ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN THỊ NGỌC MAI
VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ
TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN THỊ NGỌC MAI
VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ
TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ THỊ CHÂU
Trung Hoa ................................................................................................. 29
Chương 2: VAI TRÒ CỤ THỂ CỦA CHỦ NỢ TRONG CÁC GIAI ĐOẠN
GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN HÀNH………………………………34
2.1. Các quy định trước khi thực hiện thủ tục tố tụng tại Tòa án ................ 35
2.2. Các quy định về thủ tục tố tụng tại tòa án để giải quyết yêu cầu thông
báo phá sản DN ............................................................................................ 35
2.2.1. Vai trò của chủ nợ trong quá trình nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
................................................................................................................... 35
2.2.2. Vai trò của chủ nợ đối với việc được thông báo khi DN mất khả
năng thanh toán ......................................................................................... 39
2.2.3. Vai trò của chủ nợ đối với việc cung cấp tài liệu chứng cứ chứng
minh DN lâm vào tình trạng phá sản ........................................................ 40
2.2.4 Vai trò của chủ nợ trong việc thương lượng với DN trước khi Tòa
án thụ lý đơn ............................................................................................. 43
2.2.5 Vai trò của các loại chủ nợ khi tham gia Hội nghị chủ nợ .............. 46
2.2.6 Vai trò của chủ nợ trong việc thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
của DN lâm vào tình trạng phá sản ........................................................... 52
2.2.7. Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn tuyên bố phá sản ..................... 63
2.2.8. Vai trò của chủ nợ trong việc phân chia tài sản:............................. 66
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ
TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP ....................................... 73
3.1. Thực tiễn một năm thi hành LPS 2014 ................................................. 73
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vai trò của
chủ nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN................................ 74
3.3. Các giải pháp về tăng cường công tác thi hành pháp luật .................... 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 91
Thủ tục phá sản
TAND
:
Tòa án nhân dân
DN
:
Doanh Nghiệp
HNCN
:
Hội nghị chủ nợ
NLĐ
:
Người lao động
HTX
:
1
loại hình kinh doanh, mang lại một bức tranh đầy màu sắc. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển của xã hội và sự hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt
Nam cũng phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài, đối
diện với không ít nguy cơ và thách thức to lớn khiến cho hàng loạt doanh
nghiệp ở nước ta làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc đứng trước bờ vực phá sản.
Trong bối cảnh đó, pháp luật về phá sản ở Việt Nam cần phải bắt kịp với xu
thế của thời đại, có sự điều chỉnh phù hợp để đảm bảo việc thực thi trên thực
tế một cách có hiệu quả.
LPS 2014 được đánh giá là một bước tiến bộ lớn trong kỹ thuật lập
pháp so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và LPS 2004, đưa những
quy định của pháp luật về phá sản tiến gần với những quy định phá sản của
các nước đang hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, với những gì đang diễn ra
trong thời gian qua, khi đánh giá về hiệu quả điều chỉnh của LPS 2004,
nhiều ý kiến cho rằng văn bản này có hiệu quả điều chỉnh quá thấp, ít tính
khả thi cũng như không phản ảnh hết yêu cầu và thực trạng giải quyết phá
sản ở Việt Nam. Trong thực trạng đó, việc sửa đổi bổ sung LPS 2004 nói
riêng và tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản nói chung là một yêu cầu cấp
thiết. Đáp ứng yêu cầu đó, LPS 2014 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp
thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 và đã có hiệu lực kể từ ngày
01/01/2015.
Giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp là một quá trình tố tụng tư
pháp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, trong đó, thể hiện rõ nét
vai trò quan trọng của các chủ nợ. Bên cạnh vai trò quyết định của Tòa án,
chủ nợ được xem là người góp công sức to lớn trong việc giải quyết phá sản
doanh nghiệp. Điều đó dựa trên tinh thần bảo vệ quyền và lợi ích cho chủ thể
bị ảnh hưởng lớn nhất trước nguy cơ một doanh nghiệp bị phá sản, vì một
“con nợ chết” sẽ kéo theo hàng loạt chủ nợ có thể đứng trước nguy cơ mất
nhau, trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
3
- Luận án tiến sĩ luật học của TS. Trương Hồng Hải (2004) :“Luật phá
sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ so sánh và phương hướng hoàn
thiện”. Luận án này tập trung nghiên cứu so sánh LPS DN năm 1993 của Việt
Nam với LPS của một số nước như Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa liên
bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa …với những vấn đề chủ yếu: Xác
định tình trạng phá sản, phạm vi đối tượng của LPS, quản lý tài sản phá sản,
mô hình thủ tục phá sản. Luận án nghiên cứu, đánh giá LPS Việt Nam trong
mối quan hệ so sánh với LPS của một số quốc gia trên cơ sở vận dụng các
nguyên tắc của luật so sánh. Mặc dù đã nêu và phân tích được một số nét về
vấn đề tài sản và quản lý tài sản theo LPS, nhưng luận án chủ yếu đi sâu vào
các khía cạnh về mặt thủ tục tố tụng, chưa nêu lên các đặc thù về vai trò của
các chủ nợ trong DN khi giải quyết yêu cầu phá sản.
- Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ kế hoạch và đầu tư (2004): “Thực trạng
phá sản doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh
nghiệp ở Việt Nam”do ThS. Nguyễn Kim Anh làm chủ nhiệm. Nội dung của
đề tài này chủ yếu tập trung nghiên cứu và đánh giá pháp luật về phá sản ở
Việt Nam và một số nước trên thế giới, tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật
phá sản ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập trong việc thực thi pháp luật về phá
sản và kiến nghị giải pháp hoàn thiện. Công trình này đã đề cập một cách có
hệ thống và toàn diện các vấn đề của LPS. Tuy nhiên, cho đến nay, khi LPS
2004 đã trải qua 10 năm thi hành, LPS 2014 trải qua hơn 01 năm thi hành thì
các phân tích của tác giả phần nào chưa bao quát hết các vấn đề phát sinh và
một số kiến nghị đã thể hiện tính không phù hợp với điều kiện áp dụng của
nền kinh tế Việt Nam.
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của ThS. An Phương Huệ (2004): “Luật
Phá sản của Việt Nam và Luật Phá sản của Cộng hòa Pháp – những nét
tại, hạn chế của LPS 2004, các văn bản pháp luật có liên quan cũng như các
5
yếu tố khác làm ảnh hưởng đến việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Trong phạm vi nhất định, đề tài cũng đã đề cập tới một số vấn đề về vai trò
của chủ nợ trong quá trình GQPS nhưng chưa đi sâu tìm hiểu kỹ.
Bên cạnh đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu dưới dạng bài viết
tạp chí đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến LPS và có nhắc đến các
quy định về chủ nợ như bài viết “Về một số nội dung của LPS 2004” của tác
giả Ngô Cường được đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối
cao, số 16/2007; bài viết “Những vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật
Phá sản” của tác giả La Minh Tường đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa
án nhân dân tối cao, số 15/2012; hay bài viết “Mạn đàm về một số quy định về
Hội nghị chủ nợ trong Luật Phá sản 2004” của tác giả Nguyễn Thị Tình và
Đỗ Phương Thảo được đăng trên Chuyên đề báo Pháp luật số tháng 6/2013;
v.v.. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung khai thác một cách tổng
thể các quy định của LPS để từ đó đánh giá và đưa ra được những kiến nghị
hoàn thiện pháp luật.
Xét về góc độ nghiên cứu riêng về chủ nợ trong LPS thì có rất ít công
trình nghiên cứu tập trung phân tích sâu sắc vấn đề này, có thể kể đến một vài
công trình nghiên cứu hướng đến đối tượng nghiên cứu là chủ nợ như bài viết
“Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục Phá sản” của tác
giả Trần Văn Tú và Nguyễn Văn Giang được đăng trên tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 03/2012.
Tuy nhiên, hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện về vai trò của chủ nợ - một chủ thể rất quan trọng tham gia vào quá
trình giải quyết phá sản doanh nghiệp. Do đó, với đề tài nghiên cứu của mình,
trên cơ sở kế thừa những đánh giá, phân tích của các công trình nghiên cứu
trước, tác giả hy vọng sẽ góp thêm một “đường nét” mới mẻ vào “bức tranh”
7
trong các quy định của LPS 2014, từ đó rút ra những vấn đề vẫn còn tồn tại
hoặc có thể phát sinh sau khi Luật được áp dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận văn sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: Chương 1 của luận văn được triển
khai thông qua phương pháp phân tích các vấn đề chung về các chủ thể của
LPS và phân chủ nợ, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu với pháp
luật phá sản một số nước khác. Đối với chương 2, tác giả sử dụng phương
pháp phân tích nhằm cụ thể hóa và làm rõ những quy định của pháp luật phá
sản về vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp. Từ
đó, ở chương 3, bằng phương pháp đối chiếu, phương pháp kết hợp nghiên
cứu lý luận với thực tiễn, phương pháp thống kê – phân tích nhằm làm rõ thực
tiễn thi hành LPS 2014, tác giả đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện
các quy định của pháp luật nhằm phát huy vai trò của chủ nợ trong suốt quá
trình tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp.
Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của luận văn
thì các phương pháp nghiên cứu trong luận văn vẫn được thực hiện trên nền
tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các
quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
6. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn phân tích làm
sáng tỏ thực trạng các quy định của LPS về vai trò của chủ nợ trong quá trình giải
quyết phá sản doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị về những phương
hướng và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của LPS về vai trò của
chủ nợ, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.
những quan điểm và kiến nghị góp phần nâng cao về vai trò của chủ nợ trong
giải quyết phá sản doanh nghiệp trong LPS 2014.
9
8. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần lời nói đầu và phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu
tham khảo chủ yếu, luận văn được kết cấu với 3 chương:
Mở đầu: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương
pháp nghiên cứu.
Chương 1: Khái quát về địa vị pháp lý của chủ nợ trong quá trình giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về vai trò của chủ nợ trong các giai
đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của chủ nợ trong thủ tục
phá sản doanh nghiệp.
10
Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI
QUYẾT TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Phá sản là một hiện tượng hết sức bình thường, tồn tại tất yếu và phổ
biến trong nền kinh tế thị trường nơi sự cạnh tranh lẫn nhau luôn tồn tại. Phá
sản là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt, trong đó không thể không nhắc
đến sự hiện diện của những chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng này với
những vai trò và địa vị pháp lý riêng biệt. Trước hết, có thể hiểu chủ thể tham
gia quan hệ giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp là tất cả những người có
Như vậy, khái niệm chủ nợ đã được xác định bởi quyền yêu cầu doanh
nghiệp trả nợ, cách hiểu này đã bao hàm được cả những cá nhân, tổ chức có
khoản nợ đối với doanh nghiệp phát sinh trước, trong và cả sau khi có quyết
định mở thủ tục phá sản, tránh bỏ sót những chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên
quan. Tuy nhiên, sau khi đưa ra khái niệm về “chủ nợ”, LPS 2014 lại lặp lại
khái niệm này khi phân loại chủ nợ, điều này là không cần thiết và khiến cho
khái niệm chủ nợ trở nên rắc rối, khó hiểu hơn.
Mục đích của LPS đó là bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ và chủ
nợ thông qua việc giải quyết và tìm ra cách thức thanh toán nợ. Thực tế cho
thấy, không phải lúc nào quyền của các chủ nợ cũng được bảo đảm. Và dẫu
có thì cũng chỉ là một phần nhỏ trong số những thiệt hại lớn mà các chủ nợ
phải gánh chịu. Với vai trò là người trực tiếp tham gia vào hoạt động sản
xuất kinh doanh hay là người thành lập nên doanh nghiệp của các chủ nợ,
việc đảm bảo quyền lợi của họ sẽ vừa là động lực, vừa là nền tảng để họ có
thể mạnh dạn hơn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, góp
phần nâng cao chất lượng đời sống, ổn định xã hội
Theo quy định tại LPS 2014 thì có 3 loại chủ nợ đó là: chủ nợ có bảo
đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm. Việc phân
12
chia này dựa trên mối tương quan giữa khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm mà
doanh nghiệp đã cầm cố, thế chấp cho chủ nợ. Tuy nhiên, không phải cả 3 loại
chủ nợ trên đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, mà chỉ chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm mới
có quyền nộp đơn Điều 5 LPS 2014.
Về nguyên tắc, mọi chủ nợ đều bình đẳng và đều có quyền lợi nhất
định trong vụ việc phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, quyền lợi của chủ nợ có
bảo đảm bị hạn chế bởi chính sự thỏa thuận về việc xử lý giá trị tài sản được
bảo đảm, họ luôn có trong tay tài sản cầm cố, thế chấp không phụ thuộc vào
quyết phá sản doanh nghiệp đạt được hiệu quả thiết thực.
Để phân loại các chủ nợ, cần dựa vào các tiêu chí nhất định, cụ thể:
* Căn cứ vào tương quan giữa giá trị tài sản bảo đảm và giá trị khoản nợ:
Đây là tiêu chí mà LPS 2014 đã dùng để phân loại chủ nợ, cơ sở phân loại
theo tiêu chí này chính là sự xuất hiện của tài sản bảo đảm của doanh nghiệp cho
khoản nợ của mình, theo đó, chủ nợ được phân làm ba loại cơ bản: chủ nợ có
bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm.
+ Chủ nợ có bảo đảm: Theo quy định tại Khoản 5, Điều 4 LPS 2014 thì “Chủ
nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp,
HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản
của doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba”
Đây là loại chủ nợ được bảo đảm về quyền lợi nhiều nhất trong ba
loại chủ nợ được LPS 2014 quy định, bởi chủ nợ có bảo đảm luôn được
pháp luật bảo vệ quyền lợi bởi chính giá trị tài sản bảo đảm mà doanh
nghiệp đem cầm cố, thế chấp; và giá trị tài sản đảm bảo của khoản nợ có
đảm bảo là tương đương hoặc lớn hơn so với giá trị khoản nợ của doanh
nghiệp. Ví dụ: Ngân hàng A cho công ty cổ phần B vay 4 tỷ đồng và nhận
tài sản thế chấp là mảnh đất của công ty được định giá là 5,3 tỷ. Như vậy, ở
đây Ngân hàng A chính là chủ nợ có bảo đảm; bởi quyền lợi của Ngân
14
hàng được đảm bảo bằng chính giá trị mảnh đất tương đương với khoản
tiền mà ngân hàng A cho công ty B vay.
+ Chủ nợ có bảo đảm một phần : Theo quy định tại khoản 6, Điều 4 LPS
2014 thì: “Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền yêu cầu doanh nghiệp, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản
nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ
ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó”.
Đây cũng có thể được xem là chủ nợ có bảo đảm bởi bản thân chủ nợ
một tài sản nào của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba. Khả năng thu hồi nợ
của loại chủ nợ này dường như là khó khăn hơn rất nhiều so với hai loại chủ
nợ kia, thậm chí, họ có thể mất trắng số nợ trong trường hợp doanh nghiệp
không còn tài sản để thanh toán. Vì vậy, có thể dễ dàng nhận thấy, các nhà
làm luật luôn ưu tiên bảo vệ quyền lợi của các loại chủ nợ này. Đây là khoản
nợ thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh thông qua các hợp đồng.
Như vậy, các nhà làm luật thông qua việc phân chia dựa theo chênh
lệch giữa khoản nợ và giá trị tài sản đảm bảo để xác định khả năng đòi nợ,
mức độ quyền lợi có thể bị xâm phạm và từ đó xác định vai trò của từng loại
chủ nợ khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
* Căn cứ vào chủ thể cho doanh nghiệp vay nợ:
Ngoài cách phân loại chủ nợ ở trên, LPS 2014 cũng có sự phân biệt các
khoản nợ của các loại chủ nợ khác thông qua các quy định về thứ tự phân chia
tài sản.
+ Chủ nợ là Nhà nước:
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với chức
năng và thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế. Các nghĩa
vụ tài chính đối với nhà nước là một quy định mới trong thứ tự phân chia tài
sản được quy định tại Điều 54, LPS 2014, theo đó, các khoản nợ có chủ nợ là
16
Nhà nước được tách riêng, mặc dù vẫn có chung thứ tự thanh toán với các
khoản nợ không có bảo đảm như quy định tại LPS 2004. Các nghĩa vụ tài
chính này chủ yếu nhất là nợ thuế. Đây là nghĩa vụ tài sản bắt buộc của doanh
nghiệp đối với Nhà nước khi tham gia vào môi trường kinh doanh. Một doanh
nghiệp có thể phải nộp rất nhiều loại thuế khác nhau như : thuế môn bài, thuế
giá trị gia tăng cho hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh, thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất – nhập khẩu nếu doanh nghiệp có hành vi
xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa,... Gánh nặng về thuế cùng với việc hoạt
và hợp đồng lao động, đồng thời, pháp luật phá sản luôn coi người lao động là
đối tượng chủ thể đặc biệt với thứ tự ưu tiên về đảm bảo quyền lợi cao hơn so
với các chủ nợ khác.
+ Chủ nợ là tổ chức, cá nhân khác :
Các tổ chức, cá nhân khác thông qua mối quan hệ với doanh nghiệp
cũng có thể trở thành chủ nợ của doanh nghiệp. Mối quan hệ đó có thể là cho
doanh nghiệp vay nợ hoặc những khoản nợ phát sinh trong quá trình thực hiện
hợp đồng, giao dịch thương mại với doanh nghiệp (ví dụ như khoản tiền phạt
vi phạm, bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp có hành vi vi phạm hợp đồng
gây thiệt hại cho tổ chức hoặc cá nhân...).
* Căn cứ vào tiến trình giải quyết phá sản doanh nghiệp :
Nếu xét theo tiến trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, cụ thể lấy dấu
mốc là thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản đối với
doanh nghiệp thì có thể chia chủ nợ ra làm 2 loại : chủ nợ cũ và chủ nợ mới :
+ Chủ nợ cũ là những chủ nợ tồn tại trước thời điểm Tòa án ra quyết định
mở thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp. Đây là những chủ nợ thực
hiện việc gửi giấy đòi nợ trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo
về quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án và Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ
lập danh sách chủ nợ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi
18
nợ - Căn cứ theo Điều 42, Điều 43 LPS 2014. Hay nói cách khác, chủ nợ cũ
chính là những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ do Quản lý doanh nghiệp
và thanh lý tài sản lập sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.
+ Chủ nợ mới là những chủ nợ phát sinh sau khi Tòa án ra quyết định mở
thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Bởi căn cứ theo Điều 47 LPS 2014
thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ
tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát,
kiểm tra của thẩm phán và Quản tài viên,Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Như