QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TP. HỒ CHÍ MINH - 2016
QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----000-----
PHẠM TRƢỜNG SINH
TƢ TƢỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.80.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS, TS. TRỊNH DOÃN CHÍNH
TS. NGUYỄN ANH QUỐC
Phản biện độc lập:
1.PGS,TS. Nguyễn Anh Tuấn
2. PGS,TS. Phạm Ngọc Anh
Phản biện:
1. PGS,TS. Trần Nguyên Việt
2. PGS,TS. Lƣơng Minh Cừ
3. PGS,TS. Nguyễn Xuân Tế
tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn ....................................................................... 45
1.2.2. Sự ảnh hƣởng của “Tam giáo” với việc hình thành tƣ tƣởng của Trần
Quốc Tuấn ..................................................................................................... 63
Kết luận chƣơng 1 ....................................................................................... 79
Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG
CỦA TRẦN QUỐC TUẤN ....................................................................... 82
2.1. CÁC GIAI ĐOẠN CHỦ YẾU TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
TƢ TƢỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN .................................................... 84
2.1.1. Giai đoạn thứ nhất - Trần Quốc Tuấn trƣớc cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên - Mông ................................................................................... 85
2.1.2. Giai đoạn thứ hai - Trần Quốc Tuấn với ba lần kháng chiến chống
quân Nguyên - Mông ................................................................................... 89
2.1.3. Giai đoạn thứ ba - Trần Quốc Tuấn tổng kết kinh nghiệm lịch sử trong
sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta.......................................... 98
2.2. NỘI DUNG TƢ TƢỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN ...................... 104
2.2.1. Tƣ tƣởng chính trị của Trần Quốc Tuấn ........................................... 105
2.2.2. Tƣ tƣởng quân sự của Trần Quốc Tuấn ........................................... 133
2.2.3. Vấn đề nhân sinh trong tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn .................... 153
Kết luận chƣơng 2 ..................................................................................... 166
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG
TƢ TƢỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN ............................................... 168
3.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU TRONG TƢ TƢỞNG CỦA TRẦN
QUỐC TUẤN ............................................................................................. 168
3.1.1. Tính kế thừa trong tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn ............................ 168
3.1.2. Tính dân tộc trong tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn ............................ 182
3.1.3. Tính nhân văn trong tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn ......................... 188
3.2. Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƢ TƢỞNG TRẦN
QUỐC TUẤN ............................................................................................ 197
vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đƣợc vun đắp
nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc” [22, tr.
56]; cái “tạo nên cốt cách, tinh thần, bản lĩnh và sức mạnh trƣờng tồn của
dân tộc trong lịch sử và sức mạnh nội sinh trong công cuộc đổi mới” hôm
nay, tạo thành sức mạnh tổng hợp gồm kinh tế, chính trị và văn hóa nhằm
góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nƣớc và xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội.
2
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nƣớc và
giữ nƣớc. Thực tiễn lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta không
chỉ kết tinh nên truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, mà qua đó còn đúc
kết, để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Trong lịch sử
dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta, thời đại nhà Trần (1226 - 1400) đƣợc
xem là một trong những giai đoạn phát triển cao của văn hoá Đại Việt. Đó là
một nền văn hoá, là kết quả của quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển
bền bỉ, lâu dài của dân tộc ta trên cơ sở kế thừa và phát triển tinh hoa các giá
trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam qua các nền văn hóa Hòa Bình,
Gò Mun, Đồng Đậu, Đông Sơn và quá trình tiếp thu, cải biến các giá trị văn
hóa tƣ tƣởng từ bên ngoài. Trong suốt 174 năm tồn tại, vƣơng triều Trần
không chỉ đạt tới sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đại Việt, mà còn để
lại những trang sử sáng ngời với những thành tựu và chiến công vĩ đại trong
công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc. Một trong những nhân vật tiêu biểu trong
sự nghiệp giữ nƣớc của triều đại nhà Trần, đó là Hƣng Đạo Đại vƣơng Trần
Quốc Tuấn (1232? - 1300), nhà tƣ tƣởng lớn, nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân
sự kiệt xuất của dân tộc ta. Ông trực tiếp tham gia ba cuộc kháng chiến
chống quân Nguyên - Mông xâm lƣợc. Với trọng trách là Quốc công tiết
chế, ông biết hy sinh lợi ích của bản thân, gia đình, đặt lợi ích quốc gia - dân
tranh. Sự tác động mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, của nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đã, đang và sẽ đặt ra cho chúng ta nhiều
khó khăn, thách thức lớn trong việc giữ vững, phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tệ
quan liêu, sự suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống, củng cố lòng
tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc và chế độ ta.
Bối cảnh châu Á, khu vực Đông Nam Á vẫn tiềm ẩn những nhân tố
gây mất ổn định. Vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu
vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp và những âm mƣu
4
hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nƣớc ta, chế độ ta,
đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của
nƣớc ta. Vì vậy, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống Việt Nam, giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ độc lập, chủ quyền biển,
đảo, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
trong thời kỳ mới càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Những bài học “dân là gốc”; tích cực và chủ động, “đặt mồi lửa dƣới
đống củi nỏ”, “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” [112, tr. 392]; xử trí với
kẻ thù “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nƣớc dồn sức lại mà bọn
chúng đành phải chịu trói” [112, tr. 397]; giữ nƣớc từ khi nƣớc chƣa nguy,
“đề bạt đƣợc bậc hiền tài”, “gây dựng đƣợc một đội quân cha con”, “Trên
dƣới cùng ý nguyện, lòng dân không chia lìa”, “Khoan sức cho dân làm kế
sâu rễ bền gốc, đó là thƣợng sách giữ nƣớc” [112, tr. 397] của Quốc công
tiết chế Hƣng Đạo Đại vƣơng Trần Quốc Tuấn vẫn giữ nguyên giá trị lý
luận và thực tiễn sinh động, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc mà thế hệ chúng ta
tiếp tục vận dụng để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ, chống chiến tranh xâm lƣợc và phát triển đất nƣớc.
cương mục, t. 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007; Nguyễn Thiện Khảo (Chủ
biên), Danh nhân lịch sử qua các triều đại Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2009; Trịnh Quang Khanh, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc
Tuấn, Sở Văn hoá - Thông tin Nam Định, 1999; Vũ Ngọc Khánh (Chủ
biên), Nhân vật chí Việt Nam, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2009;
Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2003; Phạm Ngọc Phụng, Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. Quân giải
phóng, Sài Gòn, 1975; Trƣơng Hữu Quýnh (Chủ biên), Đại cương lịch sử
Việt Nam, t. 1, Nxb. Giáo dục, Hà Hội, 2008; Trƣơng Hữu Quýnh - Đinh
Xuân Lâm - Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch sử Việt Nam, Toàn tập (từ thời
nguyên thủy đến năm 2000), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002; Hà Văn Tấn -
6
Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ
XIII, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003; Nguyễn Thị Thu Thủy, Việt
Nam và Đông Nam Á thời kỳ chống xâm lược Nguyên - Mông, Nxb. Trẻ, TP.
Hồ Chí Minh, 1999; Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam,
tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971. Các công trình nghiên cứu trên
đã tập trung trình bày và phân tích khái quát quá trình suy vong của nhà Lý,
chỉ ra sự chuyển biến tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt ở thế kỷ
XIII và công cuộc xây dựng, củng cố chính quyền của vƣơng triều Trần gắn
liền với việc hình thành, phát triển tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn. Những
hoạt động chủ yếu của Trần Quốc Tuấn trong ba lần kháng chiến chống
quân Nguyên - Mông xâm lƣợc đƣợc các sử gia chép lại hết sức khái quát.
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả cũng đánh giá công lao của
ông đối với lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là bộ Đại Việt sử ký toàn thư - một
bộ sử lớn của dân tộc Việt Nam, có giá trị về nhiều mặt, đặc biệt là giá trị về
mặt lịch sử, văn hóa nói chung và lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam nói riêng. Theo
của thời kỳ này. Từ đó các tác giả làm rõ vấn đề xây dựng chính quyền và
nhà nƣớc phong kiến, luận giải nhu cầu xây dựng củng cố nhà nƣớc phong
kiến trung ƣơng tập quyền thời Trần là một tất yếu lịch sử. “Chính nhu cầu
này đã đòi hỏi một sự phát triển tƣơng xứng về mặt lý luận chính trị xã hội”
[105, tr. 564]. Có thể nói, “Cuộc đấu tranh nhằm giữ vững độc lập dân tộc là
một thực tiễn chính trị lớn nhất thời Lý - Trần” [105, tr. 566]. Ý thức về độc
lập dân tộc và tự chủ của đất nƣớc đƣợc đề cao, nhà Trần nhận thức đƣợc
nhân dân là cơ sở để tiến hành công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc, “ý dân”,
“lòng dân”, “khoan thƣ sức dân” là những chủ trƣơng chính trị lớn để xây
dựng đất nƣớc và hiến hành những cuộc chiến tranh giữ nƣớc đánh thắng kẻ
thù. Cũng có một số bài viết tập trung phân tích về giáo dục khoa cử “Ra đời
trong hoàn cảnh lịch sử có yêu cầu cấp thiết phải củng cố một quốc gia độc
lập thống nhất vững mạnh, … nền giáo dục khoa cử thời Lý - Trần đã đào
8
tạo nên một đội ngũ quan lại, liêu thuộc cung cấp cho bộ máy hành chính,
… xuất hiện những tác gia, tác phẩm xứng đáng với tầm vóc của một dân
tộc đang bƣớc vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên Đại Việt” [105, tr. 470 471]. Quyển Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII,
gồm có 9 chƣơng viết, tác giả đã phân tích tình hình xã hội Đại Việt trƣớc
chiến tranh (chƣơng 1), ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm
lƣợc (chƣơng 3, 6, 7), nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử (chƣơng 9).
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thắng lợi trong ba lần chống quân Nguyên
Mông xâm lƣợc là do “toàn dân đánh giặc” dân ta đoàn kết một lòng trong
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. “Lòng yêu nƣớc và sự đoàn kết của nhân dân là
một lực lƣợng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lƣợng ấy mà tổ
tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do
dân chủ. Nhờ lực lƣợng ấy mà chúng ta cách mạng thành công giành đƣợc
độc lập. Nhờ lực lƣợng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh.
nhiệm của mình đối với đất nƣớc và vận mệnh tƣơng lai của dân tộc. Đặc
biệt là Tập 2 – Từ mở đầu nhà Trần cho đến đầu đời Trần Dụ Tông (1341),
gồm có 2 quyển: Quyển thượng và Quyển hạ với 363 bài thơ - văn. Trong
đó, Quyển thượng có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận án. Những tƣ
liệu lịch sử về thân thế, sự nghiệp, nội dung tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn
qua các tác phẩm viết bằng chữ Hán nhƣ: Hịch tướng sĩ, Trả lời nhà vua
hỏi về thế giặc, Căn dặn trước khi mất. Đồng thời, các tác giả cũng đánh giá
tài năng quân sự kiệt xuất của ông - Đó là “một vị tƣớng tài kiêm văn võ”,
“một công thần của nhà Trần” và “là một anh hùng lớn” của dân tộc ta.
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung giới thiệu các tác phẩm và
thân thế sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn. Bên cạnh đó, tác giả của các công
trình trên đã có những nhận định và đánh giá về vị trí, vai trò của Trần Quốc
Tuấn đối với cuộc kháng chiến quân Nguyên - Mông xâm lƣợc. Những tác
10
phẩm của Trần Quốc Tuấn là những tài liệu rất quan trọng, hỗ trợ trực tiếp
cho quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án của tác giả.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn ở
góc độ tƣ tƣởng và văn hoá nhƣ: Trƣơng Văn Chung - Doãn Chính, Tư
tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008;
Nguyễn Hùng Hậu - Doãn Chính - Vũ Văn Gầu, Đại cương lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam, t. 1, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2002; Viện Triết
học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2004; Viện Sử học, Binh thư yếu lược, (Bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh và
Đỗ Mộng Khƣơng, Đào Duy Anh hiệu đính), Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1977; Trần Huy Liệu, Vai trò lịch sử của Trần Quốc Tuấn, Tạp chí Văn
Sử Địa, số 10 - 1955; Nhiều tác giả, Thời kỳ nhà Trần và Hưng Đạo đại
vương Trần Quốc Tuấn, Nxb. Mũi Cà Mau, 1998; Lê Xuân Mai - Nguyễn
tƣởng quân sự, nghệ thuật quân sự từ góc độ những hoạt động lý luận và
thực tiễn của Trần Quốc Tuấn với nhiều nhận định, đánh giá mang tính
chất tổng quát về sự vận dụng tài tình các tƣ tƣởng quân sự của ông trong
việc đánh thắng kẻ xâm lƣợc. Nhƣ vậy, các công trình khoa học công bố
trên đã đem lại một cái nhìn khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và quá trình
hình thành tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn. Các tác giả đã làm nổi bật tài
năng quân sự của Trần Quốc Tuấn và công lao to lớn của ông đối với lịch
sử của dân tộc.
Ngoài ra, trong 25 năm qua (1985 - 2010) các ngành hữu quan đã tổ
chức ba cuộc Hội thảo khoa học về thời kỳ nhà Trần và anh hùng dân tộc
Trần Quốc Tuấn. Hội thảo lần thứ nhất vào năm 1985 với chủ đề: “Sự
nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Hà Nam Ninh thời kỳ nhà
Trần”; đã có 50 bài báo khoa học, nghiên cứu và công bố dƣới các góc độ
khác nhau về tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, tƣ tƣởng, văn hoá thời kỳ
nhà Trần. Hội thảo lần thứ hai vào năm 1995 với chủ đề: “Thời kỳ nhà Trần
12
và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà”. Hội
thảo này có trên 40 bài báo tham luận đã công bố những vấn đề về lịch sử,
tƣ tƣởng, chính trị, kinh tế, văn hoá thời kỳ nhà Trần và một phần dành riêng
để nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn đối với công cuộc
dựng nƣớc, giữ nƣớc của dân tộc ta. Năm 1998, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau
đã chọn lọc, tổng hợp và cho ra đời cuốn sách của nhiều tác giả, mang tên
“Thời kỳ nhà Trần và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn”. Hội thảo lần
thứ ba vào năm 2000, nhân kỷ niệm 700 năm ngày mất của Trần Quốc Tuấn
(1300 - 2000), với chủ đề: “Anh hùng dân tộc, thiên tài Trần Quốc Tuấn và
quê hương Nam Định”. Trong cuộc hội thảo có gần 60 bản báo cáo tham
luận khẳng định và làm sáng tỏ thêm công lao, vai trò của ngƣời anh hùng
Từ việc trình bày, phân tích và làm rõ những nội dung tƣ tƣởng chủ
yếu của Trần Quốc Tuấn, luận án rút ra những đặc điểm, ý nghĩa và bài học
lịch sử trong tƣ tƣởng của ông đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nƣớc hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án:
Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận án cần thực hiện một số nhiệm
vụ cơ bản sau:
Một là, trình bày, phân tích và làm rõ yêu cầu xã hội Việt Nam trong
thế kỷ XIII, đặc biệt là thực tiễn của các cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên - Mông xâm lƣợc; làm rõ sự ảnh hƣởng của “tam giáo”, sự tiếp thu
và kế thừa truyền thống văn hoá dân tộc trong quá trình thình thành tƣ tƣởng
của Trần Quốc Tuấn.
Hai là, phân tích và trình bày quá trình hình thành, phát triển và những
nội dung tƣ tƣởng chủ yếu của Trần Quốc Tuấn qua các vấn đề: tƣ tƣởng
chính trị, tƣ tƣởng quân sự và vấn đề nhân sinh
Ba là, chỉ ra những đặc điểm chủ yếu, ý nghĩa và bài học lịch sử trong
tƣ tƣởng Trần Quốc Tuấn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nƣớc
14
hiện nay, đó là bài học phát huy lòng yêu nƣớc, tinh thần độc lập tự chủ, ý
thức tự cƣờng dân tộc, lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc,
xây dựng quân đội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
Luận án tập trung nghiên cứu tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn, qua các
tác phẩm tiêu biểu nhƣ: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí
truyền thư và Lâm chung di chúc.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Để đạt đƣợc mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận án đƣợc
chiến tranh nhân dân.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án đã góp phần làm rõ những tƣ tƣởng cơ
bản, đặc điểm, giá trị và bài học lịch sử trong tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn
qua các vấn đề về lòng yêu nƣớc; tinh thần độc lập tự chủ, tự cƣờng dân tộc;
phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; “khoan sức cho dân”, dân là gốc;
về tổ chức và xây dựng quân đội.
Về ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở trình bày, phân tích một cách có hệ
thống nội dung và đặc điểm tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn, những giá trị và
ý nghĩa lịch sử trong tƣ tƣởng của ông cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn
trên các phƣơng diện tƣ tƣởng, văn hoá, chính trị, quân sự mà luận án rút ra
thực sự là những bài học có ý nghĩa lịch sử bổ ích đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ đất nƣớc hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử
dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tƣ
tƣởng triết học Việt Nam, Sử học, Văn hoá học trong các trƣờng Cao đẳng
và Đại học ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận án đƣợc kết cấu gồm có 3 chƣơng, 6 tiết, 15 tiểu tiết.
16
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
TƢ TƢỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN
Theo quan điểm của triết học mácxít, trong một xã hội, tồn tại xã hội
và ý thức xã hội luôn có sự liên hệ, tác động thống nhất biện chứng với
nhau; trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, và ý thức xã hội bao
thể thấy đƣợc cơ sở kinh tế - xã hội quy định nội dung, tính chất và đặc điểm tƣ
tƣởng của Trần Quốc Tuấn nhƣ thế nào và tƣ tƣởng của ông nảy sinh, phản ánh
cũng nhƣ giải đáp những mâu thuẫn, vấn đề nào mà xã hội đặt ra? Có thể nói,
tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn, một mặt phản ánh và chịu sự quy định bởi
những đặc điểm, nhu cầu của xã hội Việt Nam thế kỷ XII - XIII; mặt khác, còn
là sự kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm tƣ tƣởng trƣớc đó.
1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA
VIỆT NAM THẾ KỶ XIII VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN
QUỐC TUẤN
1.1.1. Khái quát điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội, văn
hóa Việt Nam thế kỷ XIII – cơ sở xã hội hình thành tư tưởng của Trần
Quốc Tuấn
Quá trình hình thành và phát triển tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn
không phải ngẫu nhiên, hay từ ý muốn chủ quan của ông, mà đƣợc nảy sinh
và phản ánh từ những đặc điểm, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
của Đại Việt trong thế kỷ XIII và những vấn đề, nhu cầu mà xã hội đặt ra
cần phải giải đáp. Có thể nói tƣ tƣởng của Trần Quốc Tuấn hình thành và
phát triển chính là sự phản ánh ba đặc điểm chủ yếu của điều kiện lịch sử xã
hội Đại Việt ở thế kỷ XII - XIII. Một là, xây dựng nƣớc Đại Việt hùng mạnh
thống nhất về chính trị, kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của vƣơng triều
Trần và bảo vệ nền độc lập dân tộc; hai là, nhu cầu phát huy sức mạnh đoàn
18
kết toàn dân tộc để chống giặc Nguyên - Mông, bảo vệ độc lập chủ quyền và
lợi ích dân tộc; ba là, xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm của các cuộc
kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông.
Trước hết, tư tưởng của Trần Quốc Tuấn được hình thành và phát
Hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung, mở đầu cho triều đại nhà Trần.
Kế tục những thành quả trong việc phát triển kinh tế, chính trị - xã hội
thời kỳ nhà Lý, các vua nhà Trần tiếp tục củng cố nhà nƣớc phong kiến
trung ƣơng tập quyền vững mạnh, tăng cƣờng tiềm lực quân sự nhằm bảo vệ
đất nƣớc và chống giặc ngoại xâm.
Về kinh tế, sau khi củng cố, xác lập vƣơng triều, nhà Trần đã khôi
phục, phát triển kinh tế nông nghiệp và công thƣơng nghiệp nhằm ổn định
đời sống nhân dân. Dựa trên các tài liệu lịch sử, các nhà sử học đều thống
nhất rằng, cơ sở kinh tế của xã hội thời Lý - Trần về cơ bản là “chế độ sở
hữu nhà nƣớc về ruộng đất” [105, tr. 68], thông qua công xã nông thôn.
Quyền sở hữu nhà nƣớc về đất đai đƣợc thiết lập trên các công xã nông
thôn, còn các công xã đƣợc nắm quyền chiếm dụng và phân phối lại ruộng
đất cho các thành viên công xã. Đây là mối quan hệ sở hữu kép mang đậm
màu sắc của chế độ phong kiến phƣơng Đông. Hình thức sở hữu ruộng đất
gồm có ruộng đất sở hữu thuộc nhà nước và ruộng đất tư nhân. Hình thức
ruộng đất sở hữu thuộc nhà nước đƣợc cấu thành bởi hai bộ phận: ruộng đất
do nhà nƣớc trực tiếp quản lý và ruộng đất công làng xã (ruộng đất công do
làng xã trực tiếp quản lý). Bộ phận ruộng đất do nhà nƣớc trực tiếp quản lý
bao gồm: Sơn lăng, Tịch điền và Quốc khố. Sơn lăng là đất phần mộ, ruộng
thờ (ruộng mộ), Sơn lăng thƣờng đƣợc chọn đặt ở quê hƣơng nhà vua. Về
nguyên tắc những khu ruộng này đƣợc giao cho nông dân địa phƣơng cày
cấy nộp một số hoa lợi để dùng vào việc thờ phụng và sửa sang lăng, đền.
Tổng diện tích của ruộng sơn lăng rất nhỏ hẹp. Tịch điền là loại đất riêng
của cung đình, phần lớn các hoa lợi trên ruộng này đều sung vào kho riêng
20
của vua, dùng để tế tự, chẩn cấp cho dân nghèo hoặc để tiếp khách. Tổng
diện tích ruộng tịch điền cũng rất nhỏ hẹp. Ruộng quốc khố là một trong