PHÂN TÍCH ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY - Pdf 22

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
VẤN ĐỀ THẢO LUẬN
PHÂN TÍCH ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CỦA ĐẢNG TỪ
NĂM 1986 ĐẾN NAY
Giáo viên hướng dẫn: BÙI THỌ QUANG
NHÓM 4 - LỚP 06
Thành viên nhóm:
Trương Thị Hà Trang
Trương Thị Phương Linh
Bùi Thị Trà
Hoàng Thị Thuý
Đồng Khánh Sơn
Trịnh Thị Dung
Hoàng Văn Long
Đặng Quang Đông
Phạm Đức Hưng
Lê công Huy
Uyên
Duyệt
Hồng Anh
Linh
Khánh
NỘI DUNG:
1. Phân tích đường lối xây dựng và phát triển văn
hoá trước năm 1986.
2. Đánh giá thực hiện đường lối trước đổi mới.
3. Phân tích đường lối xây dựng và phát triển văn
hoá từ năm 1986 đến nay.
a.Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và

- Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội Đồng chính phủ, chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá.
+ Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt.
+ Hai là, phải giáo dục lại tinh thần nhân dân.
Đây là hai nhiệm vụ hết sức khiêm tốn nhưng lại vĩ đại ở tầm nhìn, độ chính xác
và tính thời sự của nó.
- Cuộc vận động thực hiện đời sống văn hoá mới. Đầu năm 1946 Ban Trung
ương vận động đời sống mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật
có uy tín như Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè , mà tổng thư ký
là nhà Văn Nguyễn Huy Tưởng. Đến tháng 3/1947 Hồ Chí Minh viết tài liệu đời
sống mới giải thích rất dễ hiểu những vấn đề thiết thực trong chủ trương văn hoá
quan trọng này.
- Đường lối văn hoá kháng chiến dần hình thành trong chỉ thị "Kháng chiến kiến
quốc" ra ngày 25/11/1945 của Ban thường vụ trung ương Đảng, trong bức thư
về "Nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước
hiện nay" của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày
16/11/1946 và tại báo cáo "Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam" trình bày tại
Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai tháng 7/1948.
Đường lối đó gồm các nội dung:
+ Xác định mối quan hệ giữa văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ động
văn hoá cứu quốc.
+ Xây dựng nền văn hoá dân chủ mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học,
đại chúng mà khẩu hiệu thiết thực lúc này là Dân tộc, Dân chủ.
+ Tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học, trung học, cải cách việc học theo
tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ.
+ Giáo dục lại nhân dân, cổ động thực hành đời sống mới.
+ Phát triển cái hay trong văn hoá dân tộc, đồng thời bài trừ cái xấu xa hủ bại,
ngăn ngừa sức thâm nhập của văn hoá thực dân, phản động, học cái hay, cái tốt
của văn hoá thế giới.

Nhờ được soi sáng bởi đường lối lãnh đạo phát triển văn hoá đúng đắn, văn hoá
cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn:
+ Khơi dậy được những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc, kết hợp
với những giá trị tiến bộ và phù hợp của nhân loại và thời đại, tạo nên sức mạnh
vật chất và tinh thần đáp ứng yêu cầu đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc.
+ Định hình cơ bản những giá trị văn hoá mới của dân tộc gắn với sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên
nhiều lĩnh vực văn hoá, đi sâu vào đời sống nhân dân.
+ Góp phần tích cực vào việc xoá bỏ những tàn dư của nền văn hoá thực dân
cùng với những hủ tục lạc hậu gây tổn hại tới bản chất của nền văn hoá mới.
+ Góp phần xây dựng đội ngũ trí thức hoạt động trên các lĩnh vực văn hoá, nghệ
thuật, không ngừng nâng cao về trình độ, chất lượng sáng tác.
+ Trình độ văn hoá chung của xã hội đã được nâng lên một mức đáng kể. Lối
sống mới đã trở thành phổ biến, con người sống có nghĩa, có tình, có tấm lòng
hậu phương vì tiền tuyến, có tinh thần xả thân vì tổ quốc.
+ Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ là
thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn mà còn là thắng lợi của chủ
nghĩa yêu nước và những giá trị tinh thần cao đẹp của con người Việt Nam.
 Hạn chế, nguyên nhân
+ Công tác tư tưởng văn hoá thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây dựng
thể chế văn hoá còn chậm, sự suy thoái về đạo đức lối sống có chiều hướng phát
triển. Đời sống văn hoá nghệ thuật còn nhiều bất cập. Rất ít tác phẩm đạt đỉnh
cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Một
số công trình văn hoá vật thể và phi vật thể truyền thống có giá trị không được
quan tâm bảo tồn, lưu giữ, thậm chí bị phá huỷ, mai một.
+ Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá giai đoạn 1955 - 1986 bị chi phối bởi
tư duy chính trị "nắm vững chuyên chính vô sản" mà thực chất là nhấn mạnh
đấu tranh giai cấp, đấu tranh "ai thắng ai" giữa hai con đường, đấu tranh hai phe,
đấu tranh ý thức hệ.
+ Mục tiêu, nội dung cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá giai đoạn này cũng bị

những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả cấc dân tộc trong nước, tiếp thu
những tinh hoa văn hoá nhân loại. Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái
với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã
hội.
+ Cương lĩnh xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu.
- Đại hội VII đến đại hội X và nhiều Nghị quyết Trung ương tiếp theo đã xác
định văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Trong đó:
+ Đại hội VII (6/1991) và Đại hội VIII (6/1996) của Đảng khẳng định: khoa học
và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn,
lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Do đó phải coi sự nghiệp giáo
dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát
huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội.
+ Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (7/1998) nêu ra 5 quan điểm cơ bản chỉ
đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp lớn để xây dựng và phát triển nền văn
hoá trong thời kỳ mới.
* Năm quan điểm chỉ đạo:
1. Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần lành mạnh và tiến bộ thì
không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Xây dựng và phát triển kinh tế
phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát
triển toàn diện.
2. Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam.
4. Xây dựng và phát triển nền văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh
đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
5. Văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách
mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.

hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà trên đó từng
dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
- Là nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con
người và trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các
thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội
của từng dân tộc; đồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư
tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội - văn
hóa.
Tóm lại, văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó
làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn để
phát triển.
Chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội,
trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là con đường xây dựng
con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy
lùi tiêu cực xã hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ.
Biện pháp tích cực là đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa,
Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển:
- Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo
ra cái mới, nhưng lại không thể tách rời cội nguồn. Phát triển phải dựa trên
cội nguồn bằng cách phát huy cội nguồn. Cội nguồn đó của mỗi quốc gia
dân tộc là văn hóa.
- Động lực của sự phát triển kinh tế một phần quan trọng nằm trong những
giá trị văn hóa đang được phát huy (hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực
của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế
- xã hội càng hiện thực và bền vững bấy nhiêu).
- Trong nền kinh tế thị trường, một mặt, văn hóa hướng dẫn và thúc đẩy
người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay
nghề, mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống,

bản sắc dân tộc
- Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh nhằm mục tiêu vì con người. Tiên tiến về nội dung, hình thức biểu
hiện và các phương tiện chuyển tải nội dung.
- Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp trong quá trình dựng nước
và giữ nước.
o Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn
kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc;
đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị
trong lối sống,
Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính
dân tộc độc đáo.
o Là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc
về sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo giúp cho dân tộc đó giữ được
tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán trong quá trình phát
triển
là sức sống bên trong của dân tộc, là quá trình dân tộc thường xuyên
tự ý thức, tự khám phá, tự vượt qua chính bản thân mình, biết cạnh
tranh và hợp tác để tồn tại và phát triển.
o Thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng được
thể hiện sâu sắc nhất là trong hệ giá trị của dân tộc, nó là cốt lõi của
nền văn hóa.
o Phát triển theo sự phát triển của thể chế kinh tế - xã hội - chính trị
của các quốc gia. Nó cũng phát triển theo quá trình hội nhập kinh tế
thế giới, giao lưu văn hóa với các quốc gia khác và sự tiếp nhận tích
cực văn hóa, văn minh nhân loại.
o Bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hóa phải được

- Để xây dựng đội ngũ trí thức, Đảng ta khẳng định: giáo dục - đào tạo cùng
với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu.
- Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) khẳng định: cùng với giáo dục
- đào tạo, khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là động
lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập
dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
- Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất
cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
củng cố quốc phòng và an ninh, là nền tảng và là động lực cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .
- Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách
mạng của toàn dân.
Năm là, giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách
hàng đầu.
Văn hóa theo nghĩa rộng thì bao hàm cả giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ.
Đại hội VI (năm 1986), Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII ( T12-1996) khẳng
định: cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghiệp là quốc sách hàng
đầu, là động lực phát triển kinh tế - XH, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc
lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH. Khoa học và công nghệ là nội dung
then chốt trong mọi hoạt động cảu tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng – an ninh.
 Chủ trương:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế
quản lí, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiên “chuẩn hóa, hiện đại
hóa, XH hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” , chấn hưng nền giáo dục
VN.
- Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô
hình XH học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông
giữa các bậc học, ngành học; tạo nhiều khả năng , cơ hội khác nhau cho

Trong công cuộc đó, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính. Cùng với
việc giữ gìn và phát huy những di sản quý báu của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp những giá trị mới, phải kiên trì đấu tranh bài trừ
các hủ tục, các thói hư tật xấu, chống âm mưu lợi dụng văn hóa để thực hiện
“diễn biến hòa bình”.
4. Đánh giá thực hiện đường lối trong thời kỳ đổi mới.
Trải qua chặng đường dài ¼ thế kỷ, công cuộc đổi mới ở nước ta đã thu được
những thành tựu mang ý nghĩa lịch sử, song bên cạnh đó vẫn không thể tránh
khỏi những mặt hạn chế nhất định trong việc thực hiện đường lối xây dựng và
phát triển nền văn hóa.
Những thành tựu chủ yếu về văn hoá trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua:
1. Nhiều nhân tố mới, giá trị mới về văn hoá đã xuất hiện, được công nhận, bổ
sung cho những giá trị truyền thống; văn hoá đã tham gia có hiệu quả vào phát
triển con người Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Trước những tác động rất phức tạp từ sự chao đảo của các khuynh hướng tư
tưởng và chính trị trên thế giới, ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh không chỉ tiếp tục được khẳng định là nền tảng tư tưởng, mà còn
được phát triển với một số kết quả nghiên cứu mới về những giá trị phương
pháp luận, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối đổi mới và phát triển đất
nước. Nhiều giá trị văn hoá, đạo đức được cộng đồng xã hội đề cao, các phong
trào “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, “lá lành đùm lá rách”… diễn
ra sôi động và ngày càng có tác dụng thiết thực. Tính năng động, tính tích cực
của công dân, năng lực của cá nhân được khuyến khích phát triển. Con người
Việt Nam đã trở nên năng động hơn, có khả năng sáng tạo rõ hơn trong môi
trường kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới; nhu cầu tinh thần, vật chất,
sinh hoạt đã thực sự thay đổi; những giá trị nhân văn theo chuẩn mực mới, lành
mạnh hơn được thừa nhận, từng bước có tác dụng định hướng cho hoạt động của
các cá thể và cộng đồng xã hội…
2. Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hoá tiến bộ, lành mạnh đã và đang
trở thành phong trào xã hội rộng lớn, thu hút sự tham gia của các tổ chức trong

múa, nhiếp ảnh, kiến trúc, văn nghệ dân tộc thiểu số có nhiều tiến bộ. Các hội
văn học nghệ thuật có sự gia tăng về số lượng và đã tổ chức được nhiều hình
thức hoạt động mới, có tác dụng tích cực đối với đời sống xã hội…
4. Trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
đổi mới và phát triển văn hoá, đại bộ phận trong nhân dân ta ngày càng ý thức
sâu sắc hơn về một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng – một nhân tố cơ bản
và sống còn của văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Hơn 20 năm qua, văn hoá của 54 dân tộc có điều kiện phát triển thuận lợi hơn
hẳn so với thời kỳ trước đổi mới trong một quốc gia thống nhất. Văn hoá truyền
thống của đồng bào các dân tộc thiểu số được coi trọng. Nhiều giá trị văn hoá
được phát huy, được đặt trong các kế hoạch bảo tồn, do vậy đã góp phần quan
trọng vào việc củng cố, nâng cao tinh thần đoàn kết và bình đẳng giữa các dân
tộc. Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá (bắt đầu được thực hiện từ năm
1997) đã dành nhiều dự án cho việc duy tu, bảo tồn, nâng cấp các di sản văn hoá
của các dân tộc thiểu số. Các tài sản văn hoá vật thể và phi vật thể của đất nước,
ở nhiều vùng, miền được tìm tòi, có những phát hiện mới mang lại những giá trị
bổ ích về tinh thần và phục vụ thiết thực cho phát triển ngành du lịch. Mức
hưởng thụ và đời sống văn hoá của nhân dân ta nói chung, và của đồng bào các
dân tộc được cải thiện, nâng cao. Hoạt động giao lưu văn hoá - nghệ thuật giữa
các dân tộc được tổ chức với các hình thức ngày càng đa dạng, sinh động ở
những quy mô khác nhau, đã có ảnh hưởng tích cực đến tăng cường khối đại
đoàn kết dân tộc, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển…
5. Bản sắc văn hoá dân tộc được chú trọng gìn giữ; đồng thời các hoạt động
giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá được mở rộng, phát triển.
Kho tàng văn hoá nghệ thuật truyền thống được bảo tồn. Văn học chữ viết của
các thế hệ trước được sưu tầm, biên tập, chú giải, nghiên cứu chu đáo, cẩn thận.
Nhiều di sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới (Cố
đô Huế, Khu phố cổ Hội An, Vịnh Hạ Long, Khu di tích Mỹ Sơn, Động Phong
Nha-Kẻ Bàng…) và một số di sản được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di
sản văn hoá phi vật thể của nhân loại (Nhã nhạc Cung đình Huế…). Hàng trăm

phim, hàng chục rạp chiếu bóng, trong đó đáng kể là Trung tâm chiếu phim
quốc gia (ở Hà Nội) và các tỉnh, thành phố khác, và nhìn chung đều được đầu tư
hiện đại hoá. Hệ thống nhà hát cũng được mở rộng, nâng cấp. Hệ thống công
viên văn hoá, khu du lịch văn hoá - sinh thái và các tụ điểm vui chơi, giải trí
cũng được mở mang, phát triển. Đặc biệt, đã có hàng triệu hiện vật gốc là các di
vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được sưu tầm, bảo quản, trưng bày và giới
thiệu…
8. Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, duy trì được tốc độ tăng
trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình
trạng kém phát triển.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Tổng vốn đầu tư toàn xã
hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, đạt 42,7% GDP. Mặc dù khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào nước ta đạt cao. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010
tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000; GDP bình
quân đầu người đạt 1.168 USD. Hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều
có bước phát triển khá. Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là
sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn
và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng
cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp đã có tác
động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xoá đói, giảm nghèo. Sản phẩm
công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất
lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo cung
cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất
khẩu. Đã đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao. Khu
vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định. Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển
dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cơ cấu lao động cũng có sự
chuyển dịch tích cực.
9. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá được chú trọng hơn;

nhà nước đã và đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng đúng đắn cho sự
phát triển đời sống văn hóa. Những thành tựu này cũng là kết quả của sự tham
gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực rất lớn của các lực lượng hoạt động
trên lĩnh vực văn hóa.
 Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, có thể rút
ra một số kinh nghiệm :
Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường
lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp. Tích
cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc. Mở
rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức
trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng.
Hai là, phải thật sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền
vững. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng
hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng cường huy động các nguồn lực
trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh
tốc độ phát triển kinh tế. Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời xây dựng,
hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.
Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu,
vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển
kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ
đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư
tưởng và tổ chức. Thật sự phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật, kỷ cương;
giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất, gắn bó

nghiêng về lợi ích kinh tế trước mắt, xem nhẹ văn hoá. Nhìn chung, đầu tư cho
phát triển văn hoá còn thấp; lúng túng trong việc tổ chức thực hiện xã hội hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status