1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Việt Nam là một trong số các quốc gia có lợi thế về phát triển nông sản trong
đó có ngành hàng rau. Nhưng trên thực tế sản phẩm rau chưa đáp ứng được nhu cầu
tiêu dùng ngày càng cao của từng vùng, vẫn phải vận chuyển từ các vùng xa xôi của
đất nước, hoặc phải nhập khẩu rau. Trong điều kiện nước ta đang từng bước hội
nhập với nền kinh tế quốc tế thì việc tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ
nông sản nói chung; tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau nói riêng
trên địa bàn các tỉnh, thành phố cũng như trên phạm vi cả nước đang được đặt ra
cấp thiết bởi những bất cập của hệ thống tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu
thụ rau chủ yếu tự phát, manh mún, chắp vá, tính liên kết chưa cao, chưa đáp ứng
được các yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội.
Trong sản xuất nông nghiệp, cây rau có vai trò rất quan trọng. Rau là một
trong những loại thực phẩm có giá trị và là mặt hàng thiết yếu của con người. Việc
tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau theo lãnh thổ trên địa bàn tỉnh
nhằm sắp xếp, bố trí và phối hợp các chủ thể sản xuất một cách hợp lý, khai thác lợi
thế các nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực sẽ
đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu tổng
kết thực tiễn một cách đồng bộ về hệ thống tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu
thụ rau trên địa bàn tỉnh, đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy ngành
hàng rau phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, đang trong quá trình đẩy nhanh tốc độ đô
thị hóa và công nghiệp hóa, trên địa bàn Tỉnh nhiều khu đô thị, khu công nghiệp đã
hình thành, có nhiều trường học và khu du lịch... Tất cả các yếu tố đó làm cho nhu
cầu tiêu dùng rau trong Tỉnh ngày càng cao. Trong những năm qua, sản xuất nông
nghiệp của tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực,
trong đó ngành rau cũng có những bước tăng trưởng không ngừng cả về diện tích
sản xuất, chủng loại và sản lượng rau cung cấp cho thị trường. Tuy nhiên công tác
tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau còn nhiều bất cập cần được khắc
thông qua các hợp đồng sản xuất và thu mua rau đối với nông dân hoặc hình thức
nhập khẩu rau. Nghiên cứu tập trung vào các vấn đề tìm cách ổn định giá rau, làm
thế nào để người nông dân sản xuất ra những loại rau phù hợp với yêu cầu và sở
thích của người tiêu dùng và làm thế nào để người nông dân giảm giá thành sản
xuất rau, đứng vững được trong cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế.
Tác giả Darmawan và cộng sự [105, tr.144-150] ở Inđônêxia, trong nghiên
cứu đã chỉ ra những khó khăn trong quản lý sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau ở
3
Inđônêxia là do sự quan liêu của chính quyền quản lý, buông lỏng trong quản lý,
thiếu thông tin thị trường, thiếu các quy định về quản lý, thiếu chính sách phát
triển rau. Để giải quyết khó khăn trên tác giả cho rằng Inđônêxia muốn phát triển
sản xuất rau thì công tác khuyến nông đối với cây rau cần được quan tâm được
chú trọng hơn; chính quyền địa phương cần phải xây dựng hệ thống dịch vụ thông
tin thị trường về rau, dịch vụ này cung cấp thông tin về giá hàng ngày cho nông
dân, tư thương và người tiêu dùng.
Tác giả S. R. Subramanian và S. Varadarajan [114] ở Ấn Độ, cho thấy chính
sách của Ấn Độ là tập trung nghiên cứu phát triển giống chống chịu phù hợp với
từng vùng, cung cấp giống tốt, nghiên cứu phát triển công nghệ sau thu hoạch thích
hợp để giảm tỉ lệ hư hao, chính phủ cần quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cần
thiết và trang thiết bị phục vụ chế biến rau.
Các nhà nghiên cứu ở Mailaixia cho rằng [109, tr197-230] tổ chức sản xuất
rau phân tán, manh mún, diện tích đất trồng rau nhỏ hẹp không tập trung đã gây khó
khăn cho việc thu gom sản phẩm rau mang đi tiêu thụ, thị trường độc quyền đã làm
ảnh hưởng đến doanh thu của người sản xuất rau và người phân phối lưu thông, lạm
phát làm cho giá rau tăng hơn so với mức lạm phát chung. Để điều chỉnh giá rau thì
cần điều chỉnh thị trường bán buôn rau như tăng cường các giao dịch thị trường,
pháp quản lý nhà nước có tầm chiến lược lâu dài để phát triển ngành hàng rau một
cách nhanh và bền vững cũng chưa được đề cập đến nhiều.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
3.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý sản xuất,
chế biến và tiêu thụ rau, từ đó đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công
tác tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên trong điều kiện hội nhập theo hướng bền vững và đạt hiệu quả kinh tế cao.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá và làm rõ hơn những vấn đề lý luận trên lĩnh vực tổ
chức và quản lý ngành hàng rau trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác tổ chức và quản lý sản xuất,
chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá rõ sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức và
quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất các định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác
tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhằm
đáp ứng nhu cầu rau xanh, rau chế biến cho người tiêu dùng về số lượng, chất lượng và
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về tổ chức và quản lý sản
xuất, chế biến, tiêu thụ rau ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề về
tổ chức và quản lý của Nhà nước đối với sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Phạm vi không gian: Luận án tập trung chủ yếu ở 4 đơn vị hành chính thuộc
hộ, trang trại, doanh nghiệp, các chủ cơ sở SX-CB-TT rau, các cán bộ quản lý tại
địa phương, các cơ sở hỗ trợ dịch vụ sản xuất rau… để thu thập những thông tin và
nhận xét về những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương,
phân tích thực trạng SX-CB-TT rau, đời sống người dân; những cơ hội, sự thuận
lợi, tiềm năng; những khó khăn thách thức nhằm đánh giá đúng thực trạng tình hình
tổ chức và quản lý ngành hàng rau của tỉnh.
+ Tiếp cận hệ thống được sử dụng trong đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng,
8
tác động đến hoạt động tổ chức và quản lý ngành hàng rau như: môi trường thể chế,
chính sách, tổ chức và quản lý, quy hoạch, kết cấu hạ tầng, trình độ nguồn nhân lực,
khoa học công nghệ, dịch vụ đầu vào, vốn, tín dụng, chất lượng và giá cả của sản
phẩm, các tác nhân tham gia SX-CB-TT rau, người tiêu dùng, tập quán canh tác,
truyền thống văn hóa, sự hợp tác liên doanh liên kết, hình thức tổ chức SX-CB-TT
rau, kiểm tra, giám sát, thông tin tuyên truyền.
+ Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp tiếp cận theo điều kiện vùng, điều
kiện địa lý và địa hình, tiếp cận theo hình thức sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau…
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu:
+ Sử dụng phương pháp chọn mẫu tại 4 đơn vị điển hình của tỉnh Thái Nguyên
là thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, huyện Đồng Hỷ, huyện Phổ Yên. Đây là
các địa phương có quy mô diện tích sản xuất - chế biến - tiêu thụ rau lớn, có các hình
thức SX-CB-TT rau, có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức và quản lý ngành hàng rau.
Tại 4 địa phương này chọn ra 3 đơn vị để nghiên cứu, cụ thể là:
Thành phố Thái Nguyên gồm các xã: Tân Cương, Đồng Bẩm và Quyết Thắng
Huyện Đại Từ gồm các xã: Hùng Sơn, Bình Thuận, Yên Lãng
Huyện Đồng Hỷ gồm các xã: Linh Sơn, Hóa Thượng, Quang Sơn
Huyện Phổ Yên gồm các xã: Đồng Tiến, Phúc Thuận, Trung Thành
Ở mỗi đơn vị trên sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhằm chọn ra
ngắn hạn… được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận án để xác định xu hướng,
mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên
cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như
giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những
nội dung cần nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận án
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận chung về tổ
chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập. Luận án đã
áp dụng khung phân tích chuỗi giá trị trong vấn đề tiếp cận vùng, quốc gia, toàn cầu
về phân tích ngành hàng rau tại một địa phương.
- Trên cơ sở xem xét các yếu tố tác động ảnh hưởng chủ yếu tới công tác tổ
chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau; đặc biệt là xem xét những hạn chế
và thách thức trong từng công đoạn sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau ở tỉnh Thái
Nguyên; cũng như mối liên hệ giữa các khâu trong chuỗi giá trị ngành hàng rau ở
tỉnh Thái Nguyên để từ đó thấy được sự cần thiết phải tổ chức phối hợp các khâu
trong chuỗi liên kết giá trị ngành hàng rau ở tỉnh Thái Nguyên.
10
- Đề xuất những định hướng và hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn
thiện công tác tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Luận án là tài liệu giúp Ủy Ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở
Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương và các Sở, Ban, Ngành có liên quan của
tỉnh Thái Nguyên thấy được thực trạng tổ chức và quản lý ngành hàng rau của tỉnh.
Trên cơ sở khoa học và thực trạng để đưa ra được những chủ trương, chính sách và
giải pháp quản lý phù hợp với thực tế của từng địa phương, từng vùng, từng cơ sở tổ
chức kinh tế SX-CB-TT rau ở Tỉnh nhằm hoàn thiện tổ chức và quản lý ngành hàng
mạch. Khoai tây là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều nước, một vài loại rau ăn củ có
hàm lượng tinh bột cao cũng được sử dụng như cây lương thực như khoai sọ, củ từ.
12
+ Nhiều loại rau có tác dụng như dược liệu: Rau cung cấp các vitamin, chất
khoáng và chất xơ góp phần chữa các bệnh, nâng cao sức đề kháng cơ thể và tăng
cường tiêu hóa. Ví dụ: tỏi ta, hành hoa, gừng, nghệ, tía tô, hành tây…
- Về giá trị kinh tế:
+ Rau là loại cây trồng cho HQKT cao: Thu nhập 1 ha rau gấp 2 – 3 lần so
với 1 ha lúa [10]. Tất nhiên hiệu quả lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào trình độ người
sản xuất, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm sản xuất và chủng loại rau, nhưng nhìn
chung cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm,
do đó làm tăng sản lượng và giá trị trên đơn vị diện tích canh tác.
+ Rau là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu: Rau là mặt hàng xuất khẩu quan
trọng, thu ngoại tệ mạnh của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sản
phẩm rau xuất khẩu có thể là rau xanh, hoặc rau đã qua chế biến như cà chua, dưa
chuột, nấm, hành tây, cải bắp, ớt, tỏi, v.v. Hiện nay có tới hơn 40 nước là thị trường
xuất khẩu rau của nước ta, các mặt hàng rau xuất khẩu chủ yếu là: ớt cay, cà chua,
dưa chuột… giá trị thu về mỗi năm hàng trăm triệu USD cho đất nước [10].
- Giá trị xã hội:
Cây rau có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống xã
hội nông thôn, nên từ xa xưa người nông dân Việt Nam đã có câu “nhất canh trì,
nhì canh viên, tam canh điền”, có nghĩa là “thứ nhất thả cá, thứ nhì làm vườn, thứ
ba làm ruộng” [14].
Khi sản xuất rau phát triển một cách nhanh chóng và vững chắc sẽ góp phần
làm tăng thu nhập cho hộ nông dân, nhất là các hộ nông dân nghèo. Mặt khác sản
xuất rau xanh làm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, góp phần
đáp ứng yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế và xây dựng đất nước. Khi sản
lượng tốt, cần phải thực hiện nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến và hiện đại, áp dụng
các công nghệ cao vào sản xuất rau. Cụ thể: Đất đai phải cày bừa kỹ, tơi xốp, tầng
canh tác dày. Trong quá trình sản xuất phải thực hiện nhiều khâu kỹ thuật liên hoàn.
Các biện pháp chăm sóc phải thực hiện nhiều lần như: vun xới, diệt trừ cỏ dại, tưới
nước. Kỹ thuật chăm sóc đặc biệt: làm giàn, bấm ngọn, tỉa cành, tỉa hoa, quả, nụ,
thụ phấn bổ khuyết… Sản xuất rau an toàn đòi hỏi đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật
cao: máy phun mưa, nhà lưới, nhà hộp P.E, che phủ mặt đất bằng màng P.E [72].
Áp dụng công nghệ cao vào sản xuất rau như: trồng không đất và thủy canh. Nhiều
loại rau phải thu hái nhiều lần vì vậy cần nhiều công lao động. Đầu tư vào sản xuất
rau có tính rủi ro khá cao, và lợi nhuận thường thấp, không ổn định. Đặc điểm này đòi
hỏi các nhà hoạch định chính sách kinh tế cần có những chính sách khuyến khích đầu tư
vào lĩnh vực này của nền kinh tế.
14
Đặc điểm trong sản xuất rau an toàn thì cần phải có đủ các điều kiện sản xuất theo
quy định như các điều kiện về chất lượng đất trồng, nước tưới, kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Để tổ chức và quản lý sản xuất RAT phát triển bền vững thì cần phải thực hiện đồng bộ
nhiều hoạt động, bao gồm: hỗ trợ về kỹ thuật và thông tin để người sản xuất hiểu biết và
nắm vững những yêu cầu về kỹ thuật sản xuất theo tiêu chuẩn GAP và sản xuất rau theo
VietGAP, tổ chức tuyên truyền vận động thay đổi tập quán sản xuất không an toàn, tổ
chức thực hiện giám sát quy trình sản xuất, thực hiện đồng bộ giữa hình thành vùng sản
xuất rau tập trung chuyên canh và lựa chọn phương thức sản xuất thích hợp...
- Đặc điểm đối với khâu tổ chức và quản lý chế biến rau:
Rau tươi là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho công nghiệp chế biến rau. Sản
phẩm rau chế biến là mặt hàng thực phẩm phục vụ cho nhu cầu ăn uống của con
người, sản phẩm rau chế biến (RCB) đa số thuộc nhóm tư liệu tiêu dùng. Sản phẩm
RCB là nhóm mặt hàng khá đa dạng và phong phú: sơ chế, muối, sản phẩm đóng
hộp, sấy khô… Sản phẩm rau sau chế biến dễ bảo quản, vận chuyển, tiện sử dụng và
thời nhanh nhất với chi phí hợp lý và hoàn tất hợp đồng mua bán trong thời gian ngắn.
Do tính mùa vụ của sản phẩm rau nên trong khâu tiêu thụ cần phải chú ý tổ chức tập
trung thu hoạch và tiêu thụ triệt để mới có thể thu về hiệu quả kinh tế cao.
Do sản phẩm rau được sản xuất trên một địa bàn rộng lớn do vậy trước khi đưa
ra tiêu thụ cần phải tổ chức thu gom sản phẩm tập trung. Địa bàn cung ứng rau rộng
làm tăng chi phí trong khâu vận chuyển đi tiêu thụ, chủng loại rau phong phú đa dạng,
mùa vụ ngắn, lúc chính vụ sản phẩm rau nhiều thì giá thường thấp hơn lúc trái vụ. Việc
vận chuyển mặt hàng này đi tiêu thụ đòi hỏi phải có những phương tiện vận tải chuyên
dụng, hệ thống làm lạnh, hệ thống kho bảo quản chuyên dụng và đồng bộ. Có như vậy
mới tránh được những tổn thất thường xuyên phát sinh làm giảm mất giá trị của sản
phẩm như bị dập, thối… Sản phẩm rau các loại đòi hỏi có một số lượng lớn bao bì
đồng bộ và phù hợp với tính chất của từng loại rau sau khi thu hoạch. Rau các loại rất
khác nhau về khả năng duy trì độ tươi mới sau thu hoạch cũng như chịu tác động của
môi trường bên ngoài. Do vậy cấu tạo của từng loại bao bì dùng trong tiêu thụ rau có
ý nghĩa quan trọng trong việc bảo quản chất lượng sản phẩm rau mang đi tiêu thụ ở
trên thị trường. Hiện nay do chi phí bảo quản rau thường lớn, tỷ lệ hư hỏng trong quá
trình bảo quản cao, chi phí chế biến cao nên tiêu thụ rau trên thị trường hiện nay chủ
yếu vẫn là rau tươi.
1.1.2.2. Đặc điểm kinh tế và tổ chức sản xuất rau
- Sản xuất rau là ngành sản xuất hàng hóa bởi vì rau là một loại cây trồng có
tính hàng hóa cao. Do đặc điểm của hầu hết các loại rau là có hàm lượng nước trong
thân lá cao, non, giòn, dễ bị dập gãy, vì vậy từ các khâu trồng tỉa, chăm sóc, thu hoạch,
16
vận chuyển, phân phối đến tận tay người tiêu dùng cần phải thực hiện theo dây chuyền
sản xuất và phân phối chặt chẽ [75]. Trong quá trình chăm sóc, thu hái phải hết sức cẩn
thận, tỷ mỷ và nhẹ nhàng. Các khâu trong dây chuyền cần được phối hợp chặt chẽ với
17
tăng 2,66% so với năm 2009 và chiếm 0,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng
hoá của cả nước năm 2010. Dự kiến năm 2011, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt
khoảng 600 triệu USD và trở thành quốc gia sản xuất rau quả có sản lượng lớn đứng
thứ 5 châu Á. Hiện nay tỷ lệ rau quả chế biến chỉ đạt 10% tổng sản lượng, các dạng
sản phẩm rau quả chế biến chính là đồ hộp rau giầm dấm, quả nước đường, nước
quả tự nhiên. Tổn thất sau thu hoạch cả về lượng và chất trong ngành rau quả Việt
Nam đang ở mức rất cao là 25% [87].
- Do nhu cầu tiêu dùng rau xanh rất lớn và đa dạng. Hiện nay, việc sản xuất rau
còn manh mún nhỏ lẻ không đáp ứng được yêu cầu cung cấp khối lượng lớn, chất
lượng, tính đều đặn, độ đồng đều của sản phẩm rau, vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều
này chỉ có thể giải quyết được với hình thức tổ chức sản xuất rau tập trung chuyên môn
hóa, bên cạnh đó rất cần sự hợp tác giữa các cơ sở trong sản xuất và cung ứng rau cho
các đối tượng khách hàng khi có yêu cầu lớn về khối lượng, chất lượng, đảm bảo tính
đều đặn và đồng đều trong cung ứng sản phẩm rau…
* Từ những đặc điểm về sản xuất rau ở trên, trong tổ chức và quản lý sản
xuất, chế biến, tiêu thụ rau cần lưu ý:
- Việc tổ chức và quản lý SX-CB-TT rau đòi hỏi phải được hình thành trên
cơ sở một dây chuyền đồng bộ, khép kín từ kỹ thuật gieo trồng và trình độ thâm
canh cao, đến quy trình xử lý hợp lý sau thu hoạch, tạo nguồn hàng rau phục cho
chế biến hoặc mang đi tiêu thụ ngay, cần có hệ thống bảo quản và vận tải thích hợp.
- Cần tổ chức hình thức sản xuất tập trung chuyên môn hóa, tăng cường sự hợp
tác giữa các cơ sở sản xuất, chế biến rau, tăng cường mối liên kết giữa các khâu trong
chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ rau, đáp ứng được yêu cầu khối lượng rau lớn, chất
lượng, VSATTP, đảm bảo tính đều đặn và sự đồng đều trong cung ứng sản phẩm rau.
Quy hoạch hợp lý hệ thống vùng sản xuất rau, các nhà máy chế biến rau, hệ thống các
chợ, cửa hàng tiêu thụ RAT; xây dựng các vùng rau chuyên canh. Phát triển các hình
thức hợp tác, phát triển chuỗi liên kết SX-CB-TT rau một cách chặt chẽ và có hiệu quả.
Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho SX-CB-TT rau.
thể thiếu được trong quá trình phát triển ngành hàng rau và bắt nguồn từ yêu cầu
khách quan, nội tại của sự phát triển ngành hàng rau. Việc quản lý, điều chỉnh và
hướng dẫn ngành hàng rau đi theo hướng nào, tốc độ phát triển ra sao lại tuỳ thuộc
hướng phát triển chung của nền nông nghiệp và nền kinh tế đất nước, tuỳ thuộc
hướng phát triển của địa phương của vùng miền. Những chức năng chủ yếu quản lý
Nhà nước đối với SX-CB-TT rau là định hướng phát triển ngành hàng rau; ban hành
các chính sách, cơ chế để thúc đẩy phát triển SX-CB-TT rau; điều chỉnh các mối
quan hệ giữa các tác nhân tham gia vào các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau;
19
hỗ trợ, giúp đỡ và bổ sung những khâu cần thiết hoặc then chốt trong quá trình phát
triển SX-CB-TT rau.
Công cụ quản lý vĩ mô hay công cụ quản lý Nhà nước đối với SX-CB-TT rau là
những công cụ được sử dụng để quản lý toàn bộ ngành hàng rau bao gồm pháp luật
kinh tế của Nhà nước, các chính sách kinh tế vĩ mô, kế hoạch phát triển SX-CB-TT rau
hay các chương trình dự án phát triển SX-CB-TT rau. Hệ thống công cụ quản lý Nhà
nước về SX-CB-TT rau trong ngành hàng rau là những phương tiện được Nhà nước sử
dụng theo những phương thức nhất định nhằm định hướng, khuyến khích và phối hợp
các khâu SX-CB-TT trong chuỗi giá trị rau để đưa ngành hàng rau đạt tới các mục tiêu
tổng thể ở tầm quản lý vĩ mô.
Tổ chức và quản lý SX-CB-TT rau ở góc độ vi mô đó là hệ thống các biện
pháp sử dụng tới mức tối đa toàn bộ nguồn đầu vào bao gồm: đất đai, tiền vốn, lao
động, kỹ thuật công nghệ và nguồn sản xuất vật chất trong một cơ sở sản xuất (hộ,
tổ hợp tác, HTX, trang trại, doanh nghiệp SX-CB-TT rau) nhằm bảo đảm sự ăn
khớp và hiệu quả trong tổ chức quản lý của cơ sở SX-CB-TT rau và định ra những
tỷ lệ nhất định giữa tất cả các bộ phận của cơ sở SX-CB-TT rau. Tổ chức và quản lý
SX-CB-TT rau bao gồm tất cả các mặt công tác của một cơ sở sản xuất như tổ chức
quản lý cung ứng vốn, đất đai, tổ chức quản lý lao động, tổ chức cung ứng giống
không gian, diện tích vùng rau, cơ cấu rau, loại rau, sản lượng rau trồng, đội ngũ lao
động … các điều kiện vật chất để hình thành nên vùng rau chuyên canh cho tương
lai. Quy hoạch sản xuất rau là để có thể phát triển sản xuất rau hàng hóa lớn, phát
triển các vùng sản xuất rau chuyên canh với những sản phẩm rau có chất lượng cao
phục vụ tiêu dùng nội địa và hướng tới xuất khẩu.
- Xây dựng chiến lược và quy hoạch các nhà máy chế biến rau, khu công
nghiệp chế biến rau là kế hoạch phát triển công nghiệp chế biến rau, sự sắp xếp bố
trí về thời gian, không gian, số lượng các nhà máy, diện tích nhà máy, công suất
hoạt động chế biến của nhà máy, khả năng tiêu dùng nguyên liệu rau đầu vào phục
vụ chế biến, cơ cấu rau chế biến, loại sản phẩm rau chế biến, sản lượng rau chế
biến,… các điều kiện về hạ tầng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, máy móc, đội
ngũ cán bộ kỹ thuật để hình thành các nhà máy chế biến rau, khu công nghiệp chế
biến rau cho tương lai.
- Xây dựng chiến lược và quy hoạch hệ thống phục vụ tiêu thụ rau là kế
hoạch phát triển hệ thống tiêu thụ rau, sự sắp xếp về thời gian, không gian, số lượng
các chợ siêu thị và hệ thống cửa hàng bán rau, quy mô diện tích các chợ và siêu thị
dành cho bán rau, xây dựng và thiết kế các kênh phân phối tiêu thụ rau, kế hoạch
21
đầu tư các phương tiện vận chuyển phục vụ tiêu thụ rau, hệ thống nhà máy sản xuất
bao bì nhãn mác… các điều kiện về kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất, hệ thống giao
thông vận tải, đội ngũ cán bộ quản lý thị trường để hình thành nên hệ thống mạng
lưới cơ sở phục vụ tiêu thụ rau cho tương lai.
Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành hàng rau cần phải chú ý:
xây dựng chiến lược ngành rau với các mục tiêu phải xuất phát từ thực tế, không
nên định mục tiêu trong một thời gian quá ngắn, kế hoạch xây dựng các nhà máy
chế biến rau cần phải gắn với quy hoạch vùng sản xuất rau, quy hoạch mạng lưới tiêu
thụ rau để đáp ứng được nguồn nguyên liệu đầu vào và giải quyết được vấn đề đầu ra
Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan hệ giữa các
tác nhân trong ngành hàng rau là sự đan xen giữa hợp tác và cạnh tranh. Các tác
nhân trong ngành hàng rau một mặt liên kết với nhau để cùng phát triển, nhưng mặt
khác cũng cạnh tranh lẫn nhau nhằm tạo ra những ưu thế độc chiếm thị trường và
thu nhiều lợi nhuận. Để điều chỉnh các mối quan hệ nhằm bảo vệ lợi ích giữa các
tác nhân trước các đối tác khác, một số tác nhân SXKD rau đã liên kết với nhau
hình thành các hiệp hội. Hiệp hội ngành hàng rau là một tổ chức gồm những người
sản xuất rau, người chế biến rau và người buôn bán rau dễ hợp tác với nhau về những
vấn đề cùng quan tâm. Hiệp hội hình thành hệ thống thu thập và cung cấp thông tin
thị trường về sản phẩm rau, xây dựng tiêu chuẩn phân loại rau, hỗ trợ dịch vụ khuyến
nông cho các thành viên trong hiệp hội và trao đổi ý kiến về chính sách với Chính
phủ về phát triển ngành hàng rau,... Chính phủ cần ban hành các chính sách trợ giúp
về tổ chức và tài chính khi thành lập các hiệp hội ngành hàng rau, sau khi thành lập
cần được sự trợ giúp ủng hộ của chính quyền các cấp để thuận lợi trong hoạt động
của hiệp hội.
* Tổ chức và quản lý Nhà nước về công nghiệp chế biến rau
Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô đối với các khu công nghiệp trong đó có
các nhà máy chế biến rau. Tổ chức thực hiện tạo lập cơ chế thu hút các nguồn vốn
đầu tư vào xây dựng các nhà máy chế biến rau tập trung theo quy hoạch. Nhà nước
quản lý và tạo điều kiện môi trường thủ tục pháp lý nhanh gọn để khuyến khích
hình thành mạng lưới hệ thống các nhà máy, khu công nghiệp chế biến rau. Nhà
nước tổ chức xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ chế biến rau như góp vốn
đầu tư vào việc xây dựng các nhà máy, đầu tư vào công nghệ chế biến rau hiện đại,
đầu tư xây dựng hệ thống dây chuyền sản xuất phục vụ quá trình chế biến rau. Ban
hành chính sách khuyến khích tăng cường đầu tư vào việc mua sắm lắp đặt các máy
móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại phục vụ chế biến rau.
23
trình kỹ thuật sản xuất rau tiên tiến hiện đại, công nghệ chế biến bảo quản rau hiện
đại. Để phát triển khoa học công nghệ trong ngành hàng rau quả thì Nhà nước cần
tổ chức thành lập một số Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao
24
công nghệ về ngành hàng rau, hình thành các Công ty dịch vụ khoa học và công
nghệ chuyển giao đối với lĩnh vực ngành hàng rau, hàng năm nhà nước dành một
nguồn ngân sách đáng kể và đầu tư một cách thực sự có hiệu quả vào các đề tài
nghiên cứu khoa học trọng điểm về lĩnh vực SX-CB-TT rau. Kinh nghiệm quốc tế
cho thấy đầu tư Nhà nước cho nghiên cứu nông nghiệp nói chung và cho phát triển
ngành hàng rau nói riêng sẽ mang lại hiệu quả cao.
1.2.2.5. Tổ chức và quản lý hoạt động khuyến nông trong sản xuất rau
Tổ chức và quản lý tốt công tác khuyến nông sẽ góp phần thúc đẩy phát triển
ngành rau. Để tổ chức và quản lý tốt khâu sản xuất rau các chính quyền địa phương
cần phải tăng cường quan tâm tới công tác khuyến nông bởi vì nông dân chuyên
trồng rau hàng hóa thường xuyên có nhu cầu được tiếp xúc với các đơn vị khuyến
nông và nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Các tổ làm công
tác khuyến nông cần thường xuyên hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, canh tác rau, nhắc
nhở, kiểm tra các hộ trồng rau thực hiện đúng qui trình kỹ thuật sản xuất để đảm bảo
sản xuất đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo VSATTP. Nhà nước cần có chính sách đào
tạo và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến nông, tăng số lượng cán
bộ công tác khuyến nông tại các cơ sở sản xuất.
Tổ chức và quản lý sử dụng các nguồn lực trong sản xuất đó là việc tổ chức sử
dụng nhiều yếu tố nguồn lực truyền thống như vốn, lao động, đất đai, cơ sở vật chất kỹ
thuật, đầu tư trang thiết bị, vật tư,… và các yếu tố của sản xuất trong thời đại mới như
khoa học công nghệ (KHCN) nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và công
nghệ tự động hóa. Trong tổ chức và quản lý sản xuất rau, các yếu tố đầu vào giống rau,
giám sát kỹ thuật trong quá trình sản xuất RAT. Để thực hiện tổ chức sản xuất RAT,
các cơ quan chức năng ở địa phương trước tiên cần xây dựng qui trình sản xuất RAT
trên địa bàn. Quy trình sản xuất RAT này phải phù hợp với điều kiện cụ thể ở các vùng
trồng rau (phù hợp về điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu…), quy trình sản xuất RAT là
cơ sở để tập huấn hướng dẫn nông dân và kiểm tra chất lượng RAT ngay từ khâu canh
tác trên đồng ruộng. Công việc này cần có sự hợp tác của nhiều cơ quan quản lý của
Nhà nước và của các nhà khoa học.
1.2.2.6. Tổ chức các hoạt động giám sát, hoạt động đảm bảo chất lượng và vệ
sinh an toàn thực phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm rau
Các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước ngành hàng rau phải thường xuyên
kiểm tra giám sát quy trình sản xuất rau, ban hành các chính sách khuyến khích đầu
tư nâng cao quản lý chất lượng sản phẩm rau. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
sản phẩm rau từ trang trại tới bàn ăn là mục tiêu mà cả cộng đồng nhân loại đang
hướng tới. Vì vậy, việc quản lý kiểm soát, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức