Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Trần Thị Thu Trang
Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết
Phá sản doanh nghiệp ở việt nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ Hà Nội - 2009
Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật Trần Thị Thu Trang
Trần Thị Thu Trang
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN DOANH
NGHIỆP VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1. Khái niệm về phá sản và thủ tục giải quyết phá sản 9
1.1.1. Khái niệm phá sản 10
1.1.2. Thủ tục giải quyết phá sản 14
1.2. Thủ tục giải quyết phá sản của một số nước trên thế giới 20
1.2.1. Một vài nét chung về phá sản và pháp luật phá sản của các nước
trên thế giới 20
1.2.2. Thủ tục giải quyết phá sản của một số nước trên thế giới 23
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 32
2.1. Pháp luật về mở thủ tục phá sản 32
2.1.1. Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta từ những năm 1980 trở về trước nền kinh tế còn mang nặng
tính hành chính, bao cấp. Với Đại hội Đảng VI (năm 1986), công cuộc đổi
mới của đất nước đã được khởi xướng. Nền kinh tế của nước ta đã có sự tăng
trưởng vượt bậc do được xây dựng và hoạt động trên quan điểm mới - quan
điểm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đã góp phần
tạo cho nền kinh tế nước ta cơ hội mới để phát triển toàn diện đồng thời cũng
đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi nước ta phải tiếp tục hoàn thiện môi
trường kinh doanh, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo được môi trường
kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, an toàn cho nhà đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp khác nhau
thuộc mọi thành phần kinh tế đều được Nhà nước khuyến khích thành lập và
tạo điều kiện hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ
pháp luật. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà bên cạnh những
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội thì còn có
một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp đã và đang làm ăn thua lỗ, mất
khả năng thanh toán. Vì vậy có thể nói, phá sản là một thuộc tính của nền
kinh tế thị trường. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản của các doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bảo vệ lợi ích của chủ nợ, con nợ và của
Nhà nước nói chung, Nhà nước nào cũng phải ban hành Luật Phá sản. Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993 của nước ta được ban hành là nhằm đảm bảo
3
đầu mối quản lý, giảm thủ tục hành chính, Luật Phá sản năm 2004 đã quy
định thành lập một Tổ là Tổ quản lý và thanh lý tài sản do một Chấp hành
viên của Cơ quan thi hành án cùng cấp làm tổ trưởng. Tuy nhiên, trên thực tế,
hoạt động của Tổ quản lý và thanh lý tài sản đã không đạt hiệu quả do nhiều
quy định về nó chưa hợp lý, chưa khoa học, không phù hợp với điều kiện cụ
thể của nước ta hiện nay.
- Thứ tư, theo quy định của Luật Phá sản năm 2004, người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp được uỷ quyền cho người khác đề nghị Toà án
mở thủ tục phá sản với chính doanh nghiệp mình và tham gia toàn bộ quá
trình giải quyết của Toà án. Tuy nhiên, do Luật không quy định cụ thể điều
kiện của người được uỷ quyền nên trên thực tế có nhiều người nhận uỷ quyền
của các doanh nghiệp nhưng lại không nắm được tình hình công nợ, tình hình
tài sản của doanh nghiệp nên đã kê khai không đúng với Tổ quản lý, thanh lý
tài sản. Việc thiếu những quy định chặt chẽ về trách nhiệm của các doanh
nghiệp cũng như của Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã dẫn đến nhiều khoản nợ
phải thu của doanh nghiệp phá sản đã không được thu hồi kịp thời trước khi
tuyên bố phá sản, làm cho việc thụ lý giải quyết vụ án phá sản bị kéo dài.
Từ những ví dụ nêu trên, cùng với nhiều hạn chế có tính thủ tục khác
đã làm giảm hiệu lực của Luật Phá sản năm 2004 trong cuộc sống. Để góp
phần nâng cao hơn nữa hiệu lực và hiệu quả của Luật này, Tôi chọn đề tài:
“Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật tại Đại học Quốc gia Hà
Nội.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề phá sản có thể nói không còn là vấn đề hoàn toàn mới mẻ ở
Việt Nam. Xung quanh vấn đề này, đã có nhiều công trình nghiên cứu do các
nhà khoa học pháp lý, người làm công tác thực tiễn của Việt Nam thực hiện.
4
Các công trình nghiên cứu về pháp luật phá sản được thực hiện dưới nhiều
tại khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008. Đây là một công trình
nghiên cứu rất chuyên sâu về các hạn chế, yếu kém trong các quy định của
pháp luật có liên quan đến công tác quản lý và thanh lý tài sản phá sản và Tổ
quản lý, thanh lý tài sản. Như vậy, các nội dung khác của Luật Phá sản chưa
được đề cập đến trong luận án này;
- Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “ Thực trạng pháp luật về phá
sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ
Tư pháp bảo vệ năm 2009…
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đăng trên các tạp
chí, các báo cáo chuyên đề, hội thảo chuyên đề về phá sản và pháp luật về phá
sản như:
- “Về thực trạng pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay” của TS. Dương
Đăng Huệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/2003;
- “Tài sản phá sản và phân chia tài sản của con nợ bị phá sản” của Hà
Thị Thanh Bình, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 5/2003;
- “Phá sản doanh nghiệp- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Nguyễn Tấn Hơn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2005;
- Đặc san chuyên đề về Luật phá sản của Tạp chí Toà án nhân dân,
tháng 8-2004;
- Báo cáo rà soát, đánh giá thực tiễn thi hành Luật phá sản năm 2004,
Bộ Tư pháp, năm 2008…
Tuy nhiên, qua nghiên cứu tôi thấy, vấn đề về hoàn thiện pháp luật về
thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được
6
nhiều nhà khoa học và những người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên
cứu một cách toàn diện, sâu sắc. Vì vậy, trong bối cảnh khi mà pháp luật Việt
Nam về vấn đề này còn nhiều hạn chế thì việc nghiên cứu đề tài này là rất cần
thiết và bổ ích.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật phá sản, cần nghiên
của các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Cụ thể, luận văn có những
đóng góp mới sau đây:
Một là, nghiên cứu, phân tích các quy định của thủ tục giải quyết phá
sản theo quy định của Luật Phá sản năm 2004, so sánh, phân tích thủ tục giải
quyết phá sản theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và Luật Phá sản năm
2004.
Hai là, nhận diện và trình bày những quy định chung về thủ tục giải
quyết phá sản của một số nước trên thế giới .
Ba là, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản
doanh nghiệp trong thời gian qua. Thông qua đó, xác định những vướng mắc,
khó khăn của việc áp dụng các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết
phá sản doanh nghiệp.
Bốn là, kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ
tục giải quyết phá sản doanh nghiệp nhằm xây dựng các quy định phù hợp, có
hiệu quả cho việc giải quyết phá sản doanh nghiệp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc
làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết phá sản
doanh nghiệp. Những kiến nghị từ kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp
8
phần trực tiếp vào việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết
phá sản doanh nghiệp trong thời gian tới.
7. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phá sản doanh nghiệp và thủ tục giải
quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản
10
thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và con nợ đã cùng nhau tìm ra
những phương thức giải quyết. Tuy nhiên, các phương thức giải quyết tự phát
đôi khi không đạt được hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định
của pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng
phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, con nợ và người
lao động.
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường
mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh
doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng
thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của
tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã
hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định
nào đó. Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng
những thuộc tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ
xã hội trong điều kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc
chung… nhằm tác động một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể
quan hệ phá sản, giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản
chất vốn có của nó.
Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị
trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện
tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những
mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước có thể can thiệp
vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp với một cách nhìn
hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.
1.1.1. Khái niệm phá sản
11
a) Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá
sản doanh nghiệp năm 1993
không phân biệt nợ dân sự hay là nợ thương mại (chẳng hạn Hoa Kỳ,
Nhật…). Một số nước lại chỉ xem thương nhân với các khoản nợ thương mại
mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản (chẳng hạn là pháp luật của Nga
trước khi ban hành Luật mất khả năng thanh toán năm 2002). Một số nước lại
quy định chỉ doanh nghiệp mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản. Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993 của Việt Nam đã quy định theo hướng này.
b) Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá
sản năm 2004
Luật Phá sản năm 2004 ra đời là một cố gắng mới của các nhà lập pháp
nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với hiện tượng
phá sản bằng việc khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993 và bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực
tiễn 9 năm áp dụng Luật này, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa
chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới của
đất nước. Trong số các điểm mới đó có khái niệm mới về tình trạng phá sản.
Khái niệm tình trạng phá sản là khái niệm có ý nghĩa quan trọng của
pháp luật phá sản. Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của
mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay
muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn:
chủ nợ hay con nợ.
Trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 khái niệm này dường như
được xây dựng trên cơ sở kết hợp tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính.
Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu
13
tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi
nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động. Tính
định tính thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi
cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để
Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ
kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán
xung đột mà thực chất là sự không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ
nghĩa vụ của một bên đương nhiên ảnh hưởng đến lợi ích của bên đối tác. Để
có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, chủ nợ buộc phải yêu cầu Toà án mở
thủ tục phá sản đối với con nợ với mục đích thu hồi nợ. Khi có yêu cầu mở
thủ tục phá sản, Toà án phải xem xét yêu cầu đó có chính đáng hay không.
Nếu xác định con nợ đã mất khả năng thanh toán thì tuỳ từng trường hợp cụ
thể Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định áp dụng thủ tục
phù hợp là thủ tục phục hồi hoặc thủ tục thanh toán hay thủ tục tuyên bố con
nợ bị phá sản. Tại hội nghị chủ nợ các bên có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh của con nợ thì đó cũng là một
hình thức hoà giải để giải quyết xung đột pháp lý giữa các bên. Như vậy, xét
về mặt đối tượng của hoạt động thì thủ tục giải quyết phá sản cũng là một thủ
tục tư pháp vì đối tượng của nó là các quan hệ pháp lý phát sinh giữa bên có
quyền và bên có nghĩa vụ, giữa bên là chủ nợ và bên kia là con nợ. Tóm lại,
xét về bản chất thì thủ tục giải quyết phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt,
do Toà án tiến hành nhằm giúp chủ nợ và con nợ giải quyết các tranh chấp có
tính chất tài sản giữa họ với nhau [16, 96-97].
b) Cấu trúc của thủ tục giải quyết phá sản
15
Một trong những dấu hiệu đặc biệt chính là cấu trúc đặc thù của thủ tục
giải quyết phá sản. Nếu như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự là một quá trình
hoạt động của Tòa án và những người tham gia tố tụng, hình thành từ những
giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn sau, giai
đoạn sau kiểm tra tính hợp pháp, khắc phục những thiếu sót của giai đoạn
trước thì thủ tục phá sản là một quá trình hoạt động có cấu trúc hoàn toàn
khác. Theo Điều 5 Luật Phá sản năm 2004 thì thủ tục giải quyết phá sản là
một thủ tục lớn bao gồm nhiều thủ tục cấu thành (thủ tục nhỏ) và giữa những
thủ tục cấu thành đó có mối liên hệ với nhau theo những nguyên tắc khác
nhau [4, Điều 5]. Tính thứ tự, nối tiếp nhau không phải là yếu tố bắt buộc
giữa các thủ tục cấu thành. Đây là bước phát triển về lý luận của pháp luật
+ Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn phá sản và thanh lý tài sản của doanh
nghiệp [14, T6 ].
Cách tiếp cận thủ tục phá sản như là hoạt động bao gồm nhiều giai
đoạn nối tiếp nhau như trên vừa không phù hợp về lý luận, vừa không phù
hợp với thực tiễn. Mỗi giai đoạn trong tố tụng tư pháp có nhiệm vụ riêng của
mình nhưng việc giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn trước luôn là tiền đề cho
việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn tiếp theo và xét cho cùng là thực hiện
nhiệm vụ chung của toàn bộ tiến trình tố tụng. Ví dụ trong tố tụng hình sự,
giai đoạn điều tra có nhiệm vụ khác với nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ
thẩm. Đó là nhiệm vụ phát hiện nhanh chóng kịp thời tội phạm và kẻ phạm
tội, thu thập đầy đủ các chứng cứ về các tình tiết sự kiện của vụ án. Thực hiện
nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn
xét xử sơ thẩm là xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội.
17
Không giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn điều tra thì không thể giải quyết
nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm và đồng thời cũng không thực hiện
được nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự.
Trong thủ tục giải quyết phá sản, nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có
tính độc lập với nhau rất lớn. Thực hiện nhiệm vụ của thủ tục này không phải
lúc nào cũng là tiền đề để thực hiện nhiệm vụ của thủ tục kia. Ví dụ như
nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
hẳn với nhiệm vụ của thủ tục thanh lý tài sản và thực hiện nhiệm vụ của thủ
tục phục hồi không phải là tiền đề cho thủ tục thanh lý tài sản mà có thể loại
trừ sự cần thiết của chính thủ tục thanh lý tài sản doanh nghiệp…
Điểm tiến bộ được ghi nhận trong Luật Phá sản năm 2004 chính là
những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ
tục giải quyết phá sản. Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Tòa án
có thể quyết định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn
yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 Luật Phá sản năm 2004) hoặc sau
Trong thủ tục phá sản, Tòa án thường phải đưa ra những quyết định
pháp lý đặc biệt như quyết định áp dụng thủ tục thanh lý để từ đó bán toàn bộ
tài sản của doanh nghiệp thanh toán cho các chủ nợ. Như vậy, hậu quả của thủ
tục giải quyết phá sản thường là sự chấm dứt hoạt động của một doanh
nghiệp. Đặc điểm này khác với tố tụng dân sự hoặc kinh tế bởi vì trong tố
tụng dân sự hoặc kinh tế, sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì
con nợ có nghĩa vụ phải chấp hành, nhưng sau khi trả nợ xong thì con nợ vẫn
tồn tại và hoạt động một cách bình thường.
19
Thứ tư, thủ tục giải quyết phá sản không chỉ là thủ tục đòi nợ mà còn là
thủ tục có khả năng giúp phục hồi hoạt động của doanh nghiệp
Trong thủ tục phá sản con nợ được Tòa án tạo điều kiện tối đa trong
việc phục hồi hoạt động kinh doanh. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi
việc một doanh nghiệp bị phá sản sẽ không chỉ gây ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích của bản thân chủ doanh nghiệp đó mà còn ảnh hưởng đến xã hội, khiến
người lao động bị mất việc làm. Đối với các chủ nợ, trong trường hợp con nợ
gặp khó khăn, việc thanh lý ngay con nợ để nhận nợ không phải bao giờ cũng
là giải pháp tối ưu cho họ vì không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng
phá sản cũng còn đủ tài sản để thanh toán hết các món nợ của mình. Vì vậy,
pháp luật cho phép con nợ được chủ động xây dựng phương án hòa giải và
giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Thứ năm, thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp
Thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý rất phức tạp. Tính phức tạp thể
hiện ở chỗ, khi giải quyết việc phá sản, Toà án phải thụ lý và giải quyết nhiều
công việc khác nhau về tính chất như giải quyết các vấn đề về việc doanh
nghiệp có mất khả năng thanh toán nợ hay không, giải quyết việc phục hồi
hoạt động của doanh nghiệp, việc quản lý tài sản của doanh nghiệp con nợ.
Thứ sáu, thủ tục phá sản là thủ tục bao gồm các thủ tục ( thủ tục con)
tồn tại độc lập với nhau, không làm tiền đề cho nhau mặc dù có mối quan hệ
nhất định với nhau.
chất gồm có hai thủ tục chính: Thủ tục thanh toán (phá sản, thanh toán, thanh
lý tài sản và các khoản nợ), thủ tục phục hồi (cam kết, thỏa thuận, tổ chức
lại…).
* Thủ tục thanh toán: