LỜI CẢM ƠN
Đe hoàn thành luận vãn tốt nghiệp không phải là một việc
đơn giản như nhiều người đã nghĩ. Trong quá trình thực hiện
luận vãn của mình, người viết đã gặp rất nhiều khó khăn về
nguồn tài liệu nghiên cứu cũng như một số vấn đề pháp lý liên
LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
quan. Tuy nhiên với sự hướng dẫn tận tình của giảng viên hướng
Niên khóa 2008 2012
dẫn về nguồn tài liệu, gợi ý các câu hỏi mở, trao đổi và hướng
dẫn khi có sai sót, nên người viết đã hoàn thành luận vãn của
I PHÁP
LUẬT
QUẢN
LÝ NHẬP
KHẲU
RÁC
I
mình. Trong
suốt
thờiVÈ
gian
làm luận
văn, đó
là một
khoảng
thời
gian dài để
ngườiĐIỆN
viết TỬ
có thể
tự nghiên
Và đặc biệt người
viết
xinthực
chânhiện:
thành cảm ơn
Sinh
viên
giảng
HÀ CẨM TÚ
viên hướng dẫn của mình, vì đã tậnMSSV:
tình hướng
dẫn, giúp đỡ,
5086089
điều chỉnh những sai sót trong quá trình người
viết làm
luận vãn
Lóp: Luật
Thương
Mại 2 - K34
s_____________g
Cần Thơ, tháng 04 / 2012
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
— ^oQo^ —
Cân Thơ, ngày ... tháng ... năm
1.4 Những lợi ích từ rác thải điện tử----------------------------------------------------------10
1.5 Ảnh hường của các chất độc hại có trong rác thải điện tử đối vói môi
trường và sức khỏe của con người...................................................................................13
1.5.1 Suy thoái chất luợng môi truờng-------------------------------------------------------13
2.1.2
Trách nhiệm quản lý của tổ chức, cá nhân sản xuất; nhập
khẩu và kinh
doanh sản phẩm điện tử----------------------------------------------------------------------------19
2.2 Quản lý của nhà nước về việc thu hồi, xử lý sản phẩm điện tử--------------------21
2.2.1 Quy định về quản lý các hoạt động thu hồi, xử lý sản phẩm điện tử--------------21
2.2.2 Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc thu hồi, xử lý sản phẩm
điện tử-------------------------------------------------------------------------------------------------22
2.3 Đổi tượng và điều kiện kỉnh doanh nhập khẩu rác thải điện tử-------------------27
2.4 Trách nhiệm pháp lý đốỉ vói tồ chức, cá nhân có hành vi phạm pháp luật
trong hoạt động nhập khẩu và thu gom, xử lý rác điện tử...........................................28
2.4.1 Trách nhiệm hành chính-----------------------------------------------------------------29
2.4.2 Trách nhiệm hình sự---------------------------------------------------------------------34
CHƯƠNG 3: THựC TRẠNG RÁC THẢI ĐIỆN TỬ VÀ GIẢI PHÁP TRONG
VIỆC QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐIỆN TỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY-----------------------35
3.1 Giói thiệu sơ lược thực trạng rác thải điện tử trên thế giói-------------------------35
3.2 Thực trạng việc thu gom, tái chế và xử lý rác thải điện tử ở nước ta hiện
thải điện tử ở Việt Nam hiện nay” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường của rác thải điện tử là một vấn đề không mới, để giải
quyết vấn đề này cần có nhiều biện pháp hơn nữa và phải được thực hiện một
cách đồng bộ với nhau. Một ừong những biện pháp nói trên là công cụ pháp lý
nhưng trên thực tế thì hiệu quả từ việc thực hiện các văn bản pháp luật trong
quản lý rác thải điện tử trong nước cũng như từ nhập khẩu vẫn chưa cao. Do đó,
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 1
SVTH: Hà cẩm Tú
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
việc nghiên cứu khả năng áp dụng và những bất cập trang khi áp dụng các văn
bản pháp luật nói trên là việc rất cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận vãn là làm rõ thực trạng quản lý rác thải điện
tử ở nước ta mà chủ yếu là từ nhập khẩu. Để từ đó có thể nhận thấy được sự quan
tâm của nhà nước trong ừong tác quản lý ban hành các chính sách và pháp luật
nhằm nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp cũng như nhận thức của người
dân. Tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu của mình sẽ góp phàn nhỏ vào việc
nâng cao hiệu quả nhận thức về việc bảo vệ môi trường. Từ đó đề ra các giải
pháp một cách hợp lý nhằm tăng khả năng quản lý nhằm phục vụ cho công tác
xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này người viết tập trung vào nghiên cứu về rác thải điện tử, ảnh hưởng
của rác thải điện tử đối với môi trường, những bất cập trong trách nhiệm quản lý
việc nhập khẩu rác thải điện tử trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật có liên
1.1 Giói thiệu chung về rác thải điện tử
1.1.1 Định nghĩa về rác thải điện tử
Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác nào về rác thải điện tử do
tính đa dạng và phức tạp của các sản phầm điện tử. Mỗi quốc gia có định nghĩa
và giải thích riêng về chất thải điện tử. Theo OECD (tổ chức họp tác và phát triển
kinh tế) thì tất cả các thiết bị sử dụng năng lượng điện để vận hành khi đã hết khả
năng sử dụng đều được coi là chất thải điện tử (E-Waste).
Một cách tống quát: rác thải điện tử (RTĐT) bao gồm toàn bộ các thiết bị,
dụng cụ, máy móc điện, điện tử cũ, hỏng, loi thời không được sử dụng nữa cũng
như các phế liệu, phếphấm thải ra trong quá trình sản xuất, lắp ráp và tiêu thụ
các sản phẩm điện tủ1.
1.1.2 Thành phần vật chất của rác thải điện tử
Rác thải điện tử là một loại chất thải rắn không đồng nhất và phức họp về vật
chất và thành phàn. Đe phát triển hệ thống tái chế thân thiện môi trường và có
hiệu quả điều quan trọng là phân loại và nhận dạng vật liệu có giá trị, các chất
nguy hại tiếp theo là các đặc trưng vật lý của rác thải điện tử. Rác thải điện tử
chứa rất nhiều chất khác nhau ừong đó có nhiều chất độc hại chủ yếu như : chì,
thuỷ ngân, asen, cadmium, selennium, chất chống cháy có khả năng tạo ra dioxin
Đỗ Quang Trung (chủ trì), Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện đề tài
xây
dựng
giải
pháp
về
quản
lý
và
tái sử dụng chất thải điện tử (E-Waste) ở Việt Nam giai đoạn 20062010,
mã
người và môi trường vì chúng có độc tính, độc hại sinh thái, dễ cháy nổ, ăn mòn
hoặc gây nhiễm trùng
Rác thải điện tử gồm rất nhiều thành phần có kích cỡ và hình dạng khác riêng
nhau, trong đó có một số thành phần có chứa các chất nguy hại cần được xử lý.
Ngoài ra, chúng còn chứa rất nhiều các kim loại nặng hoặc những hợp chất độc
hại ảnh hưởng trực tiếp đối với con người và môi trường sống. Rác thải điện tử
làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước, gây ra các căn bệnh
nguy hiểm. Chất độc được thải ra hầu như là những chất liệu không thể cháy
được và các kim loại nặng có thể là mối nguy cơ đối với sức khỏe của công nhân
sản xuất thiết bị và những người sinh sống gần các “núi rác”. Trong bộ phận ngắt
mạch của các tấm bản mạch, đèn hình màn hình LCD có chứa một lượng thuỷ
ngân. Khi thuỷ ngân nhiễm vào cơ thể ở mức cao có thể tác động vào não, thận ,
gây ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính.
2
Hoàng Nhâm, Hóa học vô cơ, tập 3, nhà xuât bản giáo dục 2005
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 4
SVTH: Hà cẩm Tú
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
Chì thường được tìm thấy trong những linh kiện điện và điện tử, được sử
dụng với lượng rất nhỏ, dưới dạng hợp kim Pb-Sn, thành phần liên kết các linh
kiện điện tử. Hợp kim Pb-Sn được sử dụng trong hầu hết các thiết bị điện và điện
tử. Chì có thể được lấy lại từ chất thải hợp kim, nhưng tái sinh hợp kim Pb-Sn có
thế cực kì nguy hiếm bởi vì giải phóng dioxin, Be, As, isocyanat và chì cũng
giống vậy. Một lượng nhỏ những hợp chất chì được sử dụng trong một vài phần
làm bằng nhựa để bọc kim loại làm dây dẫn trong các thiết bị điện tử thường
3Xem Điều 28 Luật Thuơng Mại 2005
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
1.2 Hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tạm nhập tái xuất
* Hoạt động xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là một hoạt động mua bán hàng hóa với nước ngoài nhằm
phát triển sản xuất kinh doanh trong nước, thúc đẩy hoạt động sản xuất hàng hóa
phát triển, làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo sự ổn định và từng bước nâng cáo
mức sống của người dân. Song việc mua bán hàng hóa ở đây có những nét riêng
so với hoạt động mua bán trong nước như giao dịch với người có quốc tịch khác
nhau, thị trường rộng lớn hơn, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, hàng
hóa được vận chuyển qua biên giới cửa khẩu các quốc gia khác nhau nên sẽ khó
kiểm soát. Bên cạnh đó thì hoạt động xuất nhập khẩu là một hoạt động dễ đem lại
hiệu quả kinh tế cao cũng đi kèm với nó cũng có thể gây ô nhiễm môi trường
Nhập khẩu là một hoạt động của thương mại quốc tế, nhập khẩu sẽ tác động
một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất trong nước. Nhập khẩu là để tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các
loại hàng hóa cho tiêu dùng mà các nhà sản xuất trong nước không sản xuất được
hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng được nhu cầu. Việc nhập khẩu thiết bị máy
móc và nhận chuyển giao công nghệ, kể cả thiết bị theo con đường đầu tư hay
viện trợ đều phải được chọn lọc, tránh nhập những công nghệ lạc hậu các nước
phát triển tìm cách thải ra. Nhất thiết không vì mục tiêu “tiết kiệm” mà nhập các
thiết bị cũ, các thiết bị đã qua sử dụng vào trong nước vì các thiết bị này thường
không đảm bảo chất lượng và ít nhiều gây ô nhiễm môi trường.
Xuất nhập khẩu hàng hóa theo Luật Thương Mại 2005 là việc hàng hóa
được đưa ra khỏi lãnh thổ nước ta mà ở đây theo quy định của pháp luật coi là
khu vực hải quan riêng; Nhập khẩu thì là một hoạt động ngược lại với xuất khẩu
đó là việc hàng hóa từ nước ngoài sẽ được đưa vào lãnh thổ nước ta hoặc là từ
khu vực đặc biệt nằm ở trong nước3.
* Hoạt động tạm nhập tái xuất
liệu điện tử - bán dẫn cũng sẽ ra đời. Bước đầu công nghiệp điện tử ở Việt Nam
cùng với các ngành khác như bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin đã mang
lại bộ mặt mới trong đời sống sinh hoạt xã hội, góp phần đáng kể vào thu nhập
quốc dân. Tuy nhiên, đồng hành với sự phát triển công nghiệp điện tử là sự phát
sinh một lượng không nhỏ chất rác điện tử.
Tại Hội thảo "Quản lý hoá chất và cách thức tuân thủ các quy định quốc tế”
vào ngày 08/12/2011 tại Hà Nội cho thấy sự gia tăng số lượng rác thải điện tử tại
Việt Nam thật sự đã đến mức báo động. Nguồn thải của rác điện tử đến từ 3
nguồn chủ yếu: Doanh nghiệp điện tử tại Việt Nam; nhập từ nước ngoài về để tái
chế và do người dân sử dụng các sản phẩm điện tử thải ra. Nhưng đến nay nhìn
chung nước ta vẫn chưa có nhà máy xử lý loại rác thải đặc biệt này.
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 7
SVTH: Hà cẩm Tú
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Nguồn phát sinh rác điện tử từ các doanh nghiệp sản xuất điện tử
trong nước
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) cho biết: “Năm 2011,
Việt Nam có khoảng 400 doanh nghiệp, trong đó hơn 100 doanh nghiệp nước
ngoài, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực lắp ráp điện tử với những linh kiện nhập
về từ nước ngoài. Nguyên nhân là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa cung cấp
được các chi tiết điện tử đặc thù cho ngành công nghiệp điện tử. Nguồn cung cấp
linh kiện điện tử và các sản phẩm phụ trợ cho công nghiệp điện tử chủ yếu là từ
nhập khẩu và mới chỉ được sản xuất ở Việt Nam trong mấy năm gần đây. Điều
này chứng tỏ tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử rất thấp, bình quân 13%, chủ
Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam tạo ra lượng chất thải công nghiệp điện tử
khoảng 254 tấn/nãm (bằng 15,6% tổng lượng chất thải trên toàn quốc). Trong đó
93,4% lượng chất thải này tập trung tại tỉnh Đồng Nai (chiếm khoảng 237,33
tấn/năm); 4,9% tại TP Hồ Chí Minh (12,5 tấn/năm); còn lại tập trung tại Bình
Dương và Long An5. Các chuyên gia dự báo khối lượng chất thải công nghiệp
điện tử trong vùng này sẽ tăng 10-15%/năm do chính sách thu hút đầu tư đã làm
gia tăng sản xuất của các ngành hàng tiêu dùng và thiết bị điện tử gia đình.
Bên cạnh chất thải rắn, quá trình chế tạo sản phẩm điện tử còn phát sinh các
chất thải khác như họp chất hữu cơ, nước thải, bùn cặn...Tuy nhiên, nguồn rác
thải điện tử sinh ra từ nguồn này chưa quá lớn, mà chủ yếu từ hai nguồn còn lại.
1.3.2 Nguồn phát sinh rác điện tử từ việc nhập khẩu để tái chế
Những số liệu thống kê từ các nhà sản xuất các thiết bị điện tử trong nước cho
thấy hiện đang có những đợt nhập khẩu các thiết bị điện tử đã qua sử dụng khá ồ
ạt. Theo ước tính, mỗi tháng có thể có từ 40-60 Container trong đó phàn lớn là
các loại màn hình và máy tính đã qua sử dụng với đủ các nhãn hiệu được nhập
vào và được bán nhiều trên thị trường. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.216
công ty trong nước và 187 công ty có vốn nước ngoài sản xuất phần cứng. Các
công ty trong nước chiếm 75% thị trường máy tính cả nước, 80% kim ngạch
nhập khẩu linh kiện máy tính theo đường chính ngạch6 .
Tuy nhiên, với số lượng thiết bị điện tử trong đó các sản phẩm công nghệ
thông tin đã qua sử dụng được nhập về hằng năm là không thể thống kê được
nhưng chắc chắn là một con số rất lớn.
Các thiết bị này khi nhập về Việt Nam thường là những công nghệ đã quá cũ
hoặc đã qua sử dụng từ một đến vài năm được thu hồi từ các công sở, trường học,
thậm chí cả bãi rác, cũng có thể là những hàng bị lỗi trong quá trình sản xuất của
các công ty nước ngoài mà đáng lẽ ra nó phải được hủy bỏ. Tuy nhiên, những sản
phẩm này được “tút” mới lại và được đóng thùng tại Việt Nam. Chúng thường
http://www.vea.
gov.vn/VN/truyenthong/tapchimt/gpcnx42009/Pages/Ch%El%BA
%A5tth%El%BA%A
thu mua ve chai bây giờ còn mua cả máy tính, ti-vi, tủ lạnh... chứ không chỉ mua
giấy vụn, sách báo cũ... Vì các thiết bị điện tử này thường bán lại sẽ có nhiều lãi
hơn, bình quân một chiếc tivi hay màn hình máy vi tính có giá khoảng 50.000 100.000 đồng.
Nguồn phát sinh ra rác thải điện tử rất đa dạng từ việc các doanh nghiệp sản
xuất nhập khẩu về để nhằm tận dụng các linh kiện còn sử dụng lại được hoặc một
số linh kiện có giá trị cao có trong các thiết bị điện tử cho tới ý thức của người
dân trong việc xử lý các sản phẩm điện tử đã không còn sử dụng được. Từ đó, đã
dần đến nguồn rác thải điện tử ở nước ta ngày càng tăng lên một cách nhanh
chóng.
1.4 Những lọi ích từ rác thải điện tử
Ngoài những tác động xấu gây ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe của con
người từ những chất độc hại có trong rác điện tử. Tuy nhiên, trong rác điện tử
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 10
SVTH: Hà cẩm Tú
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
nhập khẩu cũng có hai lợi ích sau: Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện
nay, các thiết bị điện tử dân dụng sẽ nhanh chóng bị lỗi mốt và sẽ được bán với
giá rất rẻ, đồng thời các thiết bị đã qua sử dụng cũng đáp ứng được nhu cầu rất đa
dạng của người tiêu dùng trong nước nhất là những người có thu nhập thấp. Vì
hầu hết các thiết bị này khi được nhập về nó sẽ được tân trang lại, dán nhãn mới,
giá cả cũng sẽ rẻ hơn rất nhiều và một điều nữa là các sản phẩm này sẽ không
được bảo hành. Đồng thời ừong các doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng có
thể tận dụng được các linh kiện còn có thể sử dụng được trong điều kiện ngành
công nghiệp sản xuất trong nước vẫn chưa thể đáp ứng được, trong rác điện tử có
chứa rất nhiều các kim loại quý đặc biệt là vàng và các vật liệu polymer có giá trị
phát triển nhanh các ngành công nghệ cao trong thời gian tới, bao gồm các lĩnh
vực điện, điện lạnh, điện tử và các ngành sản xuất công nghệ cao khác. Trên thực
tế, từ trước thời kinh tế khủng hoảng năm 2008, nhiều dự án đã phải đình trệ vì
thiếu những kim loại công nghệ như: lithium làm bình cho ngành xe điện,
gallium và indium cho các loại pin mặt ừời, neodymium mang từ tính vĩnh cửu
cao để sản xuất các động cơ điện nhỏ gọn nhưng cực mạnh và các tuốc-bin
phong điện cỡ lớn.
Ước tính mỗi năm có 40 triệu thiết bị điện tử trở thành rác thải và cùng với
chúng là một lượng lớn kim loại quý: trong 41 chiếc điện thoại di động có một
lượng vàng tương đương lượng vàng trong 1 tấn quặng vàng và cứ một tấn bo
mạch máy tính thu được 250 gram vàng, lợi gấp 50 làn việc khai mỏ8. Đe khai
thác được các kim loại quý này con người phải đào, thiết kế hầm lò ở độ sâu
hàng nghìn mét, phải phá ủi cả một quả núi hay sàng lọc, đãi cát cực kỳ vất vả
tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức để khai thác các kim loại quý từ các
quặng mỏ. Trong khi đó người ta có thế khai thác các kim loại quý hiếm này ít
vất vả tốn kém hơn nhiều đó là trong chất thải công nghiệp và thiết bị điện tử,
máy móc gia dụng, vấn đề ở đây là phải đầu tư đứng mức, đúng cách cho việc tái
chế rác điện tử, bởi trong các sản phẩm điện tử thường chứa rất nhiều các họp
chất độc hại cho môi trường và sức khỏe của con người.
Tỷ lệ tái chế thu hồi kim loại hiện nay rất thấp trong khi nhu cầu về kim loại
kỹ thuật cao, tức kim loại công nghệ ở nước ta bao gồm nhiều kim loại quý, tăng
lên rất nhanh trong các năm tới. Ba nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
- Nhiều hãng sản xuất chưa sẵn sàng cho một kế hoạch thu hồi (mua lại) sản
phẩm của họ bị thải bỏ đem đi tái chế.
- Các cơ quan Nhà Nước chưa có quy định rõ ràng về việc buôn bán và thu
hồi tái chế rác thải điện tử để làm tiền đề cho việc đầu tư cũng như khuyến khích
sử dụng kim loại tái chế thay vì khai mỏ.
g
Việt Phương: Núi vàng trong rác thải
không có ảnh hưởng gì tới môi trường. Nhưng khi được tiếp xúc trực tiếp với
không khí, độ ẩm, ánh sáng... hoặc một loạt các quá trình hóa học xảy ra sẽ tạo
thành các họp chất độc hại và có khả năng chuyển đổi sang các trạng thái khác
chứa các thành phần độc hại lớn hơn nên sẽ làm cho các chất độc hại này trở nên
dễ hòa tan trong nước, khuyếch tán vào trong không khí.
1.5.1 Suy thoái chất lượng môi trường
Tại các làng nghề thu gom tái chế thì rác thải điện tử được tái chế một cách
rất thô sơ thủ công, nước thải ra trong quá trình tái chế được thải trực tiếp xuống
9
.
,
Môi nguy hại từ chât thải răn
song/moi-nguv-tu-chat-thai-ran-lllien-tu
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 13
SVTH: Hà cẩm Tú
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
mương nước, ao, hồ ở xung quanh khu vực gần nơi tái chế nên sẽ gây ô nhiễm
môi trường rất nghiêm trọng.
Đối với một khối lượng lớn những chất thải độc hại từ rác thải điện tử sẽ gây
hại đến môi trường được nhìn nhận theo hai khía cạnh sau:
Một là ô nhiễm môi trường do chính rác thải điện tử gây ra khi bị phân rã và
bị biến đổi sau một thời gian tương tác với các thành phần khác trong môi
trường. Vì rác thải điện tử có chứa các chất tồn lưu, khó phân huỷ sinh học và
độc hại gồm các kim loại nặng như chì, niken, crôm, thuỷ ngân và các chất ô
nhiễm hữu cơ như polychlorinated biphenyls và các chất làm chậm cháy được bị
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
Không chỉ có vậy, những núi rác điện tử khi bị đốt để thiêu hủy, thường tác
động nguy hiểm đối với môi trường và con người. Các loại kim loại nặng khi bị
đốt cháy có thể gây ung thư. Nguồn đất và nước ở khu vực rác thải bị đốt cũng bị
nhiễm độc nghiêm trọng.
Theo báo cáo đánh giá môi trường tại các làng nghề tái chế, thu gom của Bộ
Tài nguyên - Môi trường năm 2008 thì tuổi thọ của người dân tại các làng nghề
bị ô nhiễm này thường giảm 10 tuổi so với tuổi thọ trung bình của cả nước và so
với các làng không làm nghề tuổi thọ này cũng thấp hom từ 5 -10 năm. Bên cạnh
đó tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là trẻ em, phụ nữ và nhóm người trong độ tuổi
lao động) đang có xu hướng tăng cao, họ thường mắc các bệnh ngoài da, tiêu
chảy, hô hấp và đau mắt tại các làng nghề cao hom rất nhiều làn so với làng
không làm nghề. Cụ thể, tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp: 50% - 40%; bệnh tiêu
chảy: 80% -10%; bệnh da liễu: 70% - 20%10.
Rất nhiều người dân trong các làng nghề thu gom, tái chế và chôn lấp rác thải
điện tử, trong số đó đặc biệt là có cả trẻ em và phụ nữ làm việc tại những cơ sở
thu gom, tái chế và chôn lấp rác thải điện tử với môi trường làm việc không bảo
đảm an toàn, không được trang bị các thiết bị bảo vệ lao động cần thiết. Kể cả
những người dân sống xung quanh những nơi thu gom, tái chế do môi trường bị
ô nhiễm từ nguồn nước, không khí, tiếng ồn tại các làng nghề cũng làm cho mọi
người phần lớn mắc phải bốn nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao là bệnh phổi; bệnh tiêu
hóa, mắt và phụ khoa; ung thư phổi và lao phổi
Do tại các làng nghề thường làm những công việc thu gom, phân loại và đập
vỡ các thiết bị, làm chảy các mối hàn chì để tháo rời các chip máy tính và đem
bán với số lao động chủ yếu là trẻ em và phụ nữ với nhiều công đoạn nguy hiểm
như: Chì được nung nóng trên chảo và lượng nhiệt cao sẽ làm bay hơi các kim
loại độc như chì, cadimi, thủy ngân.. .việc đó sẽ làm giải phóng chúng vào không
khí dưới dạng hơi sương rất độc hại. Vàng là một kim loại quý thường được sử
dụng nhiều trong các linh kiện điện tử vì vàng có những đặc tính quan trọng như
dẫn nhiệt, dẫn điện tốt và không bị ô xy hóa... người dân tại các làng nghề
Ớ nước ta hiện nay với tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, cùng với
đó là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho việc các sản phẩm điện tử đã
qua sử dụng được đưa vào trong nước ngày một nhiều và lại không được thu hồi,
xử lý tốt sẽ gây ảnh hường nghiêm trọng đối với môi trường đã và đang gia tăng
một cách nhanh chóng. Do đó việc cằn thiết hiện nay là sớm ban hành các chính
sách về thu hồi sản phẩm điện tử đã qua sử dụng. Cụ thể: Luật Bảo vệ môi
trường 2005 của Việt Nam ban hành tháng 12 năm 2005 dành riêng một điều
khoản (Điều 67) “quy định về việc thu hoi sản phấm đã hết hạn sử dụng hoặc
thải bỏ Theo đó, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm thu
hồi sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ do cơ sở mình cung cấp. Nghị định
số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi
trường đưa ra những quy định rõ hơn về việc cung cấp thông tin phục vụ quá
trình thu hồi xử lý sản phẩm sau khi hết hạn sử dụng, đồng thời quy định “Căn
cứ vào tình hình thực tế và nhu cầu bảo vệ môi trường trong từng thời kỳ, Bộ Tài
nguyên và Môi trường trình Thủ tướng Chỉnh phủ quy định việc thu hoi, xử ỉý
sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc đã qua sử dụng Bên cạnh đó, Nhà nước cũng
đã ban hành Thông tư số 30/2011/TT-BCT ngày 10/08/2011 “Quy định tạm thời
về giới hạn hàm lượng cho phép của một sổ hóa chất độc hại trong sản phẩm
điện, điện tủ”; Dự thảo Quyết định của Thủ tướng về “Quy định về thu hồi, xử lý
một so sản phấm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ ” quyết định này sẽ được áp dụng
đối với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu, cơ sở phân phối; người tiêu dùng cuối
cùng; cơ sở thu gom, xử lý, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cá nhân trong
nước và nước ngoài (gọi tắt là tổ chức, cá nhân) có liên quan đến sản phẩm điện
tử đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ thuộc Danh mục sản phẩm phải thu hồi, xử lý.
2.1 Quản lý nhà nước về sản phẩm điện tử
Lâu này, khi mua các sản phẩm điện tử người tiêu dùng thường chỉ chú ý đến
tính năng, chất lượng, giá cả, bảo hành, ít để ý rằng khi sử dụng các sản phẩm
GVHD: Võ Hoàng Yến
SVTH: Hà cẩm Tú
Trang 17
Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi chưa có một hướng dẫn rõ ràng về cách
thức phối họp với các cơ quan liên quan trong việc đo kiểm hàm lượng hóa chất,
thòfi gian tiến hành đo kiểm và tần suất đo. Thông tư này vẫn còn chưa có hướng
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 18
SVTH: Hà cẩm Tú
Pháp luật về quản lý nhập khẩu rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay
dẫn về xử phạt vi phạm nên việc thực hiện sẽ còn bị hạn chế phần nào khi các cơ
quan phát hiện vi phạm nhung không thể xử phạt được. Tuy nhiên, Thông tư này
lại không quy định rõ tại thời điểm đăng ký thủ tục hải quan thì doanh nghiệp
nhập khẩu sản phẩm điện tử có cần phải xuất trình những loài chứng từ gì cho cơ
quan Hải quan và do ai cấp đế chứng minh hàm lượng cho phép của các loại hóa
chất độc hại theo quy định tại Phụ lục 1 của thông tư 30/2011/TT-BCT
Tại Điều 9 hiệu lực thi hành, Thông tư có ghi “Thông tư này có hiệu lực thi
hành kế từ ngày 23 tháng 9 năm 2011 và được thực hiện cho đến khi có Quy
chuẩn kỹ thuật Quốc gia tương ứng thay thế” nhưng bên cạnh đó lại quy định
thêm “từ ngày 01 thảng 12 năm 2012, các sản phấm điện, điện tủ được sản xuất,
nhập khấu phải thực hiện việc công bố thông tin về giới hạn hàm lượng cho phép
của một sổ hóa chất độc hại theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư này”.
Neu theo quy định như trên sẽ gây khó khăn cho các Cục Hải quan quản lý hàng
nhập khẩu là các thiết bị điện tủ, do thời điểm công bố thông tin về hàm lượng
giới hạn một số chất độc hại có trong các sản phẩm điện tử là ngày 01 tháng 12
năm 2012 tức là rất lâu sau ngày Thông tư có hiệu lực. Chính vì thế sẽ tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu trì hoãn việc công bố thông tin do
thời gian bắt buộc phải công bố thông tin về giới hạn hàm lượng cho phép của
một số hỏa chất độc hại theo quy định của Thông tư 30/2011/TT-BCT không
chức, cá nhân hoặc thông tin trong tài liệu hướng dẫn sử dụng, có thể để dưới
dạng sách hướng dẫn sử dụng hoặc giấy tờ hướng dẫn đi kèm theo sản phẩm, in
trực tiếp lên sản phẩm hoặc bao bì... Hồ sơ quản lý hàm lượng hóa chất độc hại
trong sản phẩm điện, điện tử trước khi sản phẩm lưu thông trên thị trường Việt
Nam và phải xuất trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Điều này có nghĩa là
trong mọi trường họp, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh sản
phẩm điện, điện tử phải tự chịu ừách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của
thông tin công bố trên sản phẩm điện tử được đưa ra bán trên thị trường.
Các sản phẩm điện tử sẽ được quản lý gắt gao hơn thông qua việc kiểm định
các chất độc hại. Cục Hóa chất sẽ chủ trì phối họp với các cơ quan có liên quan
trong việc kiểm tra các sản phẩm không đảm bảo giới hạn hàm lượng cho phép,
chỉ định phòng thí nghiệm đã được công nhận phù họp với các yêu cầu của
ISO/IEC/17025 được phép thử nghiệm các chỉ tiêu. Cục Quản lý thị trường sẽ xử
lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Thông tư 43/2009/TT-BTTTT ban hành danh mục sản
phẩm công nghệ đã qua sử dụng cấm nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Thông tin và
Truyền thông ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2009 thì đối với các sản phẩm
điện tử đã qua sử dụng nếu được làm mới lại như: sản phẩm đã được sửa chữa,
thay thế linh kiện, phục hồi chức năng và hình thức tương đương với sản phẩm
mới cùng chủng loại thì trên bao bì và hên sản phẩm phải có dấu hiệu, nhãn hiệu
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 20
SVTH: Hà cẩm Tú