Nghiên Cứu Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Và Phương Pháp Đánh Giá Sức Sản Xuất Sữa Của Bò Lai Hướng Sữa Tại Trung Tâm Nghiên Cứu Bò Và Đồng Cỏ Ba Vì – Hà Nội - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

DƯƠNG NHƯ HÒA

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT SỮA CỦA
BÒ LAI HƯỚNG SỮA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BÒ
VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2011


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

DƯƠNG NHƯ HÒA

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT SỮA CỦA
BÒ LAI HƯỚNG SỮA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BÒ
VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ – HÀ NỘI
Chuyên ngành:CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS: TRẦN TRANG NHUNG
TS: PHẠM VĂN GIỚI

người luôn động viên, định hướng khoa học cho tôi. Xin cảm ơn các anh chị
em trong Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi; xin cảm ơn
gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn
thành Luận văn này.
Một lần nữa, cho tôi được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái nguyên, ngày tháng năm 2011
Tác giả

Dương Như Hòa


iii

MỤC LỤC
Trang

Lời cam đoan ...................................................................................... i
Lời cảm ơn......................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................. iii
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt...........................................................v
Danh mục bảng................................................................................. vi
Danh mục các hình .......................................................................... vii
MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................... 4
1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa ............................................4
1.1.1. Ảnh hưởng của giống ........................................................................4
1.1.2. Ảnh hưởng của lứa đẻ .......................................................................6
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước ....................................7
1.2.1. Tình hình chăn nuôi và công tác giống bò sữa ngoài nước và

nhóm bò lai F1, F2, F3 ................................................................................43
3.3. Năng suất sữa theo dự đoán của 3 nhóm giống dựa vào các thông số
từ đường cong lý thuyết, năng suất sữa thực tế và sai lệch giữa chúng .......51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ...........................................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................55


v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO

: United nations food and Agricuture Organization

HF

: Holtein Friesian

LSM

: (least square mean) Giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất

NSS

: Năng suất sữa

P

: Mức xác suất


: Sản lượng sữa trung bình các lứa

SSX

: Sức sản xuất

TCTK

: Tổng cục thống kê

SLStbn1 : Năng suất sữa trung bình theo ngày ở các lứa sữa 1
SLStbn2 : Năng suất sữa trung bình theo ngày ở các lứa sữa 2
SLStbn3 : Năng suất sữa trung bình theo ngày ở các lứa sữa 3
F1, F2, F3 : Phẩm giống bò sữa lai 50%, 75% và 87,5% HF với Laisind


vi

DANH MỤC BẢNG
Trang

Bảng 1.1 Năng suất sữa của một số nhóm giống HF lai...................................5
Bảng 1.2. Sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm 2001 - 2010 .......................22
Bảng 1.3. Bình quân sữa tiêu dùng /người hàng năm......................................23
Bảng 1.4. Dự báo số lượng bò, sản lượng sữa của Việt Nam 2010-2020 .......24
Bảng 3.1.Sản lượng sữa bq/ck 305 ngày (kg) của bò HF lai tại Ba Vì theo
các nhóm giống và tương tác giữa chúng .........................................35
Bảng 3.2. Kết quả phân tích phương sai về ảnh hưởng của nhóm giống, lứa
đẻ và tương tác giữa nhóm giống – lứa đẻ đến năng suất sữa cua
bò HF lai nuôi tại khu vực Ba Vì......................................................36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê ngày 01/10/2010 của Tổng cục Thống kê công
bố, ngành sữa Việt Nam sản xuất trong nước đạt 306.000 tấn sữa tươi nguyên
liệu, tăng 10,2% so với năm 2009, nhưng tiêu dùng sữa và sản phẩm sữa trung
bình ở nước ta là 14,5 kg/người/năm với dân số cả nước năm 2010 ước tính là
86,93 triệu người (TCTK, 2010[61]).. Như vậy, sản xuất đã không đáp ứng đủ
nhu cầu, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 78% sữa (chủ yếu là sữa bột)
phục vụ nhu cầu tiêu dùng sữa và các phẩm sữa trong nước ngày càng tăng do
gia tăng dân số. Mặt khác quá trình đô thị hoá, thu nhập và nhận thức ngày
càng cao của người tiêu dùng về tầm quan trọng dinh dưỡng của sữa đối với
con người, đặc biệt là trẻ em và người già. Để giảm chi phí ngoại tệ trong việc
nhập khẩu sữa và giải quyết công ăn việc làm cho cộng đồng, phát triển chăn
nuôi bò sữa là một trong những giải pháp đáp ứng yêu cầu đó. Ngày
26/10/2001 Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 167/2001/QĐ-TTg về
“Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời
kỳ 2001-2010”.
Quyết định của Chính phủ đã thúc đẩy phong trào chăn nuôi bò sữa
trong cả nước, từ 35 ngàn con năm 2000 lên 107,5 ngàn con năm 2005 và trong
vòng 6 năm trở lại đây (2005-2010), số lượng bò sữa ở mức trên dưới 110 ngàn
con (TCTK, 2010[69]). Tuy vậy, sản xuất sữa từ chăn nuôi của ta cũng chỉ đáp
ứng được khoảng 20-25% (FAO, 2011[62]). Do vậy, việc thúc đẩy phát triển
chăn nuôi bò sữa để phục vụ nhu cầu tiêu thụ sữa và các sản phẩm sữa là một
thực tế và rất cấp bách.
Từ những năm 1970, nước ta đã nhập một số giống bò ngoại có năng
suất sữa cao như Holstein Friesian (HF), Brown Swiss từ CuBa. Năm 2001,
nước ta đã nhập thêm bò HF từ Mỹ và Australia để nhân giống tạo đàn bò sữa




3

giải pháp khoa học kỹ thuật hữu hiệu chăn nuôi bò HF lai nhằm góp phần
nâng cao năng suất sữa và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
- Xây dựng đường cong tiết sữa tiêu chuẩn để mô phỏng và đánh giá
năng suất sữa theo ngày, dự đoán sớm sản lượng sữa, trên cơ sở đó giúp định
hướng xây dựng khẩu phần ăn và quy trình chăm sóc phù hợp để khai thác tốt
nhất tiềm năng năng suất của chúng.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa
Sức sản xuất (SSX) sữa của bò sữa bị chi phối bởi nhiều yếu tố: di
truyền và môi trường. Tính trạng sản lượng sữa (SLS) là một trong những chỉ
tiêu đánh giá sức sản xuất sữa. Tính trạng SLS lứa 1 (SLS1), SLS lứa 2 (SLS2),
SLS lứa 3 (SLS3) và SLS trung bình các lứa đầu (SLStb) đều bị ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố.
SLS1 bị ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê rõ rệt bởi tất cả các yếu tố: tuổi
đẻ, khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc và mùa vụ đẻ với
mức xác suất rất cao và tính trạng SLS2 cũng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi tất cả
các yếu tố với mức xác suất cao, ngoại trừ tuổi đẻ. Trong số các yếu tố đó,
khu vực chăn nuôi, nguồn bố và nguồn gia súc gây ảnh hưởng có ý nghĩa với
mức xác suất rất cao, yếu tố nguồn mẹ và mùa vụ đẻ gây ảnh hưởng với mức
xác suất thấp. Tương tự, tính trạng SLS3 bị ảnh hưởng rõ rệt bởi tất cả các
yếu tố với mức xác suất cao, ngoại trừ tuổi đẻ và nguồn mẹ. Trong lúc đó,
tính trạng SLS bị ảnh hưởng có ý nghĩa bởi các yếu tố tuổi đẻ, khu vực chăn


2267±248

2515±267

F2 (3/4HF)

3102±321

3385±319

3657±307

F3 (5/8HF)

2895±282

3209±303

3417±306

F3 (7/8HF)

3228±301

3578±296

3771±291

Sản lượng sữa trung bình của 3 lứa sữa đầu của mỗi nhóm bò lai hướng

những chu kỳ này tăng khoảng 40 - 50% so với sản lượng sữa ở chu kỳ 1.
Theo Vũ Chí Cương và CS (2006)[3], sản lượng sữa cao nhất của bò F2 và F3
cũng vào chu kỳ 4. Theo Lê Đăng Đảnh (1996)[5], bò F1 và F2 có sản lượng
sữa cao nhất là vào chu kỳ 5 và 6. Như vậy, có thể nói các loại bò sữa nuôi ở
Ba Vì có diễn biến sản lượng sữa qua các chu kỳ theo đúng quy luật.
Năng suất sữa của các giống và các lứa đẻ thể hiện ở Bảng 3.2 cho thấy
bò lai F3(5/8) ở lứa 2 cho sản lượng sữa cao nhất (4296,39 kg/chu kỳ) cao hơn
bò lai F2 (4239,75 kg/chu kỳ) và hơn bò lai F1 (3142,49 kg/chu kỳ) trong cùng
lứa. Với lứa sữa 3, giống F3 (3927,84 kg/chu kỳ) có năng suất cao hơn giống
F1 (3153,05 kg/chu kỳ) nhưng cao không rõ rệt với giống F2 (3900,69 kg/kỳ).
Từ kết quả này có thể xác định lứa sữa cho SLS cao để xây dựng kế
hoạch phát triển chăn nuôi, chọn lọc, sử dụng khai thác thích hợp, loại thải và
thay thế đàn đạt hiệu quả cao vì yếu tố SLS trên từng lứa tương đối chính xác.
Tùy theo giống bò, lứa đẻ mà cho lượng sữa khác nhau, nếu bò sữa mà cho
sữa đạt SLS yêu cầu thì giữ để khai thác và khai thác ở những lứa tiếp theo.
Cụ thể trong nghiên cứu này, bò đẻ lứa thứ nhất phải đạt SLS 2868,37 -


7

3254,42 kg/chukỳ, lứa thứ hai phải đạt 3142,49 - 4296,39 kg/chukỳ, lứa thứ
ba phải đạt 3153,05 - 3927,84 kg/chukỳ thì đạt yêu cầu và được giữ lại tiếp
tục nuôi dưỡng và khai thác, những bò có SLS thấp hơn nhưng thấp hơn nhiều
so với SLS tiêu chuẩn thì loại thải và thay mới, đồng thời cần lưu ý với lứa
thứ nhất có sản lượng sữa kém hơn lứa thứ 2, 3 và giảm dần khi đẻ nhiều (khi
không còn khả năng sinh sản bò bị loại thải). Điều này giúp cho người chăn
nuôi quản lý tốt đàn bò sữa lai và chủ động về giống đồng thời có một kế
hoạch lâu dài và chủ động đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước
1.2.1. Tình hình chăn nuôi và công tác giống bò sữa ngoài nước và

sữa cao, nhưng khả năng thích nghi với môi trường nóng ẩm kém, khả năng
chống chịu bệnh tật không cao và thường có các vấn đề về khả năng sinh sản
(không động dục, động dục chậm, sinh đẻ khó, hay sót nhau …), bò sữa thích
nghi với điều kiện chăn nuôi của Thailand là loại bò lai HF có tỷ lệ máu HF
bằng hoặc thấp hơn 75%. Tuy nhiên các nhà chăn nuôi Thailand lại cho rằng
việc cải tiến di truyền đàn bò sữa chủ yếu phải dựa vào giá trị gây giống (khả
năng sản xuất sữa) của các cá thể bò đực và bò cái, còn tỷ lệ máu các loại chỉ
là vấn đề tham khảo. Chính vì vậy Thailand giữ lại làm giống tất cả những
con bò sữa có khả năng sản xuất sữa cao và thích nghi với điều kiện nóng, ẩm
bất kể tỷ lệ máu HF là bao nhiêu.
- Từ năm 1994 đến nay, Thailand đã gây tạo đàn bò sữa theo 2 hướng:
+ Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF cao (trên 75%) bằng cách phối bò
đực giống HF Canada với bò cái giống HF Canada trong 3 đời (nhóm 1), phối
giống bò đực giống HF Canada với bò cái lai HF có tỷ lệ máu HF bằng hoặc
trên 75% ( sản lượng sữa trên 3,500kg) trong 3 đời (nhóm 2). Sau đó dùng bò
đực giống HF thuần tạo ra trong nước (nhóm 1) phối với bò cái lai HF ở
nhóm 2. Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 4.500kg/chu kỳ tiết sữa.
+ Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF 75% bằng cách: phối giống bò đực
giống HF với bò cái Zebu, bò cái địa phương. Sau đó cố định đàn bò lai HF


9

có tỷ lệ máu 75%. Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 3.500kg/chu kỳ
tiết sữa.
- Hiện nay phần lớn đàn bò sữa đang nuôi ở Thailand là bò lai HF
(89,52%) với các tỷ lệ máu khác nhau: 50% máu HF có tỷ lệ 1,8%; 62,5%
máu HF có tỷ lệ 6,10%; 75% máu HF có tỷ lệ 30,99%; 87,5% máu HF có tỷ
lệ 42,12%; 93,75% máu HF có tỷ lệ 16,08% và 100% máu HF có tỷ lệ 1,43%.
Thailand có thể phát triển chăn nuôi bò sữa với tốc độ nhanh như vậy

sinh trùng nguy hiểm cho bò sữa cho nên sau khi nhập khẩu về năm đầu có
khoảng 20 - 25% bò bị đào thải vì không thích nghi với môi trường, khoảng
20% bị đào thải ở thời gian vắt sữa lứa 1, khoảng 25% bị đào thải trong thời
gian vắt sữa lứa thứ 2, chỉ khoảng 30 - 35% số bò vắt sữa được 3 - 4 lứa và có
khoảng 5% số bò sống được và cho sữa đến 10 năm tuổi.
Chương trình cải tạo giống (DHI) của Đài Loan: Nhập tinh đông lạnh
bò đực thuần giống HF cao sản, tuyển chọn bò đực giống thuần giống HF của
Đài Loan để sản xuất tinh đông lạnh trong nước, sử dụng thụ tinh nhân tạo
cho trên 90% tổng số bò sữa để cải tiến lượng sữa. Chương trình DHI đề ra các
chỉ tiêu chọn lọc cụ thể: Sản lượng sữa/chu kỳ trên 7.000lít; Tỷ lệ protein phải
đạt 3,2 - 3,3%; Tỷ lệ mỡ sữa đạt 3,75 - 3,9%; Chỉ tiêu vi sinh vật của sữa dưới
300.000 tế bào/ml và Tỷ lệ loại thải đàn hàng năm là 10 - 15%.
Đặc điểm của giống bò HF của Đài Loan là chịu được nóng, ẩm, sinh sản
mùa nóng, điều tiết phối giống sinh sản vào đầu mùa hè và sản sinh sữa vào mùa
hè. Hướng sản xuất sữa của Đài Loan tập trung chính vào các trang trại với
quy mô lớn. Có kế hoạch “bình chọn trại nuôi” đạt 4 giải “hoa mai” trở lên,
lượng sữa DHI bình quân cao và tư liệu hệ phổ hoàn chỉnh. Chọn lấy 40 hộ
chăn nuôi lấy sữa để trở thành điển hình “kinh doanh trại bò giống”. Mục tiêu
để nâng cao chất và lượng của bò sữa.
Phát triển bò sữa ở Đài Loan luôn áp dụng các thành tựu khoa học của
thế giới, áp dụng các công nghệ mới trong nuôi dưỡng, quản lý và các công
nghệ sinh sản (Viện Chăn nuôi, 2005) [36].
* Chăn nuôi bò sữa ở Ixraen.


11

Bò HF là giống bò chuyên sữa nổi tiến thế giới có nguồn gốc là của Hà
Lan. Những nơi có khí hậu lạnh và ôn đới (nhiệt độ dưới 210C) nuôi bò HF là
thích hợp nhất. Những nước nhiệt đới và á nhiệt đới thường được khuyến cáo

1978 đàn bò sữa đã tăng lên 500.000 con. Để thoả mãn nhu cầu sữa; trong các
năm 1980 - 1985, Quảng Đông đã nhập 3.318 bò HF từ New Zealand, Đan
Mạch, Hoa Kỳ, Canada, Úc về nuôi thâm canh, với biện pháp kỹ thuật chọn
lọc, nuôi dưỡng, chuồng trại, vắt sữa và quản lý cao; trong năm 2002 đã nhập
10.000 con bò sữa HF từ New Zealand, Úc, Canada, Mỹ đưa về nuôi ở các tỉnh
phía Bắc Trung Quốc. Cuối năm 2002 Trung Quốc đã có 5,66 triệu bò sữa,
tổng sản lượng sữa sản xuất trong nước đạt 11,23 triệu tấn, bình quân đạt
8,8kg/người, đã đáp ứng được 78 - 80% nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Do nhu cầu tiêu thụ sữa ngày càng tăng, năm 2002 là 12kg/người/năm,
dự kiến đến năm 2010 sẽ tăng lên 20kg/người/năm. Chính phủ Trung Quốc đã
ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát
triển sản xuất sữa, nhờ đó đàn bò sữa tăng nhanh chóng, bình quân trong 10
năm trở lại đây tốc độ tăng đàn bò sữa của Trung Quốc đạt 12%/năm. Hơn
90% bò sữa nuôi tại các trang trại tư nhân, bình quân mỗi trại nuôi từ 40 - 50
con, nhiều trại gia đình đã nuôi tới 200, 300, 400 con bò sữa.
1.2.1.2. Trong nước
Ngày nay, chăn nuôi bò sữa không còn xa lạ đối với người dân Việt
Nam. Nước ta có được đàn bò sữa chất lượng khá tốt như hiện nay là kết quả
của bao nhiêu năm dài thăng trầm và vất vả của ngành sữa và người chăn nuôi
bò sữa. Đến năm 2010, tổng đàn bò sữa của ta đã đạt 128.583 con và sản xuất
được một khối lượng sữa hàng hoá 336.000 tấn (Cục Chăn nuôi, 2010) [2].
Thực tế, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã có từ những năm đầu của thế
kỷ XX, dưới thời kỳ Pháp thuộc và phong kiến, song tốc độ phát triển chậm.
Tại Miền Nam: Từ những năm 1920-1923, người Pháp đã đưa các
giống bò chịu nóng tốt như Red Sind của Ấn Độ và bò Ongole vào nuôi tại
Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội với mục đích nuôi thử nghiệm và lấy sữa
phục vụ cho người Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng bò sữa thời đó còn


13


giống, kỹ thuật chăn nuôi bò sữa. Năm 1960, giống bò sữa Lang trắng đen
Bắc Kinh có nguồn gốc Hà Lan, lần đầu tiên được nhập vào nước ta, nuôi thử
nghiệm tại Ba Vì, Sa Pa, Mộc Châu.
Đến thập kỷ 70, nước ta đã được Chính Phủ Cu Ba viện trợ 1000 con
bò sữa Holstein Friesian về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu, đồng thời xây
dựng Trung tâm bò đực giống Môncada để sản xuất tinh bò đông lạnh. Đây là
Trung tâm bò đực giống sản xuất tinh đông lạnh duy nhất và hiện đại nhất của
Đông Nam Á.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn
và thử thách lớn như không có lợi thế về khí hậu, trình độ và kinh nghiệm về
quản lý giống của cán bộ còn hạn chế, kỹ thuật chăn nuôi bò sữa của nông
dân vẫn thấp, hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật về chăn nuôi còn yếu, lạc hậu và
hệ thống giống chưa rõ ràng dẫn đến hiệu quả chăn nuôi chúng chưa cao, đặc
biệt đối với bò HF thuần. Vì vậy, định hướng tạo chọn giống bò lai hướng sữa
là cần thiết cho sự phát triển ngành sữa Việt Nam.
Do những lý do hạn chế đối với chăn nuôi bò sữa HF thuần nêu trên,
chúng ta cần phải chú trọng đến việc phát triển bò lai hướng sữa. Hiện tại,
điển hình các loại bò lai hướng sữa của ta là 1/2HF, 3/4HF, 7/8HF. Các nhóm
bò sữa HF lai này có nguồn gốc từ bò HF và bò Lai Sind.
Những bò cái Lai Sind có tầm vóc lớn hơn bò vàng Việt Nam, đạt khối
lượng trên 240 kg, sinh sản tốt được cho lai với giống HF để tạo ra nhóm bò lai
hướng sữa Việt Nam với tỷ lệ nguồn gen HF và LS khác nhau. Đến nay, những
nhóm bò lai hướng sữa này đã chứng tỏ được khả năng thích nghi tốt đối với
môi trường sinh thái của nước ta, đã nuôi được ở nhiều vùng của đất nước và
đạt hiệu quả kinh tế khá cao. Trong thực tế, bò lai hướng sữa đã thích ứng với
người chăn nuôi của nước ta, thực sự đã đóng góp rất lớn làm tăng khối lượng
sữa hàng hóa, cung cấp cho cộng đồng ngày một nhiều hơn trong những thập
kỷ qua và đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người chăn nuôi.




16

cứu hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa tuổi đẻ lần đầu, SLS và tỷ lệ
mỡ sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam. Nguyễn Văn Đức, Trần Trọng Thêm,
Phạm Văn Giới (2011) [9], "Nghiên cứu các giải pháp về giống để nâng cao
năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa. Phạm Văn Giới,
Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm (2006) [12] đã nghiên cứu khả năng
sản xuất sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam. Nguyễn Đăng Vang và Phạm Sỹ
Tiệp (2006) [35] đã có sự nghiên cứu về Sinh thái vật nuôi và ứng dụng trong
chăn nuôi gia súc gia cầm. Nguyễn Văn Thưởng và cs (2000) [28] đã đạt giải
thưởng KHCN nhà nước về nghiên cứu tạo bò lai hướng sữa ở Việt Nam. Lê
Việt Anh (1995)[1] xác định công thức lai và xây dựng qui trình công nghệ
nuôi dưỡng các cặp lai đã có và công thức lai mới, đưa vào xây dựng mô hình
chăn nuôi bò sữa ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
1.2.2. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhóm giống và lứa
đẻ đến năng suất sữa của bò HF con lai.
1.2.2.1. Kết quả nghiên cứu ngoài nước.
a. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhóm giống
Msanga và cs (2000) [60] nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố và
tỷ lệ của máu bò HF đến năng suất sữa và thời gian cho sữa của bò con lai ở
các trang trại quy mô nhỏ tại miền Đông-Bắc của Tanzania. Trong nghiên cứu
này kết quả cũng chỉ rõ năng suất sữa cũng khác nhau của các nhóm con lai
với mức độ tỷ lệ gen HF khác nhau (P


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status