Nghiên cứu đặc điểm đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc đại lục - Pdf 26

Trung t©m khoa häc x héi vµ nh©n v¨n quèc gia·
Trung t©m nghiªn cøu Trung Quèc
============

============
§Ò tµi cÊp viÖn
ngêi thùc hiÖn
: DVL
hà nội
Nghiên cứu đặc điểm đầu t của Đài Loan vào
Trung Quốc đại lục
=====

=====
I. Lời nói đầu
gày nay, xu thế liên kết kinh tế khu vực và tự do hóa mậu dịch toàn
cầu đã trở thành một yếu tố quan trọng phát triển mậu dịch quốc tế.
Chính sách kinh tế mở với những biến đổi to lớn theo khuynh hớng
hội nhập, đã đa các nớc đi vào thực hiện đa phơng hóa và đa dạng hóa các quan
hệ quốc tế theo những mục tiêu xác định. Trong xu thế chung đó của thế giới,
các mối quan hệ kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, cạnh tranh lẫn nhau về mậu dịch
cũng nh về mức độ phân công sản xuất giữa các nớc và khu vực ở Châu á - Thái
Bình Dơng sẽ ngày càng trở nên sâu sắc.
N
Trung Quốc với dân số trên 1,2 tỷ ngời, có nguồn lao động dồi dào, giá
nhân công rẻ, cùng với nhiều chính sách u đãi thu hút nguồn vốn bên ngoài đã
đặc biệt hấp dẫn với các nhà đầu t nớc ngoài, trong đó có các nhà đầu t Đài
Loan.
Trải qua hơn 50 năm phát triển, Đài Loan đã từ một nền kinh tế thực dân
lạc hậu trở thành một trong bốn con rồng châu
á

phi can dự của khoa học xã hội thờng vận dụng dựa trên nguồn t liệu sách báo
tạp chí thu thập đợc. Bao gồm: Phơng pháp phân tích nội dung, phơng pháp
phân tích t liệu thống kê hiện có và phơng pháp phân tích lịch sử, so sánh v.v....
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài lấy mốc từ năm 1979 khi hai bờ đã chính
thức có sự qua lại trao đổi giữa hai bên tới nay. Mặt khác, quan hệ kinh tế hai bờ
hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại nên đề tài chủ yếu tập trung đi vào
nghiên cứu hoạt động đầu t giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục. Đồng thời, đề
tài chủ yếu đứng dới góc độ lịch sử để nhìn nhận và phân tích đặc điểm của mối
quan hệ kinh tế này.
II. Vài nét lịch sử trong quá trình phát triển
quan hệ kinh tế hai bờ
Theo đuổi lợi ích kinh tế là động lực chủ yếu để phát triển quan hệ kinh tế
mậu dịch hai bờ eo biển Đài Loan. Dới tác động của các nguồn lực kinh tế,
quan hệ kinh tế hai bờ đã đạt đợc sự phát triển nhanh chóng, đồng thời nó cũng
thúc đẩy sự phát triển phồn vinh của nền kinh tế mỗi bên.
Trớc những năm 1970, quan hệ hai bờ rơi vào trạng thái đối lập về chính
trị, quân sự và kinh tế, trạng thái này đã đem lại những thiệt hại lớn không thể
tính hết cho cả hai bên. Năm 1979, Trung Quốc đại lục tuyên bố mở cửa quan
hệ kinh tế với Đài Loan. Lúc đó, Trung Quốc đang ở vào thời kỳ đầu của công
cuộc cải cách nền kinh tế và mở cửa đối ngoại, đồng thời, cũng là điểm ngoặt
lịch sử có ý nghĩa to lớn trong tiến trình công nghiệp hóa của Trung Quốc. Mở
cửa quan hệ kinh tế với Đài Loan không chỉ là sự thay đổi quan trọng chính
sách Đài Loan của Trung Quốc đại lục, mà còn là biện pháp trọng đại trong
chiến lợc phát triển kinh tế và chính sách công nghiệp hóa.
Vào những năm 1970, Đài Loan do nắm bắt đợc thời cơ có lợi trong hoàn
cảnh quốc tế, nên đã đạt đợc nhiều thành tựu lớn trong phát triển kinh tế, và cơ
bản thực hiện đợc quá trình công nghiệp hóa, trở thành khu vực có nền công
nghiệp hóa mới và nền kinh tế đầy sức sống. Đến niên đại 80, kinh tế Đài Loan
đã bớc vào giai đoạn thành thục. Lúc này, hoàn cảnh trên đảo Đài Loan và cục
diện kinh tế chính trị thế giới đã có một loạt những thay đổi. Để thực hiện phát

là thị trờng nhập khẩu lớn thứ hai; còn Trung Quốc cũng trở thành thị trờng xuất
khẩu lớn thứ hai của Đài Loan và là thị trờng xuất siêu mậu dịch lớn nhất của
Đài Loan.
Nhìn chung, quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục về đại
thể đã trải qua ba giai đoạn: giai đoạn 1, từ 1979 đến 1986 là giai đoạn thăm dò;
giai đoạn 2, từ 1987 đến 1994, là giai đoạn phát triển cao độ; giai đoạn 3, từ
1995 đến 2001 là giai đoạn tăng trởng ổn định. Trải qua thời gian hơn 20 năm,
quan hệ kinh tế mậu dịch hai bờ luôn luôn đợc tăng cờng và không ngừng phát
triển.
III. Quan hệ hợp tác đầu t của Đài Loan
và Trung Quốc đại lục
Thơng nhân Đài Loan từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20 bắt đầu tiến
hành hoạt động đầu t vào Trung Quốc đại lục. Năm 1983, lần đầu tiên xuất hiện
một doanh nghiệp Đài Loan đến đầu t tại Trung Quốc. Trớc năm 1987 số lợng
đầu t tơng đối ít, chỉ đến sau năm 1988 mới thực sự là cao trào. Đầu t của thơng
nhân Đài Loan vào Trung Quốc là một quá trình phát triển từ sơ cấp đến cao
cấp, từ cục bộ đến toàn diện, từ động thái nhỏ đến động thái lớn. Vậy, vì sao họ
lại đến Trung Quốc đầu t trong khi phải chịu rất nhiều những rào cản từ chính
quyền Đài Loan. Hay nói cách khác, động cơ đầu t của thơng nhân Đài Loan là
gì?
III.1. Động cơ đầu t của thơng nhân Đài Loan vào Trung Quốc
Trớc tình trạng chính quyền Đài Loan áp đặt các biện pháp hạn chế thơng
nhân Đài Loan sang Trung Quốc đầu t, nhng các thơng nhân Đài Loan với
trăm phơng ngàn kế vẫn lần lợt đến Trung Quốc tiến hành các hoạt động đầu
t và mậu dịch. Một học giả Đài Loan trong khi phân tích tình hình thơng nhân
Đài Loan đến Trung Quốc đại lục đầu t đã có bình luận: các thơng nhân Đài
Loan đến Trung Quốc đại lục đầu t sớm nhất, phần lớn đều đã dần dần bị thất
bại. Lý do rất đơn giản, họ đến Trung Quốc đầu t không phải là để tiến hành
công việc kinh doanh thật sự. Rất nhiều ngời đã bị thất bại ở Đài Loan và đến
Trung Quốc đại lục để mạo hiểm. Có một số thơng nhân khác do tiền vốn

trọng thiên về thị trờng rộng lớn của Trung Quốc và đó là mục tiêu chủ yếu,
chính do thông qua việc mở rộng nhu cầu thị trờng ở Trung Quốc đại lục để
thực hiện tối đa hóa lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, còn không ít doanh nghiệp Đài Loan đến Trung Quốc đại lục đầu
t với mục tiêu chỉ đơn thuần là để giành lấy u thế giá thành sản xuất. Chủ yếu là
một số xí nghiệp vừa và nhỏ theo loại hình sản xuất tập trung nhiều sức lao
động. Hoạt động sản nghiệp của họ từ đầu những năm 1980 phải chịu những áp
lực của giá nhân công cùng với chi phí bảo vệ môi trờng đang tăng cao ở đảo
Đài Loan, nên đã di chuyển những doanh nghiệp tập trung nhiều sức lao động
và mức ô nhiễm cao sang Trung Quốc đại lục - nơi có giá nhân công rẻ và mức
độ coi trọng bảo vệ môi trờng lúc đó còn thấp, để tiếp tục duy trì thời cơ tốt
thực hiện mục tiêu thu lợi nhuận.
Nhìn chung, với những loại hình doanh nghiệp khác nhau của thơng nhân
Đài Loan thì họ có những mục tiêu và động cơ khác nhau khi đến Trung Quốc
đầu t. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo loại hình tập trung nhiều sức lao động
thì lấy theo đuổi u thế giá thành làm chính, nh các ngành giầy dép, may mặc,
v.v.... Còn những doanh nghiệp Đài Loan theo loại hình lớn hoạt động trong các
lĩnh vực dịch vụ thì lại coi trọng thị trờng rộng lớn, tức là muốn chiếm lĩnh thị
trờng của Trung Quốc đại lục, bởi cái mà họ theo đuổi là chiến lợc phát triển
quốc tế hóa.
Đài Loan muốn chiếm lĩnh thị trờng Trung Quốc bao gồm hai lý do: một
là, trong hơn 40 nghìn doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ của thơng nhân Đài Loan
đã cùng nhau phối hợp do điều kiện giao dịch và tập quán. Trong nhiều năm,
phần lớn các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ của Đài Loan gia công xuất khẩu
những linh kiện và nguyên liệu cần thiết vẫn mua từ Đài Loan là chính. Để rút
ngắn thời gian cung ứng linh kiện và hạ thấp giá thành sản xuất, ngày càng
nhiều các doanh nghiệp Đài Loan trong cùng ngành sản nghiệp cùng phối hợp
tiến hành đầu t với nhau, do đó động cơ đầu t của thơng nhân Đài Loan ở Trung
Quốc đại lục là lấy chiếm lĩnh thị trờng làm chủ đạo, trong một ý nghĩa nhất
định đó là sự phối hợp đồng bộ cùng đầu t của các ngành sản nghiệp. Hai là, thị

doanh nghiệp chung vốn kinh doanh và doanh nghiệp hợp tác kinh doanh.
b. Cho phép thơng nhân Đài Loan đến Trung Quốc đại lục triển khai
bồi thờng mậu dịch, gia công lắp ráp, hợp tác sản xuất.
c. Cho phép thơng nhân Đài Loan mua cổ phiếu và trái phiếu của các
doanh nghiệp đại lục.
d. Cho phép thơng nhân Đài Loan mua bất động sản ở Trung Quốc.
e. Cho phép thơng nhân Đài Loan có quyền sử dụng đất đai và kinh
doanh khai phát theo pháp luật của Trung Quốc.
Đồng thời, quy định này còn thừa nhận mang tính nguyên tắc bảo hộ đầu t
cho các thơng nhân Đài Loan, và còn tạo cho họ một vài những điều kiện u đãi
khác với những nhà đầu t nớc ngoài khác, nh cho phép có quyền thừa kế theo
pháp luật và đối với hình thức đầu t và kỳ hạn đầu t... cũng có những quy định
linh hoạt.
Tháng 5/1989, Quốc vụ viện đã phê chuẩn cho phép tỉnh Phúc Kiến thành
lập khu đầu t của thơng nhân Đài Loan ở Phúc Châu, Hạ Môn, Hạnh Lâm và
Hải Thơng..., nhà nớc hỗ trợ tài chính để tăng nhanh xây dựng cơ sở hạ tầng
trong khu đầu t của thơng nhân Đài Loan này. Tạo điều kiện tốt nhất cho các th-
ơng nhân Đài Loan đến đây đầu t. Sau đó, cùng với sự mở rộng không ngừng
quy mô giao lu quan hệ kinh tế hai bờ, Quốc vụ viện Trung Quốc lại tiếp tục
phê chuẩn xây dựng khu đầu t cho thơng nhân Đài Loan ở Giang Tô, Thợng Hải
và Thành Đô....
Nhằm tăng cờng trao đổi thông tin và liên lạc với thơng nhân Đài Loan,
Trung Quốc lại tiếp tục phê chuẩn thành lập Hiệp hội doanh nghiệp đầu t Đài
Loan ở Bắc Kinh, Hải Nam, Thợng Hải, Thâm Quyến, Giang Tô, v.v... có tác
dụng làm cho giữa các doanh nghiệp Đài Loan với nhau và giữa doanh nghiệp
Đài Loan với chính quyền địa phơng có sự câu thông và phản ánh nhu cầu kịp
thời, thúc tiến việc xây dựng quan hệ công cộng tốt đẹp giữa thơng nhân Đài
Loan với chính quyền địa phơng.
Ngày 5/3/1994, để bảo hộ và khuyến khích đầu t của Đài Loan, Uỷ ban th-
ờng vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã thông qua Luật bảo hộ đầu t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status