Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Việc Bổ Sung Chế Phẩm Em (Effective Microorganisms) Vào Thức Ăn Tới Khả Năng Sản Xuất Của Gà Broiler Nuôi Trong Chuồng Kín Và Hiệu Quả Môi Trường - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

BÙI PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM EM
(EFFECTIVE MICROORGANISMS) VÀO THỨC ĂN
TỚI KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ BROILER NUÔI TRONG
CHUỒNG KÍN VÀ HIỆU QUẢ MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2011


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

BÙI PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM EM
(EFFECTIVE MICROORGANISMS) VÀO THỨC ĂN
TỚI KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ BROILER NUÔI TRONG
CHUỒNG KÍN VÀ HIỆU QUẢ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban giám hiệu nhà trường; TS.
Lê Sỹ Trung - Trưởng Khoa, cùng toàn thể các Thầy cô giáo khoa Sau đại học,
Khoa Chăn nuôi Thú y.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Thường trực Huyện uỷ, Uỷ
ban nhân dân huyện Phú Lương, bạn bè gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng gửi tới tất cả các Thầy cô trong Hội đồng, các bạn,
anh em đồng nghiệp sự biết ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, ngày

tháng 10 năm 2011

Tác giả

Bùi Phương Thảo


iii

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan....................................................................................................... i
Lời cảm ơn ......................................................................................................... ii
Mục lục.............................................................................................................. iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt...............................................................v
Danh mục bảng.................................................................................................. vi
Danh mục các hình........................................................................................... vii
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................3
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI .................................................................3

3.5. KHẢ NĂNG CHO THỊT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT....................................56
3.5.1.Năng suất thịt............................................................................................56
3.5.2 Chất lượng thịt ..........................................................................................58
3.6. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM EM ĐẾN SÔ LƯỢNG VI KHUẨN
E.COLI VÀ SALMONELLA................................................................................60
3.6.1. Ảnh hưởng của chế phẩm EM đến vi khuẩn Salmonella ........................60
3.6.2. Ảnh hưởng của chế phẩm EM đến vi khuẩn E.coli.................................61
3.7. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM EM ĐẾN HÀM LƯỢNG KHÍ ĐỘC
H2S, NH3 CỦA TIỂU KHÍ HẬU CHUỒNG NUÔI..............................................62
3.8. SƠ BỘ HOẠCH TOÁN THU CHI ĐÀN GÀ THÍ NGHỆM ........................63
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ ...................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................67
PHỤ LỤC ..................................................................................................................73


v

DANH MỤC CÁC KÝ HIÊU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCVN:

Tiêu chuẩn Việt Nam

ME:

Năng lượng trao đổi

KPCS:

Khẩu phần cơ sở


Giáo sư, Tiến sỹ

KHKT:

Khoa học kỹ thuật

KHCN:

Khoa học công nghệ

ĐHNL:

Đại học Nông lâm

KL:

Khối lượng

Nxb:

Nhà xuất bản

ĐVT:

Đơn vị tính


vi

DANH MỤC BẢNG


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã đạt những thành tựu
xuất sắc, trong đó ngành chăn nuôi cũng có những bước phát triển đáng kể. Năm
1986 giá trị ngành chăn nuôi đạt 9.059,8 tỷ đồng, năm 2002 là 21.199,7 tỷ đồng và
năm 2006 đạt 48.654,5 tỷ đồng, chiếm 24,7 % giá trị sản xuất nông nghiệp. Trong
đó chăn nuôi gia cầm chiếm 19 % giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi. Chăn nuôi
gia cầm chỉ đứng hàng thứ hai sau chăn nuôi lợn, giữ một vai trò quan trọng trong
nông nghiệp và nông thôn ở nước ta.
Hiện nay chăn nuôi gà của nước ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân
do giá cả thị trường không ổn định, giá thức ăn tăng cao, bệnh dịch thường xuyên
xảy ra, lượng chất thải chăn nuôi thải ra gây ô nhiễm nghiêm trọng. Để giải quyết
tốt các vấn đề trên cần áp dụng các giải pháp khoa học kỹ thuật mới. Ngành công
nghiệp vi sinh vật giải quyết các khó khăn kinh tế, xã hội của toàn thể nhân loại.
Trong tương lai vi sinh vật sẽ được sử dụng rộng rãi để khử độc môi trường,
để làm sạch nước thải, các phế phụ phẩm công nghiệp và khai thác nguyên vật liệu.
Quá trình vi sinh vật còn được mô phỏ ng trong nuôi trồng thực vật không cần đất
hay là nguyên lý thuỷ canh trong nuôi cấy tế bào thực vật hoặc động vật để thu nhận
các sản phẩm quý hiếm.
Ngày nay ở nước ta công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganismas)
còn mới lạ, trong khi đó trên thế giới EM đã được coi như là một yêu cầu không thể
thiếu được trong cuộc sống, công nghệ này đã được nghiên cứu thành công ở Nhật
Bản từ những năm đầu của thập kỷ 80. Vi sinh vật hữu hiệu (EM) do GS.TS Teruo
Higa trường Đại học tổng hợp Ryukyus ở Okinawa của Nhật Bản đề xuất và thử
nghiệm thành công năm 1982. Đến nay EM đã được thử nghiệm trên 85 nước, đem
lại hiệu quả ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Trong nông nghiệp và đời sống
con người (xử lý phế thải, làm sạch môi trường, tăng sức đề kháng bệnh, tăng năng
suất cây trồng). Trong lĩnh vực chăn nuôi, dùng EM để khử mùi hôi chuồng trại
(đặc biệt là trại gà công nghiệp), bên cạnh đó dùng EM bổ sung vào thức ăn, nước

3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm EM trong khẩu phần
tới hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất trong chăn nuôi.
- Có cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi sử dụng EM trong sản
xuất nhằm nâng cao năng suất, giảm giá thành chi phí thức ăn, giảm thiểu ô nhiễm
môi trường, phát triển nông nghiệp bền vững.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Khái niệm về công nghệ sinh học
Theo Đái Duy Ban và cs (1996) [2] thì công nghệ sinh học (Biotechnology) là
một lĩnh vực rất rộng, bao hàm tất cả mọi ngành khoa học có ứng dụng vi sinh vật phục
vụ đời sống của con người. Khác với các công nghệ khác, công nghệ sinh học không
làm biến đổi về gen, tức là ở mức độ phân tử của đối tượng, mà chỉ tận dụng những đặc
tính kiểu gen (genotype) và kiểu hình (phenotype) của đối tượng, để sử dụng và chọn
lọc loại tối ưu cho mình.
Gần đây khái niệm mới về sinh học phân tử (Molecular Biotechnology) như
sau: Có hai lĩnh vực đó là công nghệ sinh học phân tử cơ bản và công nghệ sinh học
ứng dụng.
- Công nghệ sinh học phân tử cơ bản: Bao gồm tất cả mọi công đoạn về DNA ở
mức độ phân tử, tức là cắt, nối, ghép, chuyển nạp, dẫn truyền các loại gen ngoại lai có
ích và các dòng tế bào chủ thích hợp để duy trì các loại gen đó.
- Công nghệ sinh học ứng dụng: Là lĩnh vực chọn lọc nhân lên, sản xuất những
dòng tế bào đã được tái tổ hợp để thu được những sản phẩm có ích cho con người.
Hai khái niệm này chẳng qua là hai mặt chi phối lẫn nhau của một lĩnh vực
công nghệ mới, đó là công nghệ sinh học phân tử. Công nghệ sinh học phân tử là

Sản phẩm của công nghệ vi sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng, chúng
được sử dụng như các thực phẩm làm thức ăn, thức uống trực tiếp của loài người
như: Rượu, bia, dấm, sữa chua, format… Nói chung xã hội loài người phát triển
không thể không có các sản phẩm từ vi sinh vật, phạm vi ứng dụng của vi sinh vật
và các sản phẩm của nó rất rộng.
1.1.1.2. Vai trò của vi sinh vật đối với việc phát triển ngành nông nghiệp
Hiện tượng thiếu dinh dưỡng do khẩu phần thiếu đạm ngày càng trở nên phổ
biến ở nhiều nơi có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát dục bình thường của gia
súc, gia cầm, làm cho con vật non phát triển kém, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp, con
vật trưởng thành thì sức khoẻ kém, sức sản xuất giảm sút. Để giải quyết khó khăn
nói trên ngành công nghiệp nước ta đã bắt đầu ứng dụng, chế biến một số loại thức
ăn theo phương pháp vi sinh vật. Đó là dùng vi sinh vật để cải thiện phẩm chất thức
ăn, cung cấp thêm protein, axit amin, vitamin, Enzym…Theo Nguyễn Thị Liên và
cs (2004) [13] thì vi sinh vật là loại sinh vật đơn giản nhất có khả năng phát triển


5

nhanh (phân bào hoặc bào tử), vi sinh vật có khả năng tổng hợp các chất đơn giản
trong môi trường thành chất hữu cơ phức tạp. Vi sinh vật chứa trong tế bào nhiều
protein và lipit (50 % protein, 10 % lipit). Ngoài ra nhiều loại vi sinh vật dùng để
chế biến thức ăn gia súc (men rượu, nấm mốc, tiểu cầu, …) có chứa nhiều axit amin
như: Lizin, valin, methionin, triptophan và nhiêu vitamin (A, B1 B2, B6, B12, C, PP).
Thêm vào đó vi sinh vật còn chứa nhiều Enzym và nhiều yếu tố quan trọng chưa
xác định được, trong đó có khả năng sản sinh ra kháng sinh tố. Thức ăn vi sinh vật
có thể cung cấp một lượng nhiệt lượng rất lớn, có khoảng 5,7Kcal/1g bột rong tiểu
cầu, trong khi đó ở lúa nếp là 3,5Kcal/1g, khoai lang là 1,2Kcal/1g.
Các nhà khoa học đã tính toán rằng: Nếu lợi dụng vi sinh vật để chuyển hoá
thành protein thì giá thành rẻ gấp 10 lần so với thịt bò cùng khối lượng.
Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (1979) [3] trong công nghiệp chúng ta có sáng

và tổng hợp các chất xảy ra mạnh.
1.1.2. Một số ứng dụng của công nghệ vi sinh vật
1.1.2.1. Sản xuất sinh khối vi sinh vật
Ngày nay việc sử dụng nhóm vi sinh vật có lợi trong công tác sản xuất chế
phẩm sinh học và chế biến thức ăn đã trở nên phổ biến và rất đa dạng, mà sản xuất
sinh khối vi sinh vật là một nhóm điển hình, vì vậy ngoài việc giải quyết thức ăn
protein theo hướng truyền thống là trồng trọt, đánh bắt hải sản và chăn nuôi, từ
nhiều năm nay người ta đã chú trọng đến hướng sản xuất các loại sinh khối giàu
protein, các thuật ngữ protein đơn bào ( SCP - Single cell protein). Hoặc protein
công nghiệp (IP - Industrial protein) ngày càng trở nên quen thuộc với chúng ta.
Tảo là một ví dụ điển hình về loại sinh khối vi sinh vật giàu dinh dưỡng. Tảo có giá
trị dinh dưỡng cao, tổng hợp các axit amin không thay thế có thể chiếm tới 42 %,
đặc biệt lizin cao hơn nhiều so với lúa mạch. Hàm lượng protein chiếm 40 % - 55
%, hàm lượng vitamin A, vitamin B, vitamin K và nhiều yếu tố sinh trưởng khác
cao hơn nhiều so với phần lớn các loại thức ăn khác.
Ở Việt Nam đưa tảo Spirullina vào khẩu phần ăn cho quân đội (30g tảo
khô/ngày) mà không có gì khác thường. Tảo đã được sử dụng rộng rãi trong chăn
nuôi gà, có tác dụng làm tăng màu lòng đỏ trứng và làm cho thịt vàng, gà sinh
trưởng tốt và ít mắc bệnh. Kết quả thí nghiệm tại trại gà Cầu Diễn với tỷ lệ 1 % tảo
bổ sung cho kết quả tốt. Ở Nhật Bản còn sử dụng tảo để nuôi lợn trong gia đình và
tăng thu nhập 50 %. Ở nước ta sử dụng tảo nuôi cá tăng tỷ lệ nuôi sống của cá bột
trong điều kiện nuôi với mật độ cá dày.


7

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1980) [20] các loại rong cloerlla ở Trung Quốc đã
sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Ở Liên Xô người ta cũng chế biến rong
làm thức ăn cho gia cầm và còn là nguồn dinh dưỡng cho các nhà du hành vũ trụ. Ở
Mỹ, Anh, Đức người ta chú trọng lấy rong làm nguyên liệu chế biến thuốc và chế

enzym xenlulaza mạnh được tuyển chọn từ những chủng vi sinh vật ưa kiềm từ các
mẫu rác thải, bùn, hoạt tính suối nước nóng, đất... Trước đây con người sản xuất chế
phẩm enzym từ động, thực vật với khối lượng khá lớn, nhưng không kinh tế mà còn
không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng do lượng enzym trong cơ thể động vật, thực
vật rất hạn chế. Do vậy mà vi sinh vật có thể tổng hợp đưa một lượng enzym ngoại
bào rất lớn, vượt xa nhu cầu bản thân do chúng có khả năng sinh enzym thích ứng.
Theo Nguyễn Khắc Tuấn (1996) [44] trong rất nhiều enzym thì các enzym
ngoại bào amylaza, proteaza và xitolaza được sử dụng nhiều trong công tác chăn
nuôi. Enzym proteaza là nhóm enzym thủy phân có các liên kết peptid (- CO - NH ) trong phân tử protein hoặc polipeptid để cho axit amin, còn enzym xitolaza bao
gồm: Celloza, hemicelluloza, pentozaza. Enzym xitolaza có nhiều trong tế bào vi
sinh vật. Trong chăn nuôi, sử dụng enzym với mục đích làm tăng giá trị dinh dưỡng,
tăng hệ số tiêu hóa thức ăn, giảm giá thành sản phẩm...enzym đã được sử dụng ở
nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Nhật, Pháp, Liên Xô, Tiệp Khắc...
Theo Đái Duy Ban và cs (1996) [2] các enzym có thể chiết xuất từ thực vật
như Papain từ đu đủ hoặc nấm mốc, glucoxydaza catalaza từ Aspergillus, từ động
vật như lipaza từ tuyến nước bọt của bò. Sử dụng Papain để làm mềm thịt, amilaza
để thuỷ phân tinh bột thành các đường đơn.
1.1.2.3. Vi sinh vật với việc tổng hợp kháng sinh dùng trong chăn nuôi
Nguyễn Khắc Tuấn (1996) [44] cho biết một số kháng sinh dùng trong chăn
nuôi được sản xuất từ các loại vi sinh vật sau:
Penicillin từ nấm mốc Penicillium notatum và P.Chrysogenum Streptomycin
từ xạ khuẩn Actinomyces aureofaciens.
Neomyxin từ vi khuẩn Streptomyces fradiae.
Tetraxyclin và oxytetraxyclin từ xạ khuẩn Actinomyces rimosus.
Oleandimixin từ vi khuẩn Streptomyces erythreus.
Spiramixin từ vi khuẩn Streptomyces ambofacius.
Tilozin từ vi khuẩn Streptomyces tradiae.


9



10

Đái Duy Ban và cs (1996) [2] cho rằng strep được dùng làm thuật ngữ biểu thị
là đã chọn thành công một dòng streptomyces mang một loại plasmid vector biểu
thị, chứa một gen ngoại lai để sản xuất một thành phẩm protein nào đó. Một số
thành phần đã được sản xuất và ứng dụng bằng công nghệ sinh học phân tử sử dụng
streptomyces đó là:
- Yếu tố hoại tử khối u (Tumour Necrosis Factor = TNF).
- Interperon α-1 (IFNα-1 ) chống khối u ung thư.
- Interleukin 1β (IL-1β): có tác dụng kích thích tế bào LymphoT.
- Tiền chất Insulin (Froin Sulin)
- Chất dụ côn trùng pheromone cAD1
- Interleukin 2 (IL-2): có tác dụng kích thích hệ miễn dịch hoạt động.
- Receptor CD+4 hoà tan: gây miễn dịch phòng chống HIV/AIDS
- Chất chống đông máu Hirudis.
Tóm lại: Streptomyces có khả năng sản xuất các loại protein có phân tử lượng
lớn 5000-30.000Kda (Kda= Kilodamton, đơn vị đo lường protein). Tuy hàm lượng
thu được không nhiều, nhưng đã có một số protein quý được sản xuất theo phương
thức này.
1.1.2.4. Sử dụng vi sinh vật cung cấp vitamin
Trong thực tế sản xuất, người ta đã dùng vi sinh vật để vitamin hóa thức ăn
cho gia súc.
Nguyễn Vĩnh Phước (1980) [20] cho biết để sản xuất ra vitamin B12, sử dụng
những vi khuẩn sau: Propionic bacterium Preudreichii, Propionic Bacterium shermanii,
Bacillus megalherium, Bac.Methanicus. Ngoài ra còn làm men bã rượu bằng những vi
khuẩn tổng hợp B12, Chế phẩm vi sinh vật cố định đạm azotobacterium cũng là nguồn
cung cấp vitamin B12, quan trọng được chú ý trong chăn nuôi. Người ta sản xuất
vitamin B2, dựa trên tác dụng lên men của vi khuẩn clostridium acetobutilicum (trong

vật không ăn men rượu, ở gà con mới nở đến 30 ngày khi cho ăn men rượu tăng 15
- 22 % so với đối chứng.
Nguyễn Lân Dũng và cs (1979) [3] cho rằng: Nấm men sản sinh nhanh chóng,
sinh khối của chúng lại giàu protein, vitamin.
Vì vậy nấm men còn được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp sản xuất
thức ăn bổ sung cho người và gia súc, gần đây nấm men được sử dụng để sản xuất
cả lipit. Nấm men (yeast, levure) là tên chung để chỉ nhóm nấm, thường có cấu tạo
đơn bào và thường sinh sôi nẩy nở bằng lối nảy chồi (budding). Từ năm 1680,


12

Levenhuc đã quan sát thấy nấm men, từ năm 1858 Paxto đã nghiên cứu khá tỉ mỉ về
men rượu.
Sữa chua lên men (sữa chua) được sản xuất do sự phát triển của những vi sinh
vật, đặc biệt làm biến đổi đường của sữa lactoza thành axit lactic...Những chế phẩm
sữa này được tạo ra từ những quá trình lên men lactic của vi khuẩn lactic làm sản
sinh ra axit lactic từ lactoza, có tác dụng kiềm chế sự phát triển của vi khuẩn gây
thối. Sự có mặt của axit lactic trong đường ruột làm tăng sự tiêu hóa photpho và
canxi của cơ thể. Trong sữa chua số lượng vitamin B, vitamin PP tăng lên. Những
trực khuẩn lactic và các men sữa có khả năng bài tiết chất kháng sinh, kiềm chế sự
phát triển của Staphylococus và các tác nhân gây bệnh đường ruột và tiêu diệt các
loại vi khuẩn này. Mặt khác sự lên men lactic làm ức chế quá trình thối rữa nên
được dùng làm bảo quản thực phẩm và thức ăn gia súc (thức ăn ủ tươi, ủ chua). Sự
lên men lactic là cơ sở của cách muối dưa cải, bắp cải, dưa chuột và nấm, của các
phương pháp ủ thức ăn cho gia cầm. Những loại thức ăn ủ chua như Kephia, axit
dophilis làm thức ăn ức chế các vi khuẩn gây thối giữa trong ruột.
Sữa chua đặc axidophilis chế từ sữa bò tươi đã khử mỡ và khử khuẩn theo
phương pháp pasteurs ở 85-90oC, bảo quản nguội ở nhiệt độ bằng 38-42oC. Dưới
tác dụng của axit lactic, lactobacterium bungarcium, Acidophilum, streptôccus

men còn góp một phần đáng kể trong việc sản xuất cồn, rượu, bia...để phục vụ cho
công nông nghiệp, cho ngành dược phẩm.
Theo Ngô Thế Trang và cs (1999) [43] đã nghiên cứu sản xuất bánh men từ
chúng Aspergillus awamori, với Ao=50-55 % thì hiệu quả thu hồi rượu 0,7-0,74lit/kg
gạo. Còn giống S.cerevisiae với Ao 4-8 % thì khả năng lên men rượu của bánh men đạt
0,8lít/kg gạo, với thời gian ủ bánh men là 24-30h thì thu được lượng cồn 40 %.
Đinh Thuý Hăng và cs (1998) [6] cho thấy chủng nấm men penicillium
purpurogenum stoll phân huỷ tốt cả 3 loại dầu mỏ ký hiệu DO, FO, Mioxen. Nếu
dùng chúng vào việc xử lý ô nhiễm môi trường kiểm soát được (xử lý ao hồ...) thì
chúng ta có thể giảm được thời gian xử lý một cách đáng kể. Các chủng nguyên liệu
này sẽ là nguồn nguyên liêu quý giá cho công nghiệp phân huỷ sinh học, một biện
pháp hữu hiệu để làm sạch môi trường sống của chúng ta.
1.1.2.6. Công nghệ sinh học phân tử và vacxin tái tổ hợp gen
Những tiến bộ mới của công nghệ vi sinh vật đã mở ra hướng nghiên cứu và
ứng dụng mới để sản xuất ra vacxin. Đó là những nhóm vacxin thuộc thế hệ mới,


14

vacxin tái tổ hợp gen. Về góc độ miễn dịch, vacxin là chế phẩm vi sinh vật, chứa
chính tác nhân gây bệnh hay sản phẩm của chúng (DNA, RNA) đã làm giảm độc
hoặc vô độc bằng các phương pháp lý, hóa, sinh học, không còn khả năng gây bệnh
đối với đối tượng hưởng vacxin (gia súc, gia cầm). Nhưng khi đưa vào cơ thể bằng
nhiều phương pháp khác nhau, có khả năng kích thích cơ thể tạo ra 2 loại miễn dịch
là: Miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào nếu vi sinh vật gây bệnh xâm nhập,
chúng sẽ bị loại trừ ra ngoài cơ thể. Khi thức ăn của gia súc, gia cầm bảo quản và
xử lý không tốt, sẽ hình thành những nhóm vi sinh vật gây hại, chúng hoạt động
mạnh và tạo thành những nấm mốc làm hỏng thức ăn và sản sinh ra nhiều độc tố,
khi động vật ăn phải những thức ăn này làm cho con vật bị còi cọc, chậm lớn, tăng
chi phí thức ăn, tổng hợp protein bị giảm sút dẫn đến khả năng tổng hợp kháng thể

và các enzym. Với hàm lượng Aflatoxin < 200 ppb tới vài chục ppb, bổ sung chế
phẩm sinh học là hoàn toàn thích hợp.
1.1.3. Giới thiệu về chế phẩm EM
1.1.3.1. Lịch sử ra đời của EM (Effective Microorganismas)
Từ những năm đầu của thập kỷ 80 do ảnh hưởng của khí thải từ các nhà máy
sản xuất chế biến, rác thải, do sự lạm dụng của con người về sử dụng phân bón hoá
học, thuốc trừ sâu; do chiến tranh nguyên tử, vũ khí hạt nhân trên thế giới đa gây ra
hiện tượng hiệu ứng nhà kính, đất đai trở nên căn cỗi, trơ cứng, môi trường bị ô
nhiễm nghiêm trọng, sức khoẻ con người và động vật bị đe doạ.
Đứng trước những thảm hoạ của sự mất cân bằng về môi trường sinh thái,
trong những năm đầu thập kỷ 80, Teruo Higa ở trường Đại học tổng hợp Ryukyus
Okinawa Nhật Bản đã đưa ra luận điểm về vi sinh vật có ích đã được nuôi cấy và sử
dụng như một phương thức để tăng điều kiện sử dụng đất đai, chống bệnh và tăng
cường hiệu quả của việc sử dụng chất hữu cơ của cây trồng. Giáo sư Teruo Higa
kiên trì đấu tranh cho quan điểm mở rộng các chế phẩm sinh học để đẩy lùi việc sử
dụng thuốc hoá học và phân bón hoá học, cộng với đó là sự ảnh hưởng của khí thải
các nhà máy công nghiệp vì các yếu tố này làm cho tầng ozon bị phá huỷ, đất đai
trở nên cằn cỗi, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, sức khoẻ của con người và
động vật bị đe doạ và ảnh hưởng.
Teruo Higa đã nghiên cứu và chế tạo thành công chế phẩm sinh học EM, đó
là một nhóm vi sinh vật hữu ích bao gồm từ 80-125 loài vi sinh vật thuộc 10 chi
khác nhau. Bao gồm vi khuẩn lactic, vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lên men, nấm
men và xạ khuẩn. Hiện nay đã có 20 nước sản xuất được EM điển hình đó là Nhật


16

Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Hà Lan... và khoảng trên 80 nước đang dùng thử
nghiệm trong đó có Việt Nam. Theo Juzo Kokubu thì EM đem lại hiệu quả nhiều
lĩnh vực hoạt động, cuộc sống của con người (bao gồm làm sạch môi trường, tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status