là làng nghề theo tiêu chí của tỉnh tính đến năm 2005. Các ngành nghề

Nhiều đồ vật, hiện vật đã được đăng ký bảo vật quốc gia như ấm đồng đầu
voi, cốc đốt trầm, chân đèn thời Mạc… Bên cạnh đó còn có những di sản văn
hóa phi vật thể đang được Hà Tây bảo tồn và lưu giữ như: Các phong tục tập
quán cổ truyền. Nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống như hát Trống quân,

10


hát Chèo tầu, hát Dô, Ca Trù, hò Cửa Đình… đã được công nhận là địa chỉ
văn hóa dân gian của cả nước [60, tr.26].
1.2. Khái niệm văn hóa
Chúng ta đều biết, có rất nhiều cách hiểu, khái niệm về văn hóa khác
nhau. Nhưng chúng ta cũng dễ dàng thấy được một nét chung là hầu hết các
nhà khoa học đều nhấn mạnh cái có một không hai của văn hóa là con người.
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên,
Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2002),
“văn hóa” (danh từ) có các nghĩa: 1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (kho tàng văn
hóa dân tộc, văn hóa phương Đông, nền văn hóa cổ). 2. Những hoạt động của
con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát) (phát
triển văn hóa, công tác văn hóa). 3. Tri thức, kiến thức khoa học. 4. Trình độ
cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh (sống có văn hóa). 5. Nền
văn hóa của một thời kỳ cổ xưa (văn hóa Đông Sơn) [31, tr.1100].
Năm 1940 Hồ Chí Minh đã đưa ra một hướng tiếp cận về văn hóa.
Người cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn,
mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng
với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với

độ nguỵ quyền tay sai.
Từ ngày 18 đến ngày 22/5/1965, Tỉnh ủy Hà Tây họp Hội nghị lần thứ
nhất để quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11
khóa III (3/1965) về chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc trong thời chiến,
chuyển hướng công tác tư tưởng, công tác tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ
“xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam”. Đảng bộ Hà Tây tiến
hành công tác tư tưởng trong tình hình cả nước có chiến tranh: “Miền Nam là
tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn, nhưng hậu phương ấy cũng đang
có chiến tranh hạn chế và đang trực tiếp chiến đấu” [29, tr.219], chống chiến
tranh phá hoại của không quân Mỹ, chống các luận điệu chiến tranh tâm lý
của đế quốc Mỹ và bọn phản động. Công tác lãnh đạo tư tưởng của Đảng bộ

12


tỉnh chuyển từ thời bình sang thời chiến, từ đẩy mạnh sản xuất xây dựng nền
kinh tế xã hội theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất sang thực hiện nhiệm vụ: vừa
sản xuất vừa chiến đấu, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền
Nam. Trên địa bàn tỉnh, nhiều cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện…
của Trung ương, của Hà Nội, của tỉnh về sơ tán. Đảng bộ tỉnh mới hợp nhất,
trong cán bộ, đảng viên phần lớn có những băn khoăn, lo lắng về các mặt,
công tác và sinh hoạt xã hội.
Trong tình hình đó, Tỉnh uỷ đặt công tác tư tưởng lên hàng đầu, công
tác tuyên giáo đã bám sát vào Hội nghị Trung ương lần thứ 11, vào Nghị
quyết Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ nhất vào các cuộc vận động do Trung ương và
Tỉnh uỷ phát động nhằm làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận thức rõ
âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới,
trên cơ sở đó, nâng cao nhiệt tình cách mạng, tinh thần trách nhiệm đối với
công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, nâng cao ý
chí phấn đấu, tinh thần quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược, nâng cao ý thức tổ

Đảng đến các đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang địa phương để cán bộ
và nhân dân thấy rõ âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ,
nhận rõ vai trò hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam,
thúc đẩy mọi người phát huy truyền thống cách mạng, thực hiện cho khẩu hiệu
“Tất cả cho sản xuất, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Công tác tuyên
truyền giáo dục đã góp phần chuyển hướng kịp thời về tư tưởng và tổ chức, đưa
các hoạt động, sản xuất, chiến đấu của Đảng bộ thích ứng với yêu cầu, nhiệm
vụ cách mạng, nhất là phong trào tòng quân của thanh niên.
Báo Hà Tây, ngành Văn hóa Thông tin đẩy mạnh tuyên truyền cổ động
về những điển hình mới trong sản xuất như Đồng Quang (huyện Quốc Oai),
Trí Trung (huyện Phú Xuyên)… Khẩu hiệu “Tay cày, Tay súng”, “Tay búa,
Tay súng” đã đi vào cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu trong suốt quá
trình chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Nhiều cụm chiến đấu liên kết
giữa bộ đội phòng không với các đơn vị chiến đấu của tỉnh, huyện xã được
xây dựng, nhất là ở những nơi trọng điểm như cầu Giẽ, cầu Tế Tiêu, cầu Ba
Thá, phà Mai Lĩnh, cầu Tân Thượng, đập Suối Hai… và các trận địa trực
chiến, sẵn sàng bắn máy bay Mỹ ở các làng xã đã tạo thành một lưới lửa
phòng không nhân dân bắn máy bay giặc Mỹ. Cấp uỷ cơ sở lập “Hội mẹ chiến
sĩ” là những bà, những mẹ điển hình có chồng, con đi bộ đội có thành tích

14


trong phong trào “Ba đảm đang” để làm công tác động viên tư tưởng thanh
niên và các gia đình có con em nhập ngũ trong các đợt tuyển quân, tham gia
làm công tác hậu phương quân đội. Đảng bộ đẩy mạnh tuyên truyền về những
chiến công diệt Mỹ - ngụy của quân và dân ta ở miền Nam, tuyên truyền các
tin chiến thắng của quân dân miền Bắc bắn rơi máy bay và bắt phi công Mỹ;
tuyên truyền cổ động những điển hình về phong trào thủy lợi cải tạo đồng
ruộng. Công tác tuyên truyền giáo dục đã động viên cao độ tinh thần quyết

ngừa những biểu hiện hữu khuynh, thiếu tin tưởng, thiếu quyết tâm, bảo thủ,
trì trệ thiếu tinh thần vươn lên trong học tập và thi đua, thiếu tin vào sức mình
và ỷ lại vào nhà nước và cấp trên.
Công tác tuyên truyền cổ động cũng được tăng cường với các hình
thức: phát thanh, kẻ khẩu hiệu, biểu ngữ, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ.
Báo Hà Tây đăng trên trang nhất lời kêu gọi của Bác Hồ “Không có gì quý
hơn độc lập, tự do”, đồng thời tổ chức cuộc triển lãm “Quân dân Hà Tây
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
ngành Văn hóa - Thông tin đã nêu cao khẩu hiệu “Tiếng hát át tiếng bom,
tiếng loa hòa tiếng súng”, phát huy mọi phương tiện, mọi lực lượng cổ vũ khí
thế chiến đấu và chiến thắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Nhiều tác
phẩm văn hóa nghệ thuật ra đời cùng với các hoạt động văn hóa - thông tin đã
phản ánh các trận chiến đấu ác liệt từ Cầu Giẽ đến Suối Hai, từ Đập Phùng
đến Thủy Xuân Tiên, từ Yên Bệ đến Đa Sỹ…
Mốc son ngày 30/04/1975, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cũng
là kết quả công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng bộ tỉnh trong 10 năm thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11 - 12 (khóa III). Những
phong trào thi đua đó đã tạo nên một sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh của ý chí không có gì quý
hơn độc lập, tự do. Chung quy lại là sức mạnh văn hóa Việt Nam. Với sức
mạnh đó, dân tộc ta đã chiến thắng vẻ vang đế quốc Mỹ xâm lược.
Từ những phong trào thi đua sôi nổi trong sản xuất, chiến đấu và nêu
gương người tốt việc tốt, một nền văn hóa cách mạng tiếp tục được xây dựng.
Những nét đẹp văn hóa của giai đoạn này là tài sản quý giá để Đảng bộ và
nhân dân Hà Tây phát huy trong những giai đoạn cách mạng sau.

16



17


hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh. Tỉnh ủy đánh giá tình hình văn hóa,
thông tin trong 2 năm 1976 - 1977, đề ra Nghị quyết về công tác văn hóa, văn
nghệ, thông tin cổ động những năm tới. Tỉnh ủy đã nhận thấy: “Đi đôi với đà
phát triển kinh tế, công tác văn hóa nghệ thuật - thông tin cổ động được phát
triển không những về mặt số lượng mà ngày càng nâng cao về chất lượng.
Các mặt hoạt động văn hóa, văn nghệ, xây dựng nếp sống mới đang dần dần
trở thành phong trào của quần chúng. Hệ thống truyền thanh quốc lập và dân
lập được xây dựng và ngày càng phát triển. Công tác khai thác vốn văn hóa
nghệ thuật của các dân tộc đã có những kết quả bước đầu. Nhiều điển hình
văn hóa, nghệ thuật, thông tin cổ động được xây dựng. Đội ngũ cán bộ văn
hóa thông tin cổ động ngày một đông đảo, rộng rãi. Sự kết hợp giữa lực lượng
văn hóa thông tin chuyên nghiệp và văn hóa thông tin quần chúng ngày càng
chặt chẽ hơn. Nội dung công tác văn hóa nghệ thuật và thông tin cổ động nhìn
chung lành mạnh và ngày càng bám sát cuộc sống, phục vụ tốt các nhiệm vụ
chính trị của Đảng và Nhà nước Công tác văn hóa thông tin đã góp phần tích
cực trong việc giáo dục tư tưởng, phổ biến các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước nhất là cuộc vận động chính trị lớn của tỉnh” [51].
Tỉnh ủy cũng chỉ ra một số khuyết điểm về tuyên truyền như: “Chưa
chuyển hướng kịp thời tình hình, nhiệm vụ cách mạng, yêu cầu mới của cuộc
sống. Nội dung hoạt động chưa toàn diện, biểu hiện là phục vụ nông nghiệp
có khá nhưng phục vụ công nghiệp và thủ công nghiệp còn ít, tuyên truyền
sản xuất thì khá nhưng tuyên truyền củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất
còn chưa mạnh; biểu dương mặt tích cực còn tương đối khá, nhưng chưa chú
ý đúng mức đến mặt phê phán những hiện tượng tiêu cực, lệch lạc về tư
tưởng; có chú trọng phổ biến các đường lối chính sách và giáo dục chủ nghĩa
anh hùng cách mạng nhưng chưa sâu. Công tác phổ biến những kiến thức
khoa học, kỹ thuật, xây dựng nếp sống mới, đạo đức mới, con người mới chưa

phẩm văn hóa có chất lượng đến khắp các vùng thích hợp với từng đối tượng
quần chúng lao động trong tỉnh để phục vụ quần chúng được nhiều hơn.
Thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác văn hóa,
văn nghệ, thông tin cổ động những năm tới, các cấp các ngành trong tỉnh đã
tập trung chỉ đạo triển khai trên cơ sở 6 nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra.
Năm 1977, ngành Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình đã mở đợt đọc sách
“tìm hiểu về Đảng” đạt kết quả tốt, thu hút lực lượng đông đảo cán bộ và quần
chúng tham gia, với tổng số 15.400 bài dự thi; in 20 loại tài liệu phát thanh,

19


10 loại khẩu hiệu bướm với trên 170.000 bản để tuyên truyền phục vụ các
nhiệm vụ chính trị. Hệ thống đài truyền thanh tỉnh, huyện, thị xã có trên 1.000
km đường dây, với trên 3.000 loa đã phục vụ tốt công tác tuyên truyền thực
hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ [50, tr.358].
Trong lúc cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang thực hiện nhiệm vụ kế
hoạch 5 lần thứ hai (1976 - 1980) thì ngày 17/2/1979, xẩy ra cuộc chiến tranh
biên giới ở phía bắc. Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng cho cán
bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tích cực chi viện sức người, sức của
cho nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới và thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, an
ninh quân sự ở địa phương. Ban Thường vụ Tỉnh ủy liên tiếp ra các Chỉ thị,
Thông tri về công tác giáo dục lý luận chính trị; về việc cấm nghe đài địch và
các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch; về công tác phát thanh và truyền
thanh địa phương bảo đảm sẵn sàng ứng phó với chiến tranh; tích cực chuẩn bị
mọi mặt phục vụ lễ khởi công xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình.
Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy, các ngành, các cấp ủy Đảng đã giáo dục
cho cán bộ đảng viên, quần chúng không nghe đài địch, nêu cao tinh thần
cảnh giác cách mạng nhằm đập tan mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của
địch và những phần tử xấu. Các ban huyện, thị ủy đã chỉ đạo Đài truyền thanh

viên và nhân dân.
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác văn hóa tư tưởng, trong hai ngày 29
và 30/4/1981, Ban thường vụ Tỉnh ủy đã đánh giá tình hình công tác văn hóa tư tưởng trong 5 năm 1976 - 1980, là: “Công tác văn hóa - tư tưởng đã góp
phần thắng lợi chung của phong trào cách mạng của tỉnh. Trước những khó
khăn trong sản xuất, đời sống, số đông cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ vững
vàng, kiên định, tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo Đảng và tiền đồ của Tổ
quốc…” [50, tr.367].
Trong 2 năm 1982 - 1983, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ rõ: Phải coi
cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch là một bộ phận của cách mạng tư tưởng
văn hóa, là một nhiệm vụ quốc kế dân sinh; do vậy phải tổ chức quán triệt thật
sâu sắc tinh thần và nội dung cuộng vận động sinh đẻ có kế hoạch của Đảng
và Nhà nước làm chuyển biến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân, thấy rõ
ý nghĩa quan trọng của cuộc vận động nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả ở
địa phương, đơn vị mình. Ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan Thi
đua, Thống kê, Tuyên huấn, Đài báo, Văn hóa thông tin, Văn học nghệ thuật,

21


theo dõi động viên, cổ vũ những đơn vị, cá nhân làm tốt cuộc vận động,
thường xuyên tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong cán bộ và nhân dân, phổ
biến kịp thời những kinh nghiệm tốt [50, tr.370].
Tuy nhiên do tình hình kinh tế xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn,
do thiếu vật tư hàng hóa, giá cả luôn biến động đã ảnh hưởng đến sản xuất và
đời sống nhân dân. Trên địa bàn tỉnh thiên tai liên tiếp xẩy ra, ảnh hưởng lớn
đến sản xuất nông nghiệp. Năm 1983, toàn tỉnh thiệt hại 3 vạn tấn lương thực,
năm 1985 giảm gần 5 vạn tấn nên đã tác động lớn đến quá trình lãnh đạo công
tác tư tưởng văn hóa của Đảng bộ. Cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhiều suy
nghĩ, lo lắng về sự biến động giá cả thị trường, về đời sống khó khăn. Các tệ
nạn xấu như tự tư, tự lợi, chạy hàng ăn chênh lệch giá chưa ngăn chặn kịp thời.

tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, văn hóa đạo đức sa sút. Đổi mới trở
thành một yêu cầu bức thiết và là vấn đề có tầm quan trọng sống còn của cách
mạng nước ta. Đaị hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp vào tháng
12/1986 đã chủ trương đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế. Trên
lĩnh vực văn hóa, Đảng chủ trương đổi mới tư duy lý luận về văn hóa khi xác
định “Mọi hoạt động văn hóa văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác
động đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ thẩm mỹ của nhân
dân” [20]. Nghị quyết Đại hội VI xác định nhiệm vụ của cách mạng văn hóa
những năm đổi mới là: xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa
đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ trương tính đến hiệu quả xã hội trong mỗi hoạt
động văn hóa và quan điểm xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là
những đổi mới bước đầu trong đường lối văn hóa của Đảng.
Tuy nhiên trong chỉ đạo thực tiễn, nhiều cấp ủy Đảng còn lúng túng do
ít được bồi dưỡng kiến thức về văn hóa. Công tác lãnh đạo và quản lý văn
hóa, văn nghệ có nhiều biểu hiện giản đơn. Trước tình hình đó, Đảng đã ra
một nghị quyết riêng về văn hóa. Ngày 28/11/1987 Bộ Chính trị ra Nghị
quyết số 05/NQ-TW về đổi mới nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học,
nghệ thuật và văn hóa phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học, nghệ thuật và
văn hóa phát triển lên một bước mới.
Nghị quyết nhận định: “Hiện nay, văn hóa là bộ phận trọng yếu của
cách mạng tư tưởng và văn hóa là một động lực mạnh mẽ đồng thời là một
mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [20, tr.479] “Việc
đầu tư cho sự nghiệp văn hóa để phục vụ con người, xây dựng con người

23


mới… là một sự đầu tư không chỉ nhằm giải quyết những nhu cầu cấp bách,
trước mắt, mà còn có ý nghĩa cơ bản lâu dài… và tích lũy “vốn quý nhất” cho
xã hội” [20, tr.487]. “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status