LỜI NÓI ĐẦU
Trong học tiếng, dạy tiếng cũng như trong giao tiếp, câu hỏi là một trong
các loại câu được dùng với tần suất cao. Việc nghe tiếp nhận câu hỏi cũng như
việc cấu tạo câu hỏi, thực hiện hành vi hỏi là những vấn đề mà người học, người
sử dụng ngoại ngữ thường gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt phức tạp trong lĩnh vực
liên ngữ, xuyên ngữ là việc dịch thuật câu hỏi từ tiếng này ra tiếng khác và
ngược lại mà phạm vi trực tiếp ta đang nói đến ở đây là dịch Việt - Anh và Anh
- Việt. Việc nghiên cứu đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của câu hỏi vì vậy rất cần
thiết hữu ích.
Trong giao tiếp cũng như tư duy, câu hỏi có mục đích chính là tìm kiếm
thông tin chưa biết, chưa hiểu. Câu hỏi cũng còn gọi là câu nghi vấn là như vậy.
Bởi vì có điều chưa biết, chưa hiểu nên để hiểu biết thì phải hỏi. Nhưng trong
thực tế sử dụng ngôn ngữ cũng có khi hỏi mà không nhằm mục đích tìm kiếm
thông tin chưa biết mà có thể là để chào hỏi chẳng hạn. Ví dụ người Việt có khi
dung câu hỏi để hỏi, để chào nhau; gặp nhau giữa đường thay cho lời chào,
những người quen nhau cũng dùng câu hỏi để chào. Hoặc có khi người đặt câu
hỏi là để tự trách mình thể hiện sự xúc cảm trước một vấn đề gì đó, hỏi cũng để
chia sẻ cảm thông mông muốn yêu cầu.
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về những đặc
điểm ngữ nghĩa của câu hỏi “Yes-No” (Y-N) trong tiếng Anh, trên cơ sở đó xác lập
những mô hình cấu trúc để chuyển nghĩa sang tiếng Việt. Đề tài nêu lên một số khó
khăn mà sinh viên thường gặp trong quá trình dịch câu hỏi “Yes-No” từ tiếng Anh
sang tiếng Việt. Đề tài cũng đưa ra một số khuyến nghị về việc ứng dụng kết quả
nghiên cứu cho dạy và học tiếng Anh nói chung, học môn dịch nói riêng.
1
MỤC LỤC
2
định, hỏi để mỉa mai, hỏi để chào…Có thể nói rằng câu hỏi là yếu tố thường
3
xuyên tham gia vào quá trình hội thoại và không thể thiếu trong giao tiếp. Đối
với người học ngoại ngữ việc thực hiện hành vi hỏi, việc nghe tiếp nhận câu hỏi
và cấu tạo câu hỏi thường gặp nhiều khó khăn.
Thực tế cho thấy sinh viên Việt Nam rất bối rối trong việc dịch thuật khi
chuyển từ câu hỏi tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Ngay cả giáo viên
cũng nhiều khi lúng túng trước việc giải thích và hướng dẫn sinh viên sử dụng.
Bằng việc Nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của câu hỏi Yes-No trong
tiếng Anh so với nghĩa tương đương trong tiếng Việt, bài tiểu luận sẽ cung cấp
các đặc trưng cấu trúc – ngữ nghĩa cơ bản của kiểu loại câu hỏi này trong hai thứ
tiếng. Việc nắm vững các đặc điểm ngữ nghĩa của từng loại câu hỏi sẽ giúp cho
các bên tham gia hội thoại chủ động, tự tin hơn và kết quả của cuộc thoại thành
công hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Về nguyên tắc, chức năng cơ bản của một câu hỏi nói chung và câu hỏi
Yes-No nói riêng là để hỏi một thông tin chưa biết. Tuy nhiên, bên cạnh mục
đích để hỏi, câu hỏi “Yes-No” còn thể hiện nhiều chức năng khác, tùy vào ngữ
cảnh, như lời mời, lời đề nghị, yêu cầu…Thực tế cho thấy những nét nghĩa của
câu hỏi Yes-No khá đa dạng và người học trong việc dịch những câu hỏi YesNo gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ những vấn đề được nêu ở trên, tác giả chọn đề tài Nghiên
cứu đặc điểm ngữ nghĩa của câu hỏi Yes-No trong tiếng Anh so với nghĩa
tương đương trong tiếng Việt với mục đích xác định những nét nghĩa của câu
hỏi Yes-No, đồng thời cũng đưa ra một số đề nghị để chuyển tải những nét
nghĩa đó sang tiếng Việt.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là đặc điểm ngữ nghĩa của câu hỏi
6.3. Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập những thông tin về những
khó khăn của sinh viên năm thứ ba trong quá trình dịch những câu hỏi Yes-No
sang tiếng Việt để bổ sung chính xác hơn cho kết quả nghiên cứu từ phương
pháp điều tra.
5
6.4. Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra nhằm khảo sát thực trạng khó khăn trong việc dịch
nghĩa các câu hỏi Yes-No của sinh viên năm ba chuyên ngành tiếng Anh,
nguyên nhân gây ra khó khăn đó và ảnh hương của nó trong hoạt đông giao tiếp
cũng như kết quả môn học.
Để tiến hành phương pháp này tôi xây dựng bộ câu hỏi về những khó
khăn trong việc dịch nghĩa câu hỏi Yes-No và nguyên nhân gây ra vấn đề để
điều tra các khách thể nghiên cứu.
6.5. Phương pháp phân tích đối chiếu
Đây là phương pháp qua trong nhất của đề tài. Trong phương pháp phân
tích đối chiếu, tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ gốc và tiếng Việt là ngôn ngữ
đích để phân tích những nét nghĩa của câu hỏi Yes-No. Từ đó xác định sự tương
đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ nhằm mục đích chuyển dịch theo hướng
Anh - Việt.
6
CHƯƠNG I :CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ về câu hỏi
1.1.1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ nước ngoài về câu hỏi
trong tiếng Anh
Tác giả cho rằng sự có mặt của nghĩa nghi vấn trong cấu trúc ngữ nghĩa
của câu hỏi biểu thị rằng người nói yêu cầu người nghe thông báo cho anh ta cái
thông tin mới đề cập tới yếu tố mà nghĩa nghi vấn liên quan đến. Nghĩa nghi vấn
có thể thấy ở các vị trí khác nhau trong cấu trúc ngữ nghĩa, đặc biệt trong thành
phần của động từ, hoặc của danh từ khi thay thế cho đơn vị từ vựng đó. Ở vị trí
đó, nó chỉ ra rằng người nói muốn người nghe bổ khuyết cái đơn vị từ vựng còn
thiếu hay làm đầy sự khuyết thiếu về từ vựng đó.
Simon C.Dik phân biệt câu hỏi với câu tường thuật. Câu hỏi không phải là
những lời xác nhận. Chúng không thể là chân thực hay không chân thực mà cần
có phản ứng đáp lại nào đó. “ Câu hỏi là biểu thức ngôn ngữ mà qua đó người
nói có thể đưa ra tín hiệu và muốn nhận một phản hồi bằng lời thích hợp của
người nghe.” [22, tr. 284]. Các kiểu câu hỏi có thể phân biệt theo loại thông tin
được hỏi và kiểu trả lời có thể áp dụng cho câu hỏi. Những câu hỏi có từ hỏi có
mối quan hệ với các động từ hạn định theo kiểu chúng có thể được hiểu theo
nghĩa của một hoạt động cấu trúc của câu hỏi này, có thể là cấu trúc trung tâm,
trong đó thành tố nghi vấn trong câu hỏi có từ hỏi mang chức năng chính, xét về
bản chất. “Câu hỏi có từ hỏi bộc lộ được những đặc tính nổi bật nhất, cụ thể là
trong mối tương quan, một mặt với động từ hạn định, còn mặt khác với các cấu
trúc khuyết, có thể tách ra được….” [25-tr.258]. Roderick A. Jacobs trong cuốn
“English syntax- A grammar for English language professionals”(1995) đề cập
đến một số chức năng của câu hỏi. Theo tác giả, câu hỏi trước hết có một chức
năng phổ quát là yêu cầu cung cấp thông tin mà nó đòi hỏi. Bên cạnh đó, câu
hỏi còn có thể thể hiện một lời yêu cầu, một lời mời hoặc một sự đe dọa. Tác giả
chia câu hỏi làm ba loại:
- Câu hỏi lựa chọn
- Câu hỏi đuôi
- Câu hỏi có từ hỏi
8
9
1.1.2. Quan điểm của các nhà ngôn ngữ Việt Nam về câu hỏi
Câu hỏi cũng được các nhà ngữ pháp và ngôn ngữ Việt Nam xem xét,
miêu tả và lý giải từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tựu trung là quan điểm ngữ
pháp truyền thống hoặc cấu trúc có kết hợp với cách lý giải lô gích học như của
Trần Trọng Kim, quan điểm cú pháp-ngữ nghĩa của Nguyễn Kim Thản, Diệp
Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến và gần đây là quan điểm chức năng của Cao
Xuân Hạo.
Trước đây, trong các sách ngữ pháp, khi nghiên cứu về câu hỏi , các tác
giả thường ít chú ý đến xây dựng một định nghĩa chính xác và đầy đủ về câu hỏi
trong tiếng Việt mà chỉ xét câu hỏi như một hiện tượng thực tế của tiếng Việt.
Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam văn phạm” (1943) phân biệt câu hoài
nghi và câu nghi vấn, nhưng chỉ xét đến câu nghi vấn đại danh từ. Tác giả không
đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về câu hỏi mà chỉ viết: “ Câu hoài nghi biểu
diễn cái ý ngờ, không chắc hẳn.”. “ Câu nghi vấn đại danh từ dùng để hỏi cho
biết là người nào hay vật gì đứng là chủ từ hay túc từ.” [21, tr.34] Nguyễn Kim
Thản trong cuốn “ Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” (1964) dùng thuật ngữ
“câu nghi vấn” và cho rằng “ Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi
của người nói và nói chung đòi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc
trưng của đối tượng. Nó không chứa đựng phán đoán vì nó chưa khẳng định hay
phủ định gì cả, nó không thật mà cũng không giả”. Tác giả đã phân câu nghi vấn
tiếng Việt thành bốn loại:
- Câu nghi vấn chân chính
- Câu tự vấn
- Câu hỏi dồn
- Câu hỏi xác nhận
Hoàng Trọng Phiến khẳng định rằng “cho dù ở dưới dạng nào, trong nội
dung câu hỏi cũng làm nổi rõ một ‘cái không rõ’ mà câu hỏi cần hướng tới.”
ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt của các nhà ngữ pháp học Anh, Mỹ và Việt
Nam. Những phân tích câu hỏi từ nhiều quan điểm khác nhau ở trong nước và
ngoài nước cho thấy rằng câu hỏi là một hiện tượng phổ quát và là một trong
những vấn đề quan trọng của ngôn ngữ học đại cương.
11
1.2. Khái quát chung về câu hỏi Yes-No
1.2.1. Định nghĩa về câu hỏi Yes-No
Theo Wardhaugh (1995) thì câu hỏi Y-N là loại câu hỏi nhằm tìm kiếm
câu trả lời “Có” hoặc “Không”. Câu hỏi Y-N được chia thành hai loại nhỏ, đó là
câu hỏiY-N khẳng định (Is he a student?) và câu hỏi Y-N dạng phủ định (Isn’t
he a student?).
Loại câu hỏi này đòi hỏi câu trả lời có hoặc không. Khi nói, ngữ điệu lên
cao cuối câu hỏi. Loại câu hỏi này được cấu tạo bằng cách chuyển một phần vị
ngữ, như tác tử lên trước chủ thể gây ra hành động của câu.
Ví dụ:
Do you like art?
Can you speak English?
1.2.2. Hành động lời nói
Hành động lời nói là một câu viết hoặc lời nói bao gồm hai loại nghĩa:
nghĩa nội dung mệnh đề hay nghĩa ngôn liệu và nghĩa ngôn trung. Nghĩa mệnh
đề là nghĩa cơ bản của lời nói căn cứ vào từ và cấu trúc của lời nói đó. Nghĩa
ngôn trung là ảnh hưởng của lời nói hoặc câu viết đối với người nghe hoặc
người nói. (Hurford & Heasley, 1995)
1.2.3. Hành động lời nói và phép lịch sự
Nói tới nguyên lý lịch sự là nói tới khái niệm “thể diện”, “giữ thể diện”
trong quá trình hội thoại. Brown và Levison (1987) đã phân biệt 2 phương diện
của thể diện, đó là thể diện dương và thể diện âm. Thể diện dương là những điều
- Người được mời + động từ chỉ hành động mời + không/ không ạ?
- (Người được mời)+ động từ chỉ hành động mời + chứ? / nhé!
2.3. Câu hỏi Y-N với chức năng yêu cầu, đề nghị ai làm giúp cái gì
Trong cuộc sống, việc nhờ hay yêu cầu ai làm việc gì hộ mình là chuyện
hay xảy ra. Chúng ta có thể sử dụng câu hỏi Y-N trong trường hợp này để diễn
đạt hành động này.
(3) - Will you tell her how sorry I am? (Hemingway, 1993, tr.39)
13
(3’) - Xin cô vui lòng nói lại là tôi rất lấy làm buồn. (Hemingway, 2004, tr.66)
Một số phương án dịch trong trường hợp này
- Xin (ai đó) vui lòng làm giúp cái gì
- (ai đó) có thể giúp làm cái gì không?/ được không?
2.4. Câu hỏi Y-N với chức năng thể hiện lòng nhiệt thành muốn giúp đỡ
Ngoài yêu cầu người khác giúp đỡ chúng ta còn có thể dùng câu hỏi Y-N
để bày tỏ tấm lòng thành ý của mình muốn giúp đỡ người khác
(4) - Shall I run fetch him? (Mitchell, ch.39)
(4’) - Có cần tôi chạy kêu ảnh lại không? (Mitchell, 2001, t.2, tr.224)
Với nét nghĩa này, câu hỏi Y-N có thể được dịch như sau:
- Người nói + có thể + hành động đề nghị giúp đỡ+ không?
- Người nghe + có muốn/cần + người nói+ hành động đề nghị giúp đỡ+ không?
2.5. Câu hỏi Y-N với chức năng là một lời xin phép
Đôi khi có những tình huống chúng ta không thể quyết định được và cần
phải xin phép ý kiến của người khác. Để thể hiện sự xin phép, có thể câu hỏi YN có thể đảm nhiệm chức năng này.
(5) - Can I have wine with the meals? (Hemingway, 1993, tr.82)
(5’) - Tôi có được uống rượu trong bữa ăn không?. (Hemingway, 2004, tr.134)
Trong trường hợp này, người dịch có thể áp dụng những mô hình sau:
- (Người nói có thể) +động từ chỉ hành động xin phép + không /được
không ( ạ)?
(Mitchell, 2001, t.1, tr.292)
Ở đây phép lịch sự đã bị phá vỡ, và thể diện âm tính của Scarlett bị đe dọa.
Trong tiếng Việt ta có thể sử dụng các cấu trúc sau kết hợp với ngữ điệu
giận dữ để dịch nét nghĩa này của câu hỏi Y-N.
- (Mệnh đề) hả / hử / sao / chăng?
- Có phải (Mệnh đề) không? hoặc (Mệnh đề) phải không?
2.8. Câu hỏi Y-N với chức năng biểu hiện sự quan tâm lo lắng
Trong cuộc sống hang ngày có rât nhiều điều để chúng ta quan tâm lo
lắng như vấn đề sức khỏe, tình hình công việc…Một trong những cách giúp
chúng ta bày tỏ cảm xúc này là sử dụng câu hỏi Y-N.
(10) - All the folks at Tara well?
(Mitchell, ch.35)
15
(10’)- Mọi người ở Tara vẫn mạnh khỏe chứ?
(Mitchell, 2001, t.2, tr.105)
Trong phạm vi sắc thái nghĩa này, cấu trúc tiếng Việt sau đây là cách dịch gợi ý:
(Mệnh đề) không, sao, à, ư, chứ, nhỉ?+ ngữ điệu
2.9. Câu hỏi Y-N với chức năng thể hiện sự băn khoăn của người nói
Chúng ta đôi khi thường gặp những tình huống khiến mình phải lưỡng lự,
băn khoăn vì không biết nó đúng hay sai.
(11) - Do you think it would be any good to try and see her tomorrow?
(Hemingway, 1993, tr.39)
(11’)- Theo cô, tôi có nên tìm gặp nàng ngày mai không? (Hemingway,
2004, tr.66)
Nội dung mệnh đề của những câu hỏi ở đây vừa có thể đúng, vừa có thể
sai. Do đó nó khiến người nói băn khoăn và nhường quyền khẳng định lại thông
tin cho người nghe.
Với ý nghĩa trên, một số cấu trúc tiếng Việt sau đây được sử dụng để dịch:
là rất khả thi: (Mệnh đề) biết mấy / biết bao/ bao nhiêu/ chừng nào/ nhường nào!
2.13. Câu hỏi Y-N với chức năng dò xét thông tin
Câu hỏi Y-N có thể được sử dụng khi chúng ta muốn điều tra một bí mật,
muốn khai thác thông tin từ ai đó.
(15) - Don’t you mean Norwood?, asked Lestrade (Doyle, 1994, tr.74)
(15’)- Ông không muốn nói sẽ đến Norwood chứ?, Lestrade hỏi (Doyle,
1994, tr.75)
Với nét nghĩa này, một số cấu trúc tiếng Việt sau đây được dùng để
chuyển tải nét nghĩa trên: - Có (Mệnh đề) không?
- (Mệnh đề)….không……chứ? (thường mang sắc thái khẳng định)
17
CHƯƠNG III. MỘT SỐ KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN TRONG
QUÁ TRÌNH DỊCH NHỮNG CÂU HỎI YES-NO SANG TIẾNG
VIỆT VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
3.1. Khó khăn của sinh viên trong quá trình dịch những câu hỏi YesNo sang tiếng Việt
Các nét nghĩa của câu hỏi Yes-No trong một số tình huống đôi khi rất khó
phân biệt vì nó gần như giống nhau. Chẳng hạn như câu hỏi Yes-No với chức
năng để hỏi thông tin, câu hỏi Yes-No với chức năng diễn tả sự băn khoăn, lo
lắng, câu hỏi Yes-No với chức năng biểu đạt thái độ băn khoăn của người nói và
câu hỏi Yes-No với chức năng dò xét thông tin đều có một điểm chung: đó là
người nói đều muốn tìm hiểu, xác nhận một thông tin chưa rõ ràng, chưa chắc
chắn. Do đó để dịch chính xác từng chức năng của câu hỏi Yes-No, người dịch
cần phải căn cứ vào ngữ cảnh trong từng trường hợp cụ thể.
3.2. Đề xuất biện pháp khắc phục vấn đề
Khi dịch, cần hiểu rõ bản chất của vấn đề, vì thế người học phải xác định
các đặc điểm, cách thức vận dụng những khái niệm, quy luật, lý thuyết... trong
việc giải quyết những vấn đề cụ thể.
[4] Hurford, J.R & Heasley, B. (1995). Semantics a coursebook. NXB Trẻ.
[5] McCullough, C. (1987). Tiếng chim hót trong bụi mận gai. Tập 1, 2, 3.
Phạm Mạnh Hùng dịch. Hà Nội: NXB Phụ Nữ.
[6] McCullough, C. The Thorn Birds. Retrieved January 10, 2008 from
/>[7] Mitchell, M. (2001). Cuốn theo chiều gió. Tập 1, Kim Thư dịch. NXB
Văn học
[8] Mitchell, M. Gone with the wind. Retrieved January 10, 2008 from
/>[9] Wardhaugh, R. (1995). Understanding English Grammar – A
linguistic approach. Blackwell Publishers Ltd.
20