Cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay - Pdf 27

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH THANH MAI
cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ
giữa nhà nớc và cá nhân ở việt nam hiện nay
LUN N TIN S LUT HC
H NI - 2015
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH THANH MAI
cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ
giữa nhà nớc và cá nhân ở việt nam hiện nay
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 62 38 01 01
LUN N TIN S LUT HC
Ng i h ng d n khoa h c: GS. TS. Lấ MINH TM
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Thị Thanh Mai
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chng 1: T󰗕NG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C󰗩U LIÊN QUAN 󰖿N
C CH󰖿 ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC
VÀ CÁ NHÂN, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 8
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.3. Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 25
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI

CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐCPL : Điều chỉnh pháp luật
KTTT : Kinh tế thị trường
KTXH : Kinh tế - xã hội
MQH : Mối quan hệ
NNPQ : Nhà nước pháp quyền
Nxb : Nhà xuất bản
QCD : Quyền công dân
QCN : Quyền con người
QLNN : Quyền lực nhà nước
QPPL : Quy phạm pháp luật
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cá nhân và nhà nước là hai chủ thể đặc biệt có mối quan hệ chặt chẽ tương tác
và phụ thuộc lẫn nhau. Trong đó, nhà nước là thiết chế xã hội tổ chức thực hiện
quyền lực công, nhà nước nhân danh xã hội bảo vệ lợi ích chung và các giá trị khách
quan phổ biến của con người. Mối quan hệ (MQH) giữa nhà nước và cá nhân được
thể hiện chủ yếu dưới hình thức quan hệ pháp luật. Vì vậy, nghiên cứu về cơ chế điều
chỉnh pháp luật (ĐCPL) MQH giữa nhà nước và cá nhân là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình hoàn thiện nhà nước và pháp luật nói chung.
Ở Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, chủ trương xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và mở
rộng hợp tác quốc tế, đã mang lại những thay đổi quan trọng trong nhận thức chung
của xã hội về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân. Những thay đổi này được
thể hiện khá rõ nét trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Vấn đề con người và phát huy nguồn lực con người luôn được coi là trung tâm của
mọi đường lối, chủ trương, chính sách phát triển trong thời kỳ đổi mới. Điều đó mang
lại nhiều thay đổi đáng kể trong các phương tiện pháp luật cơ bản của cơ chế ĐCPL

dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tình trạng khiếu nại, tố cáo diễn
biến phức tạp, có nơi, có lúc đã trở thành những điểm nóng về xung đột giữa nhà
nước và nhân dân. Nhiều hành vi tham ô, tham nhũng xâm phạm QCN, QCD chưa
được áp dụng chế tài thoả đáng, còn có biểu hiện bao che, xử lý qua loa gây bất bình
trong dư luận, "Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực còn bị
vi phạm Tình trạng quan liêu không thực sự tôn trọng dân chủ và thực hành dân
chủ còn khá nặng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức" [29, tr.128]. Bên
cạnh đó, trong không ít trường hợp, tình trạng đòi tuyệt đối hóa vai trò của cá nhân,
đề cao tự do cá nhân vô chính phủ, coi nhẹ các giá trị xã hội cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến trật tự, kỷ cương xã hội.
Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế hiện nay mang lại nhiều cơ hội cho việc
hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, nhưng đồng thời, cũng đặt
ra nhiều thách thức của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá pháp lý, đòi hỏi chúng ta
phải nâng cao nhận thức về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân. Hơn nữa,
sau gần 30 năm đổi mới, khi các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội thay đổi,
3
cá nhân đã có những sự trưởng thành nhất định về năng lực làm chủ bản thân và xã
hội. Nhưng nhìn chung, nhận thức về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân
còn nhiều hạn chế, MQH giữa nhà nước và cá nhân chưa được nghiên cứu một cách
cơ bản và toàn diện. Từ đó, các giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập liên quan
đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân còn có biểu hiện lúng túng, bị
động, thiếu tính tổng thể, khách quan và khoa học.
Vì vậy, việc nghiên cứu về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ở
Việt Nam hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn. Đó
là lý do tác giả chọn nghiên cứu vấn đề "Cơ chế điề u chỉ nh pháp luậ t mố i quan hệ
giữ a nhà nư ớ c và cá nhân ở Việ t Nam hiệ n nay” làm Luận án Tiến sỹ Luật học
chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mụ c đích củ a luậ n án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

năm 2001), làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được thực hiện dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về nhà nước, pháp luật, xã hội, vấn đề con người, QCN, QCD.
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học
Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic, phương pháp thống kê - so sánh, Các phương pháp được sử dụng nhằm làm
rõ nội dung cơ bản của luận án, đảm bảo tính khoa học và lôgic giữa các vấn đề của
luận án trong các chương.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, được tác giả sử dụng trong chương 2,3,4
nhằm phân tích làm rõ các khái niệm cá nhân, MQH giữa nhà nước và cá nhân, cơ
chế DCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân; phân tích thực trạng cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân; phân tích các yêu cầu, quan điểm để đưa ra giải pháp về
hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay.
- Phương pháp hệ thống được tác giả sử dụng nhằm làm rõ tính hệ thống của
cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân về lý luận và thực tiễn, MQH giữa nhà
nước và cá nhân, tính thống nhất của cá nhân trong các tư cách khác nhau khi tham
gia vào các quan hệ xã hội.
5
- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng để thiết
lập MQH xuyên suốt chặt chẽ logic giữa các vấn đề và các chương trong luận án.
Theo đó, trong chương 2, trước khi nghiên cứu cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và
cá nhân, tác giả đã tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm cá nhân và MQH giữa nhà
nước và cá nhân. Đồng thời, nội dung các chương 2, 3, 4 có MQH xuyên suốt. Những
lý giải về mặt lý luận ở chương 2 là cơ sở đánh giá thực trạng quá trình phát triển và
thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, từ đó đưa ra các yêu cầu,
quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân
trong chương 4.

thuộc lẫn nhau giữa nhà nước và cá nhân, được xác lập chủ yếu dưới hình thức các
quan hệ pháp luật.
Xuất phát từ quan điểm, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân là một
dạng của cơ chế ĐCPL nói chung, nhưng do những đặc điểm riêng của MQH giữa
nhà nước và cá nhân, Luận án đã xây dựng khái niệm cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà
nước và cá nhân là hệ thống các phương tiện pháp luật có MQH mật thiết với nhau
trong một thể thống nhất, được vận hành theo những nguyên tắc, quá trình được
pháp luật quy định để điều chỉnh MQH giữa nhà nước và cá nhân với sự bảo đảm
của nhà nước nhằm đạt được những mục đích xác định và phân tích làm rõ những
đặc điểm riêng của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân.
. Luận án chỉ ra 4 tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân và 3 yếu tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến cơ chế
ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân.
- Luận án làm rõ quá trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước
và cá nhân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay và phân tích thực trạng cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những
tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của những kết quả, tồn tại trong cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân.
- Luận án phân tích các yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với việc
hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân. Trên cơ sở đó, chỉ ra
những quan điểm và giải pháp cơ bản hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước
và cá nhân.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án có đóng góp vào hệ thống kiến
thức lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
Luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu lý luận và
giảng dạy về nhà nước và pháp luật
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay.

các giá trị đặc trưng của NNPQ và NNPQ XHCN, các yêu cầu đặt ra trong quá trình
xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam. Điển hình là:
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [149] của Đào
Trí Úc, nghiên cứu về lịch sử tư tưởng NNPQ ở phương Đông và phương Tây. Từ đó,
làm rõ cơ sở lý luận về NNPQ XHCN Việt Nam, các vấn đề cần hoàn thiện trong xây
9
dựng NNPQ như dân chủ, nhân quyền, cải cách hành chính, tư pháp và tăng cường
pháp chế XHCN.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân [135] của Trần Hậu Thành, về lịch sử tư tưởng NNPQ trên thế
giới và thực tiễn NNPQ ở một số quốc gia trên thế giới. Từ đó, tác giả luận giải về cơ
sở lý luận và thực tiễn xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam
hiện nay nhằm giữ vững ổn định chính trị, mục tiêu của cách mạng XHCN.
- Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam [150] của Đào Trí Úc, nghiên cứu về quá trình phát triển và hoàn thiện tư
tưởng về NNPQ trên thế giới. Từ đó làm rõ những đặc trưng về NNPQ nói chung cũng
như NNPQ XHCN, đề xuất mô hình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam.
Bên cạnh đó là các nghiên cứu về các vấn đề cụ thể trong xây dựng NNPQ
XHCN Việt Nam. Trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu về yêu cầu đối với các
thiết chế trong bộ máy nhà nước, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước (QLNN) và mô
hình các thiết chế nhà nước trong NNPQ, điển hình là:
- Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền [119] của Bùi Ngọc
Sơn, tác giả phân tích các quan điểm về chủ nghĩa Hiến pháp, các vấn đề lý luận về
Hiến pháp. Từ đó phân tích các tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức QLNN,
ban hành hiến pháp và tổ chức các cơ quan nhà nước. Luận giải các vấn đề liên quan
đến bộ máy nhà nước Việt Nam trong NNPQ hiện nay.
- Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong
NNPQ XHCN Việt Nam [45] của Trần Ngọc Đường, Ngô Đức Mạnh, trên cơ sở phân
tích các yêu cầu về chủ quyền tối cao của nhân dân, tính tối cao của pháp luật, các tác
giả đưa ra mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ để

chức năng xã hội dân sự, cho thấy tính khách quan và vai trò của xã hội dân sự;
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các định chế xã hội ở nước ta hiện
nay [108] của Lê Văn Quang và Văn Đức Thành. Các tác giả làm rõ khái niệm định
chế xã hội và các đặc trưng của NNPQ trong vai trò là một định chế xã hội đặc biệt.
Vai trò của các định chế xã hội trong xây dựng NNPQ. Từ đó phân tích vai trò của
NNPQ với các định chế xã hội và các vấn đề rút ra từ thực tiễn các mối quan hệ. Trên
cơ sở đó các tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện NNPQ và các định chế
xã hội ở nước ta hiện nay.
- Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội [106] của
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương. Tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực
tiễn về vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Phân
11
tích và lý giải một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của các tổ
chức xã hội ở Việt Nam và xu hướng phát triển.
Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết nghiên cứu về xã hội dân sự, xã hội công
dân, điển hình như:
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền từ sự hình thành xã hội công dân [12, tr.33-
36] của tác giả Nguyễn Thanh Bình, bàn về khái niệm xã hội công dân và mối quan hệ
giữa xã hội công dân với nhà nước trong trong xây dựng NNPQ ở Việt Nam.
- Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội [75, tr.11-19] của Tương
Lai. Tác giả đưa ra quan điểm về phân biệt xã hội dân sự với xã hội công dân, vai trò
của xã hội dân sự trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ
Chí Minh;
- Xã hội dân sự, tính đặc thù và vấn đề ở Việt Nam [130, tr.8-13] của Hồ Bá
Thâm, lý giải về sự ra đời của xã hội dân sự nói chung và những đặc thù ở Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay
1.1.2. Nhóm các công trình liên quan đến cá nhân và mối quan hệ giữa nhà
nước và cá nhân
Thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, việc đề cao chủ nghĩa tập thể, chống lại
mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đã làm cho các nghiên cứu khách quan về cá

Việt Nam, các bảo đảm QCN,… Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là:
- Tập chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân [145] của Trung tâm
Nghiên cứu QCN, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, với nhiều bài viết của các
tác giả về các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến QCN, QCD như khái niệm, đặc
trưng của QCN, các nhóm quyền,…
- Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người trong
điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay [86] của Nguyễn Văn Mạnh, luận bàn về các khái
niệm quyền con người và các bảo đảm pháp lý thực hiện QCN ở Việt Nam, đồng thời
phân tích các định hướng, giải pháp hoàn thiện;
Cùng với quá trình mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế, các điều kiện, cơ hội
tiếp cận tư tưởng về QCN của các học giả trên thế giới qua các tài liệu, hội thảo, nhận
thức về QCN đã có những bước phát triển mới, đặc biệt là từ sau Văn kiện Đại hội IX
của Đảng. Nhiều nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề lý luận về QCN một cách tương đối
toàn diện, khách quan, đáng kể là các nghiên cứu:
- Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập
hiến Việt Nam [8] của Trần Văn Bách, nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý
luận về QCD ở Việt Nam và sự phát triển của các quy định về QCD qua các hiến pháp
13
Việt Nam. Từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định về
QCD trong hiến pháp.
- Bàn về quyền con người quyền công dân [44] của Trần Ngọc Đường. Tác giả
phân tích làm rõ khái niệm QCN, QCD; từ đó, đưa ra những đánh giá về QCN, QCD
trong Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam, bất cập trong thực tiễn hiện nay. Đồng thời,
làm rõ những đảm bảo pháp lý trong việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa
vụ của công dân.
- Tăng cường hoạt động lập pháp bảo đảm quyền con người đáp ứng yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam [74, tr.34-41] của Tường Duy Kiên, tác giả
đã làm rõ tính được bảo đảm bằng pháp luật quốc gia trong thực hiện QCN và cách
thức để tăng cường vai trò của lập pháp quốc gia trong thực hiện QCN ở Việt Nam
hiện nay.

- Chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam [121, tr.12-24] của tác giả Bùi Ngọc Sơn. Tác
giả đã đề cập đến quan niệm chung về cơ chế bảo hiến nói chung với việc đề cao chủ
quyền nhân dân trong nhà nước pháp quyền. Từ đó, phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn
cho cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay;
- Tài phán hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và
khả năng áp dụng ở Việt Nam [104] của Nguyễn Như Phát và tập thể các tác giả
(2011), Nxb Khoa học xã hội, các tác giả làm rõ vai trò hiến pháp trong NNPQ, xây
dựng nền dân chủ, xu hướng phát triển của các mô hình tài phán và điều kiện vận
dụng ở Việt Nam.
Hiến pháp với chủ quyền nhân dân [5] của TS Vũ Hồng Anh. Tác giả phân tích
làm rõ sự khác biệt của khái niệm chủ quyền nhân dân và chủ quyền quốc gia. Trên cơ
sở đó, cho rằng trong nhà nước pháp quyền, chủ quyền nhân dân, trước hết được thể
hiện ở vai trò của nhân dân với hiến pháp và ở vai trò của nhân dân với tổ chức QLNN.
Chủ quyền nhân dân xuyên suốt và nhất quán trong Hiến pháp sửa đổi [49] của
Trần Ngọc Đường. Tác giả đã phân tích những quy định về chủ quyền nhân dân được
nhất quán trong các nội dung về vai trò của nhân dân với việc ban hành, sửa đổi Hiến
pháp, về quan hệ nhân dân và QLNN, bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 2013.
Trong quá trình đổi mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về mối
quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong những phạm vi và mức độ nhất định. Điển
hình là các công trình:
- Hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân trong quá trình đổi mới ở
Việt Nam [40] của tác giả Nguyễn Văn Động. Nghiên cứu đã phân tích một cách khá
15
toàn diện bản chất, đặc điểm và những nguyên tắc của mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa
nhà nước và công dân. Từ đó, phân tích quá trình phát triển, thực trạng MQH pháp lý
cơ bản giữa nhà nước và công dân; đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện MQH
pháp lý giữa nhà nước và công dân trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, công trình này
cũng chỉ dừng lại ở MQH giữa nhà nước và công dân.
Ngoài ra, còn một số các công trình đã nghiên cứu về QMH giữa nhà nước và
cá nhân, nhà nước và công dân làm cơ sở cho những nghiên cứu về các vấn đề xã hội,

nước và pháp luật được nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn nâng cao nhận
thức khách quan về MQH giữa các chủ thể này phục vụ cho quá trình xây dựng và
hoàn thiện nhà nước và pháp luật trong điều kiện mới. Các tác giả đã đưa ra những cơ
sở lý luận khái quát về cá nhân, mối quan hệ nhà nước và cá nhân, cùng với sự phát
triển mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong lịch sử.
- Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam [46] của Trần Ngọc Đường. Tác giả nghiên cứu về cá nhân, bản chất
MQH giữa nhà nước và cá nhân làm cơ sở cho những nhận thức về vấn đề QCN, QCD
trong NNPQ hiện nay. Từ đó, đưa ra những phương hướng, giải pháp cho qúa trình
hoàn thiện hệ thống pháp luật và nhà nước.
- Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong
xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay [47] của Trần Ngọc Đường. Xuất phát từ yêu
cầu thực hiện Cương lĩnh 2011, tác giả đưa ra yêu cầu đổi mới tư duy về MQH giữa
nhà nước và cá nhân làm cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện
QCN, QCD.
Tóm lại, các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá
nhân đã được tiếp cận và nghiên cứu một cách khá rộng rãi. Nhiều kết quả của các
công trình về NNPQ, quyền con người, tổ chức QLNN, mối quan hệ giữa nhà nước và
công dân, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân…đã trở thành những định hướng,
chiến lược quan trọng trong các văn kiện của Đảng cho thời kỳ đổi mới và được ghi
nhận trong Hiến pháp cho quá trình phát triển MQH giữa nhà nước và cá nhân. Sau gần
30 năm đổi mới, các điều kiện tồn tại của cá nhân và nhà nước đều có những thay đổi
đáng kể. Một công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về MQH giữa nhà nước và cá
nhân tiếp cận dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là một bổ khuyết về
lý luận cho việc xác định định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước, pháp luật ở
Việt Nam hiện nay, đồng thời, là cơ sở để nghiên cứu hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân.
17
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh pháp luật
Cơ chế ĐCPL là một vấn đề rộng và phức tạp, đề cập đến các phương tiện pháp

18
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn [126] của Lê Minh Tâm, tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm, bản chất,
vai trò của pháp luật; các tiêu chí để đánh giá sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật;
phân tích và đánh giá quá trình phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam trong lịch
sử và thực trạng. Từ đó luận giải các yêu cầu, quan điểm, giải pháp phát triển hệ thống
pháp luật Việt Nam hiện nay;
- Quan hệ pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
[77] của Lê Văn Long (2003). Tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề
lý luận về quan hệ pháp luật, thực trạng và các phương hướng, giải pháp cho việc phát
triển các quan hệ pháp luật hiện nay ở Việt Nam.
Qua các nghiên cứu trên, vấn đề cơ chế ĐCPL đã được nghiên cứu một cách
khá toàn diện, từ khái niệm, các giai đoạn, thành tố của cơ chế ĐCPL. Đồng thời, từ
các góc độ khác nhau hoặc từ góc độ chung, các tác giả đã phân tích các yếu tố tác
động đến cơ chế ĐCPL, vấn đề rất có ý nghĩa cho việc đề xuất các phương hướng giải
pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL. Lý luận về cơ chế ĐCPL đã được nhiều tác giả vận
dụng trong nghiên cứu về cơ chế ĐCPL trên một số lĩnh vực. Tuy nhiên, chưa có một
công trình nghiên cứu nào đề cập đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa nhà
nước và cá nhân
Các công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến MQH giữa nhà nước và
cá nhân, nhất là về dân chủ và pháp luật xuất từ thời kỳ cổ đại trong tư tưởng của các
học giả phương Tây như Socrate, 469-399 TrCN, Platon, 423-347 TrCN,… Các tư
tưởng này có quá trình phát triển lâu dài và không ngừng hoàn thiện trong lịch sử xã
hội loài người. Qua đó, MQH giữa nhà nước và cá nhân được nghiên cứu và tiếp cận từ
nhiều góc độ, vấn đề khác nhau, như:
1.2.1.1. Các công trình nghiên cứ u liên quan đế n mố i quan hệ giữ a nhà nư ớ c
và cá nhân, tiế p cậ n từ vấ n đề chủ quyề n nhân dân, các giá trị củ a Nhà nư ớ c pháp
quyề n, xã hộ i dân sự và chủ nghĩa hợ p hiế n

biểu là các công trình:
- Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội [102] của N.M. Voskresenskaia và N.B.
Davletshina, Phạm Nguyên Tường dịch. Tác giả đã đề cập đến các vấn đề quan trọng
của một xã hội dân chủ như, khái niệm dân chủ, xã hội và các giá trị dân chủ, QCN,
bầu cử, Đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội,…
20
- Tương lai của nền dân chủ xã hội (Die Zukunft Sozialen Demokratie) 2005
[140] của Thomas Mayer và Nicole Breyer, Trần Danh Tạo và Ngô Lan Anh dịch.
Theo các tác giả, dân chủ xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở sự không hoàn thiện của
dân chủ tự do. Trong nền dân chủ xã hội, các quyền cơ bản về dân sự, chính trị, quyền
xã hội và kinh tế phải được bảo đảm để tạo dựng được những điều kiện sống có nhân
phẩm cho tất cả mọi người. Đó là xã hội, bao gồm một hệ thống các giá trị cơ bản, các
quan điểm, nguyên tắc và giải pháp cải cách kinh tế, xã hội vì mục tiêu phát triển và lý
tưởng tự do, công bằng, bình đẳng và hạnh phúc của con người trong bối cảnh hiện nay
của thế giới.
Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là những giá trị tư tưởng được hình
thành và không ngừng hoàn thiện trong quá trình phát triển của nhân loại. Đây là
những vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và đã
dành được rất nhiều thành tựu về mặt lý luận và thực tiễn. Trong đó, tư tưởng về
NNPQ đã phát triển không ngừng từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ cận đại, với các học
thuyết về chủ quyền nhân dân, quyền tự nhiên, học thuyết khế ước xã hội, học thuyết
tam quyền phân lập. Tiêu biểu cho các nghiên cứu đó là các tác phẩm:
- Các nguyên lý của triết học pháp quyền [55] của G.W.F Hêghen (1821), do
dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch, XHDS được hình thành từ nhu cầu của mỗi cá nhân
để thực hiện lợi ích ích kỷ của bản thân mình và nhằm thoả mãn nhu cầu của riêng
mình. Heghen cho rằng sở hữu tư nhân là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xã
hội dân sự và tự do cá nhân là không thể thiếu sở hữu tư nhân. Xã hội dân sự mang
trong mình những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Nhưng nhà nước đã
vượt lên trên tính tự phát của xã hội dân sự, thể hiện là sự thống nhất giữa lợi ích chung
và lợi ích riêng. Tuy nhiên, nhận thức của Hêghen về XHDS và MQH giữa nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status