1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn lịch sử của nhân loại đã khẳng định, một xã hội muốn tồn tại
và phát triển bền vững thì xã hội đó phải được phát triển một cách toàn diện
và hài hòa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm đời sống vật
chất và đời sống tinh thần. Trong quá trình phát triển của lịch sử xã h
ội Việt
Nam, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta khởi xướng, lãnh đạo và tiến hành, cùng với việc thực
hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học
công nghệ, giáo dục và đào tạo, an ninh quốc phòng, đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm xây dựng nước ta trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân
tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau
cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với các nước trên thế giới” [22, tr. 70], chúng ta còn có một trong
những nhiệm vụ rất quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta dành một sự quan
tâm đặc biệt, đó chính là việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống dân t
ộc, tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội. Bởi lẽ, văn hóa
nói chung và những giá trị tinh thần, tư tưởng của dân tộc nói riêng, không
chỉ là nền tảng tinh thần mà còn vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển xã hội. Đúng như tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục Liên hợp
đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc …
Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức có quyền. Nạn
tham nhũng, dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phong phí, ăn chơi sa đoạ
không được ngăn chặ
n có hiệu quả. Hiện tương quan liêu, cửa quyền, sách
nhiễu dân, kèn cựa, địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ
3
biến. Những tệ nạn đó gây sự bất bình của nhân dân, làm tổn thương uy tín
của Đảng, của Nhà nước.” [20, tr. 46 - 47]
Do đó, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì nhiệm vụ bảo tồn, phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống dân tộc là một trong những nhiệm vụ vừa có tính cấp
bách, vừa có tính chiến lược lâu dài, như Nghị quyế
t Trung ương năm khóa
VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ
hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội” [20, tr. 54 - 55]; và như trong Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn qu
ốc lần thứ XI, Đảng ta cũng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu văn hóa nhân loại”
[22, tr. 321]. Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, với
những đặc điểm nổi bật, đó là một
đất nước hình thành quốc gia dân tộc rất
sớm (mặc dù là nhà nước phôi thai), luôn phải đối đầu với thiên tai, dân tộc
ta đồng thời lại phải liên tiếp đấu tranh chống giặc ngoại xâm để xây dựng và
bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định nền độc lập, tự chủ của mình. Suốt
chủ quyền quốc gia, về nhân nghĩa, an dân, về vai trò của quần chúng nhân
dân đối với sự t
ồn vong của đất nước, về tư tưởng xây dựng một nền thái
bình muôn thuở. Chính vì thế, tôi đã chọn vấn đề “Tư tưởng triết học
Nguyễn Trãi - đặc điểm và giá trị lịch sử”, làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên
ngành lịch sử triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyễn Trãi là một thiên tài trên nhiều lĩnh vực, ông không chỉ là một
nhà chính trị, nhà ho
ạt động thực tiễn, mà còn là một nhà tư tưởng lớn, vì vậy
cuộc đời và sự nghiệp của ông đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học, với nhiều công trình, dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể
khái quát các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi ở
các chủ đề sau:
Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu liên quan đến
những đặc điể
m điều kiện lịch sử hình thành tư tưởng triết học của
5
Nguyễn Trãi. Tiêu biểu cho chủ đề nghiên cứu này, trước hết là công trình
Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1998. Đây là
một bộ sử có giá trị về nhiều mặt, đặc biệt là giá trị về lịch sử và lịch sử tư
tưởng Việt Nam; một di sản quý báu của nền văn hóa dân tộc. Đó là một
công trình khá đồ sộ được biên soạn bở
i nhiều nhà sử học lớn của nước ta từ
Lê Văn Hưu đời Trần qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đến Phạm Công Trứ,
Lê Hy… đời Lê Trung Hưng cùng những người cộng sự với họ. Theo bản in
từ ván khắc năm Chính Hòa thứ XVIII (1697) mang hiệu bản in Nội các
quan bản; bộ sử này gồm quyển thủ và 24 quyển, biên chép một cách hệ
thống, chi tiết tỉ mỉ các sự kiện, nhân vật lị
Phần 2 là Đại Việt sử ký tiền biên Bản kỷ, gồm 10 quyển, tác giả đề cập
đến thời kỳ lịch sử Việt Nam từ kỷ nhà Đinh (968) đến Kỷ hậu Trần, Kỷ
Thuộc Minh (1007 - 1427). Đặc biệt là từ quyển V thuộc Kỷ hậu Trần (1226)
đến quyển X thuộc Kỷ hậu Trần, Kỷ
thuộc Minh (1414 - 1427). Tác giả đi
sâu phân tích, đánh giá điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như
sự khủng hoảng, suy vong của giai cấp quý tộc nhà Trần. Bàn về vua Trần
Dụ Tông, sử thần Phan Phu Tiên viết: “Phép nhà Trần nghiêm cấm đánh bạc
như vậy mà đến đời Dụ Tông còn ngang nhiên buông thả, chiêu nạp những
người nhà giàu vào cung đánh bạc. Về sau người trong nước bắt chước
không thể
cấm được, rốt cuộc vì tệ đánh bạc mà dẫn đến mất nước” [81, tr.
427]. Sách Cương mục nhận xét: “Dụ Tông nghiện rượu, mê đàn hát, xa xỉ
làm cung điện nguy nga và tường vách chạm trổ, lãng phí tiền của, hoang
dâm, chơi bời, món gì Dụ Tông cũng mắc; cơ nghiệp nhà Trần sao khỏi suy
được”. Tác phẩm cũng phân tích, đánh giá nguyên nhân thất bại của Hồ Quý
Ly, cũng như sự xâm lược c
ủa giặc Minh. Đó chính là những điều kiện, tiền
đề kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội tác động trực tiếp đến sự ra đời và phát
triển tư tưởng triết học Nguyễn Trãi.
Cũng trong hướng nghiên cứu này, còn có cuốn Lịch triều hiến chương
loại chí (hai tập), Nxb. Sử học, Hà Nội, 1962; hay tác phẩm Đại cương lịch
sử Việt Nam (toàn tập) do Trương Hữu Quýnh,
Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu
Hãn chủ biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, năm 2010. Như tên gọi, đây là cuốn
sách trình bày khái quát, và khá sâu sắc tiến trình lịch sử phát triển lịch sử
7
Việt Nam, gồm 3 giai đoạn: Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến 1858,
lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 và lịch sử Việt Nam từ 1945 đến năm
8
dân như nước” (bài số 27, Quan hải) [70, tr. 60]; đó còn là tư tưởng về trời
đất, thiên mệnh “cây hiểm hay đâu mệnh tại trời” (bài số 27, Quan hải), [70,
tr. 60], và tư tưởng của con người suốt đời chỉ lo cho dân, cho nước: “lòng
nghĩ việc đời sinh tóc bạc” (bài số 37, Hoạ thơ tiên sinh) [70, tr. 70] với một
chí khí, một tâm hồn vĩ đại, một tấm lòng luôn lo trước cái lo của thiên hạ.
Quyể
n 2: Phụ lục Nguyễn Phi Khanh thi văn gồm 80 bài thơ. Thể hiện
Nguyễn Trãi có một người cha uyên bác, thông thái. Năm 19 tuổi ông đỗ tiến
sĩ và lý tưởng của ông cũng sống và hoạt động vì dân, vì nước.
Quyển 3: Ức Trai di tập văn loại gồm 32 bài. Đó là những bài chiếu
biểu gửi cho vua Minh, các tướng giặc Minh chiếm đóng trong các đồn;
chiếu cầu hiền tài. Ở đó thể hiện rõ t
ư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, đó là
tư tưởng về dân, về mệnh trời. Trong Chiếu hậu tự huấn (Dạy con nối ngôi)
để dạy thái tử, ông viết: “Cha đã dựng nền, mà con không xây nhà, lợp mái;
cha đã khẩn ruộng mà con không cấy lúa, trồng cây; như thế sao thành được
chí ta, sao giữ được nghiệp ta, mà mong truyền dõi lâu dài. Vả lại, trông
mong vào người có nhân, đó là dân. Chở thuyền, đắm thuyền cũ
ng lại là dân.
Giúp đỡ cho người có đức là trời, khó biết không thường cũng lại là trời” [70,
tr. 396].
Tiếp theo là Ức Trai tập, tập hạ, gồm quyển 4, 5, 6; Phủ Quốc vụ khanh
đặc trách văn hoá, Sài Gòn, xuất bản năm 1971. Trong quyển 4: Quân trung
từ mệnh tập, bao gồm các tập thư, từ gửi cho các tướng giặc Minh như: Thái
giám Sơn Thọ, Phương Chính, Vương Thông, Đả
Trung, Lương Nhữ Hốt.
Trong đó thể hiện rõ tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi. Đó là tư tưởng về
nhân nghĩa của ông. Trong quyển 5: Sự trạng (Các việc được chép). Quyển
trong thời đại phong kiến, trước sau lúc nào c
ũng luôn luôn trung thành với
lý tưởng của mình, sống cuộc đời giản dị thanh cao. Nguyễn Trãi rất tự hào
về lịch sử dân tộc, tin tưởng ở tương lai của dân tộc. Ở ông, ý thức dân tộc đã
phát triển đến trình độ cao. Ông cũng là người đã đưa chiến tranh nhân dân,
chiến tranh du kích đến đỉnh cao của nó. Trong cuộc kháng chiến chống
Minh, Nguyễn Trãi đã đề ra và thực hiện chính sách vừa đánh vừa
đàm từ
đầu cho đến cuối. Chính sách địch vận tài tình của Nguyễn Trãi đã làm cho
nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Minh bớt đi sự hy sinh xương máu.
10
Ở Nguyễn Trãi chữ “thời” nổi bật lên như một sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ
hệ thống tư tưởng của ông. Đó chính là thời cơ và thời thế.
Các tác giả còn cung cấp cho chúng ta hiểu không chỉ về thân thế sự
nghiệp Nguyễn Trãi mà cả những vấn đề sự biến lịch sử như vụ án Lệ Chi
Viên và cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi. Đồng thờ
i các tác giả còn cung
cấp chúng ta một cách hệ thống, đầy đủ các bản văn của Nguyễn Trãi liên
quan đến hệ thống tư tưởng về triết học, quân sự, ngoại giao, giáo dục,… qua
các tác phẩm: Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo, Phú núi Chí Linh, Truyện
cũ về Băng Hồ tiên sinh, Văn bia Vĩnh Lăng, Quân trung từ mệnh tập, Chiếu
biểu viết dưới triều Lê, Dư địa chí, Ức Trai thi tập, Qu
ốc âm thi tập. [72, tr.
845]. Cùng với chủ đề này còn có các công trình Nguyễn Trãi cuộc đời và sự
nghiệp, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2000. Đây là tác phẩm chọn
lọc, tập trung phân tích kỹ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động chính trị, tư tưởng,
văn hóa của Nguyễn Trãi, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Minh và triều
đại Lê sơ. Hay cuốn Thơ văn Nguyễn Trãi (Tuyển chọn) c
ủa Phan Sĩ Tấn,
cấu thành 7 vấn đề: Một là, bối cảnh xã hội chính trị Lý mạt Trần sơ; hai là,
Trần Thái Tông với Quốc học; ba là, Trúc Lâm bí quyết hay thiền học thời
Trần; bốn là, triết học Trúc Lâm Yên Tử - Tam tổ; năm là, Quốc học thời
Trần; sáu là, đạo làm tướng với Binh pháp thời Trần; bả
y là, tư tưởng chính
trị thời Trần; Tập 5 với tiêu đề Tư tưởng Việt Nam thời Hồ (1380 - 1407), với
248 trang, đã trình bày và phân tích khái quát các nội dung như: Một là, hoàn
cảnh xã hội chính trị cuối thời Trần; hai là, tư tưởng Nho Phật xung đột; ba là,
tư tưởng Pháp trị của Hồ Quý Ly, trong đó công trình đã chỉ ra sự bất lực và
suy thoái của nhà Trần và vai trò của Hồ Quý Ly trước tình hình khủng
hoảng c
ủa lịch sử xã hội Việt Nam lúc bấy giờ; bốn là, lai lịch họ Hồ; năm là,
dẹp đối phương, củng cố thế lực; sáu là, công cuộc cải cách; bảy là, Trần
Nguyên Đán với huyền học thời Trần; tám là, nghĩa sĩ với ý thức dân tộc.
Tập 6 và tập 7 được trình bày trong một cuốn sách, trong đó tập 6 với
tiêu đề Nguyễn Trãi với khủng hoảng ý thứ
c hệ Lê - Nguyễn (1380 - 1442)
với tổng số 302 trang. Nội dung tập 6 được kết cấu thành 5 mục: Một là,
Nguyễn Trãi; hai là, sự khủng hoảng ý thức hệ xã hội; ba là, Việt Nam thế kỷ
XVI, XVII; bốn là, Nguyễn Dữ; năm là, Tam giáo trong Lâm truyền kỳ ngộ
12
và Truyền kỳ mạn lục. Tập 7 với tiêu đề Tư tưởng tổng hợp của Lê Quý Đôn
(1724 - 1784) đã đi sâu phân tích về tư tưởng của Lê Quý Đôn trên các mặt
như: Cuộc đời và sự nghiệp triết học biện chứng lý khí, siêu hình học, vũ trụ
quan, tinh thần và vật chất - tri thức lý luận, nhân sinh quan - đạo đức, chính
trị học, định đề, phản đề, tổng hợ
p đề. Tuy nhiên, tác phẩm trình bày thiếu
tính hệ thống và tính khái quát; tản mạn, tùy hứng, trích dẫn thiếu xuất xứ;
trình bày các giai đoạn, nội dung lịch sử tư tưởng Việt Nam nhưng lại lấy
nó đối với việc hình thành tư tưởng thời kỳ này, từ đó công trình đã khái quát
những tư tưởng cơ bản của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và các nhà sử học
thời Lê. Phần thứ 5 gồm 4 chương, 77 trang (từ trang 333 đến trang 400) với
tiêu đề T
ư tưởng thời kỳ khủng hoảng và chia cắt của chế độ phong kiến (từ
thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII). Từ việc phân tích những điều kiện xã hội, văn
hóa tư tưởng, phần này đã trình bày khái quát nội dung quan điểm của các
nhà tư tưởng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan và
tư tưởng Phật giáo từ thế kỷ XVI đến
đầu thế kỷ XVIII. Phần thứ 6 với tiêu
đề Tư tưởng thời kỳ các cuộc chiến tranh nông dân và sụp đổ của các chính
quyền Đàng trong, Đàng ngoài được nhóm tác giả trình bày từ Chương XX
đến chương XXIII nhằm làm rõ: Một là, tình hình xã hội, văn hóa, tư tưởng ở
thời kỳ này; hai là, khái quát các quan điểm của ba nhà tư tưởng tiêu biểu của
thời kỳ này là Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm.
Trong hướng nghiên cứu này, ti
ếp theo còn có cuốn sách Tư tưởng
Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam của Võ Xuân Đàn, Nxb. Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 1996. Trong đó, tác giả tập trung trình bày,
phân tích một số vấn đề: Một là, sơ lược về hoàn cảnh xã hội và cuộc đời
Nguyễn Trãi. Tác giả đã giúp người đọc thấy được xã hội Đại Việt cuối thế
kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là xã hội ch
ứa chấp nhiều mâu thuẫn, và là giai đoạn
với những biến động sâu sắc. Tầng lớp quý tộc, quan liêu nhà Trần ngày
càng suy đồi, tăng cường bốc lột vơ vét để hưởng thụ sau những năm tháng
kháng chiến. Nhà Trần sụp đổ, Hồ Quý Ly chiếm ngôi vua Trần, tự xưng là
hoàng đế, nhưng cải cách của Hồ Quý Ly cũng bị thất bại vì không thu phục
được lòng dân. Lợi dụng khủ
ng hoảng của xã hội Đại Việt, giặc Minh tiến
hành cuộc chiến tranh xâm lược. Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi đã hình
1442; vụ án Lệ Chi Viên và cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi và việc
minh oan cho ông; Chương 2: Nguyễn Trãi đại anh hùng dân tộc. Tác giả tập
trung phân tích tư tưởng chiến lược của Nguyễn Trãi như đánh vào lòng
người, đó là “tâm công” tức làm tan rã đối phương trên lĩnh vực tinh thần và
tư tưởng khiến cho đối phương phải tâm ph
ục; hay tư tưởng dựa vào dân để
15
đánh lâu dài, xuất phát từ quan điểm nhận thức đúng đắn về vai trò của nhân
dân trong lịch sử: “Những quy mô to lớn, lộng lẫy đều là sức lao khổ của
quân dân” [72, tr. 196], “hướng về người nhân là dân, chở thuyền, làm lật
thuyền cũng là dân” [72, tr. 280 - 281]. Ông còn chỉ rõ binh quý ở chỗ thần
tốc và triệt để dùng chiến tranh du kích. Đặc biệt là nắm vững thời - thế;
Chương 3: Nguyễn Trãi danh nhân văn hóa thế gi
ới. Tác giả đã phân tích và
làm rõ Nguyễn Trãi nhà tư tưởng kiệt xuất, qua tư tưởng về nhân nghĩa, tư
tưởng nhân dân, tư tưởng yêu nước của ông.
Đáng chú ý trong hướng nghiên cứu này là tác phẩm Đại cương lịch sử
tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1 của Nguyễn Hùng Hậu chủ biên, Nxb. Đại
học quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2002. Cuốn sách ngoài lời nhà xuất bản,
danh m
ục tài liệu tham khảo thì nội dung được kết cấu thành 6 chương:
Chương 1, với tiêu đề Vài vấn đề về phương pháp luận, nhóm tác giả từ sự
khái quát các công trình nghiên cứu trong nước đã công bố đi đến khái quát
các quan điểm khác nhau về câu hỏi Việt Nam có Tư tưởng triết học hay triết
học hay không? Và từ việc luận giải, phân tích sự khác nhau trong việc giải
quyết vấn đề c
ơ bản của triết học cũng như đặc trưng trong tư tưởng phương
Tây, phương Đông với tư tưởng Việt Nam, để từ đó chỉ ra các phương pháp
tiếp cận, nghiên cứu tư tưởng Việt Nam như: Khi nghiên cứu triết học Việt
chứng trong tư tưởng triết học Việt Nam “nghiêng về thống nhất”, “đi theo
vòng tròn tuần hoàn”. Chương 3, với tiêu đề Vài nét về kinh tế, xã hội và thế
giới quan của người Việt thời tiền sử, nhóm tác giả trình bày khá khái quát
về các giai đoạn trong thời tiền sử, về triều đại, về nền kinh tế, văn hóa xã
hội, tư tưởng, tôn giáo và đặc tr
ưng trong các giai đoạn ở thời kỳ này.
Chương 4, với tiêu đề Tư tưởng triết học Việt Nam trong cuộc đấu tranh thời
Bắc thuộc, công trình đã trình bày khái quát quá trình sự du nhập của Nho
giáo, Phật giáo, Đạo giáo vào nước ta. Chương 5, với tiêu đề Tư tưởng triết
học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, (chủ yếu thời Lý - Trần), nhóm tác
giả đã trình bày nh
ững tư tưởng triết học của Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi,
Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Thảo Đường, Trần Thái Tông, Tuệ
Trung Thượng Sỹ, Thiền Trúc Lâm Yên Tử, Binh pháp Trần Quốc Tuấn và
tư tưởng Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV. Chương 6, với tiêu đề Tư tưởng
17
triết học Việt Nam từ thế kỷ XV đến 1858. Trong chương này, các tác giả đã
trình bày khái quát tư tưởng triết học của các nhà tư tưởng như: Nguyễn Trãi,
Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan,
Hương Hải Thiền sư, Chân Nguyên Thiền sư, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác,
Ngô Thì Nhậm, Minh Mệnh, Nguyễn Đức Đạt và khái quát chung về thế giới
quan, nhân sinh quan triều Nguyễn. Như vậy, có thể nhận thấy r
ằng đây là
một trong số ít các công trình khi nghiên cứu vấn đề này đã lấy tiêu đề Lịch
sử tư tưởng triết học Việt Nam, với 224 trang sách, nhìn chung đây là một
công trình khái quát khá toàn diện và sâu sắc về những vấn đề triết học trong
lịch sử tư tưởng Việt Nam. Điều đó thể hiện sự cố gắng, nghiêm túc, công
phu trong nghiên cứu của nhóm tác giả.
phẩm Kỷ yếu hội thảo khoa học về Nguyễn Trãi, Viện Khoa học xã hội tại
Thành phố Hồ Chí Minh, 1980; Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân
tộc, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1980; Nguyễn Trãi: Cuộc đời và sự
nghiệp của Trần Huy Liệu, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2000;
Nguyễn Trãi - về tác giả và tác phẩm (tuyển ch
ọn) của Nguyễn Hữu Sơn,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội, năm 2002; Nguyễn Trãi trên đất Thanh, Nxb. Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2003.
Đặc biệt trong đó là cuốn Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn
Nguyễn Trãi, Nxb. Văn học, Hà Nội, xuất bản năm1980. Đây là công trình
tập hợp các bài nghiên cứu về Nguyễn Trãi của các nhà nghiên cứu có tên
tuổi đã tiếp cận và đưa ra những nhận xét, đánh giá v
ề nhiều mặt về Nguyễn
Trãi như: Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc của cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng; Nguyễn Trãi là người tài đức vẹn toàn của Trần Huy Liệu; Nguyễn
Trãi, người đứng đầu một một phái yêu nước thân dân, có lý tưởng xã hội
cao cả của Trần Văn Giàu; “Đại cáo bình Ngô” bản tuyên ngôn của một dân
tộc anh hùng và văn hiến của Vũ Khiêu,… và ph
ần phụ lục ghi lại những lời
nhận định, đánh giá của các nhà tư tưởng Việt Nam qua các thế hệ khác nhau
như Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, Lê Thánh Tông, Trần Khắc Kiệm,
Ngô Thì Sỹ, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phạm Đình Hổ, Dương Bá Cung,
Nguyễn Năng Tĩnh, Cao Bá Quát…
Ngoài ra còn có các bài báo khoa học Về tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn
Trãi của Lương Minh Cừ và Nguyễn Thị Hương đăng trên tạp chí Triết học
19
số 5 năm 2006; Tìm hiểu tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi của Doãn Chính,
đăng trên tạp chí Triết học số 9 năm 2009; Luận văn thạc sĩ Triết học của
Nguyễn Thị Hương năm 2005; tất cả đã góp phần giúp tác giả luận án tìm
20
sử tư tưởng Việt Nam cũng như đối với yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã hội
Đại Việt thời Lê sơ nói riêng và công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam nói chung.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án không nghiên cứu toàn bộ nội dung tư tưởng và cuộc đời của
Nguyễn Trãi nói chung mà chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng triết họ
c chủ
yếu của ông mà thôi.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện và đạt được mục đích và nhiệm vụ trên, luận án dựa trên cơ
sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời tác giả còn sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như
: lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp,
quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và so sánh… để nghiên cứu và trình bày luận
án; và luận án được tác giả tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử và triết học
văn hóa.
5. Cái mới của luận án
- Một là, luận án đã trình bày, phân tích một cách hệ thống tư tưởng triết
học Nguyễn Trãi, góp phần làm sâu sắc nội dung tư tưởng của ông qua
những vấn đề về thế giới quan, về nhận thức và giáo dục, về nhân sinh quan,
về chính trị - xã hội;
- Hai là, luận án đã trình bày, phân tích, lý giải làm rõ những đặc điểm
cơ bản trong tư tưởng triết học Nguyễn Trãi; đó là tính kế thừa, dung hợp và
khai phóng; tính thực tiễn sinh động; tính nhân văn cao cả. Từ đó luận án đã
rút ra những giá trị và ý nghĩa lịch sử củ
a tư tưởng triết học Nguyễn Trãi về
mặt lý luận và về mặt thực tiễn đối với quá trình phát triển của lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam và đối với công cuộc kháng chiến chống giặc Minh,
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VIỆT NAM THẾ KỶ XIV - XV CƠ SỞ XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
TRIẾT HỌC NGUYỄN TRÃI
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội và ý thức
xã hội có mối quan hệ tác động biện chứng với nhau; trong đó tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội. Ngược lại, ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương
đối, nó tác động trở lại tồn tại xã hội. Do vậy mọi tính chất, nội dung, khuynh
hướng của ý thứ
c xã hội suy cho đến cùng đều chịu sự tác động và chi phối
của tồn tại xã hội.
Là một trong những hình thái ý thức xã hội, tư tưởng triết học luôn luôn
phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Đúng như C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nói: “Chính con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và
sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiệ
n thực đó của
mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quy định
đời sống mà chính đời sống quy định ý thức” [42, tr. 38]. Sự hình thành và
phát triển tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi cũng không nằm ngoài tính tất
yếu đó. Một mặt, tư tưởng triết học của ông bị chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu
xã hội Đại Vi
ệt thế kỷ XIV - XV; mặt khác, nó là sự kế thừa những tiền đề tư
tưởng triết học trước đó, cùng với sự phản ánh, chắt lọc những tinh hoa giá
trị văn hóa của dân tộc. Như C.Mác đã chỉ rõ: “Các triết gia không mọc lên
như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà
dân Đại Việt.
Sử thần Ngô Thì Sĩ viết: “Triều nhà Trần từ năm Nguyên phong đời
Thái Tông đến khi ấy trải qua ba đời vua. Trong khoảng vài chục năm, quân
Nguyên nhiều lần sang cướp phá. Mỗi lần có tin báo ngoài biên giới, thì ắt tự
ra ngoài trông coi. Việc quân chọn ngườ
i ủy thác coi giữ kinh thành, vợ con
của cải đều cất đặt trước khi sự việc xảy ra, không để cho giặc lợi dụng.
24
Đường vua đi khi thì phía đông, khi thì phía tây, không nhất định; dinh vua ở
khi thì dưới nước, khi trên bờ không nhất định ở đâu. Đó không phải là khiếp
sợ. Có lẽ nhà vua ở ngoài dễ kêu gọi mọi người, cổ vũ tướng sĩ. Thanh niên
trai tráng đều là lính, của nhà giàu đều là lương.
Thời cơ có thể nắm thì cổ vũ cho tiến lên; thế lực chưa đủ, thì tùy tiện
mà lui giữ. Khi tiến lên thì như sấm sét kinh động, khi im l
ặng thì như rồng
rắn ẩn mình không ai lường được. Hơn nữa, bản thân ra trận thì mưu cơ được
quyết định ngay, thưởng phạt được thi hành ngay. Các tướng tuân theo mệnh
lệnh, ba quân vui vẻ hy sinh. Nếu cứ bo bo làm kế giữ thành, kẻ địch có thể
xem đó là sào huyệt, nó sẽ chặn bên trong khiến cho đường vận chuyển
không thông; chặn bên ngoài khiến cho quân tiếp viện không đến. Như vậy
lương hết, lự
c cùng thì điều bại vong có thể ngồi mà đợi. Đó chính là điều
mà nhà Trần thắng được giặc Nguyên, cũng là đường lối hay trong việc đánh
địch và thắng địch. Hơn nữa binh quyền thuộc Trần Hưng Đạo, giao trọng
trách để đòi hỏi sự thành công. Vậy còn lo gì tướng sỹ không tuân lệnh, sự
thành công lại không nhanh chóng. Muốn biết công nhà Trần thắng giặc nên
tìm ở hai điểm đó.” [81, tr. 470]
Sau ba cuộc chiến thắng oanh liệt đế chế Nguyên - Mông, những khó
khăn về kinh tế, xã hội của đất nước do phải huy động sức dân chống giặc
kênh thông với sông lớn để l
ấy nước vào hồ làm chỗ vui chơi, thưởng ngoạn.
Bọn quan lại nhân cơ hội đó thả sức bắt quân dân xây dựng dinh thự, đền đài,
chùa chiền, nuôi con hát phục vụ chơi bời. Trong triều đình xuất hiện hàng
loạt tên nịnh thần và việc triều chính ngày càng lũng đoạn. Trước tình hình
đó, tư nghiệp Quốc Tử Giám là Chu Văn An đã nhìn thấy nguy cơ đe dọa
triề
u đình và ông dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần bao gồm Hoạn quan chi
hậu cục Mai Thọ Đức, Viên ngự y Trâu Canh, Chính chưởng phụng ngự Bùi
Khoan, Văn hiến hầu, Hành khiển tả y lang trung Nguyễn Thanh Lương,
Hành khiển hữu ty, hữu bộc, xạ Tâm Đức Ngưu, Đồng binh chương sự Đoàn
Nhữ Cầu. Nhưng vua Dụ Tông không nghe, ông đã xin trả ấn từ quan. Bàn
về vua Trần Dụ Tông và tình hình xã hội thời kỳ này, Phan Phu Tiên nói:
“Nhà Tr
ần từ sau khi Dụ tông hoang dâm, phóng túng, lại thêm Chiêm
Thành xâm lược, quấy rối, thì giặc cướp rất nhiều. Chúng cướp của bắt người