BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ
TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY
Chuyên ngành: Triết học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
với sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Duy Hoa. Các dẫn chứng trong luận
văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học dựa trên kết quả thu thập
từ các tư liệu và tài liệu tham khảo có trích nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Thủy
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Triết học cùng các thầy cô đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Hội đồng khoa học và cô hướng
dẫn TS. Lê Thị Duy Hoa đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ trong suốt quá
trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn. Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn
tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ để tôi có thể học tập, nghiên
cứu và hoàn thành tốt luận văn của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Thủy
quyết hội nghị lần thứ 5 BCH TW Đảng khóa IX đã chỉ rõ: văn hóa không
những chỉ là mục đích mà còn là động lực của sự phát triển. Hội nhập là để
phát triển bền vững, hòa nhập nhưng không hòa tan, giữ gìn được bản sắc văn
hóa dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam góp phần
thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngày nay, Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên
trường quốc tế cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Cùng với quá trình hội nhập
là sự du nhập, lai căng của văn hóa phương Tây làm cho con người mất dần đi
những đạo đức truyền thống của dân tộc, sự suy đồi về đạo đức, phẩm chất,
xuất hiện những lối sống vị kỉ, thực dụng, làm cho mối quan hệ giữa con
người với con người ngày càng trở nên xa cách. Đây cũng là thách thức đặt ra
cho các nước trong việc phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Thực tế cho thấy muốn phát triển bền vững thì không thể chỉ nhìn vào
thực tại, hướng tới tương lai mà lãng quên đi quá khứ của dân tộc, Vì thế,
quay trở về tìm hiểu những giá trị tư tưởng truyền thống của dân tộc là bàn
đạp vững chắc cho sự phát triển trong thời kì hội nhập. Nó không đơn thuần
chỉ là sự tìm về quá khứ, để phục cổ, hoài cổ mà là để hiểu rõ hơn quá khứ
của dân tộc để từ đó định hướng cho sự phát triển trong tương lai của dân tộc
Việt Nam nói riêng và nhân dân thế giới nói chung. Bên cạnh đó, nó còn góp
phần giáo dục đạo đức con người trong thời đại mới.
Trong tiến trình phát triển lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã
sản sinh ra biết bao nhà tư tưởng, nhà chính trị, quân sự, tài ba. Trong số rất
nhiều các vị anh hùng kiệt xuất từ trước đến nay, ở thế kỉ XV Nguyễn Trãi
xuất hiện như ngôi sao khuê tỏa sáng. Nguyễn Trãi không chỉ là môt nhà
chiến lược quân sự, nhà chính trị, ngoại giao mà còn là một nhà văn hóa tư
tưởng lớn. Có thể nói, tư tưởng Nguyễn Trãi đạt đến đỉnh cao của thời đại và
2
ông đã có những đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và
lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng. Với nội dung tư tưởng tiến bộ,
lòng yêu nước thương dân, ý thức độc lập tự chủ, lòng nhân ái và ước vọng
tiến bộ, sáng tạo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước ta. Đồng thời,
luận văn còn chỉ ra những giá trị trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi
đối với việc giáo dục đạo đức con người trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên,
luận văn chỉ mới dừng lại khai thác một khía cạnh trong tư tưởng triết học của
Nguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa.
“Mấy nét tổng quát về Nho giáo trong lịch sử Việt Nam”, Lê Sĩ Thắng,
Tạp chí Triết học, số 2, 6/1977.
“Nguyễn Trãi, một nhà ái quốc tiêu biểu cho lòng nhân nghĩa và ý chí
hòa bình của nhân dân ta đầu thế kỉ XV”, Minh Tranh, Tạp chí Văn Sử Địa,
số 20, 8/1956. Trong bài viết, tác giả đã phân tích tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa tư tưởng yêu nước, nhân nghĩa,
nhân dân, hòa bình của ông.
“Nho giáo và tư tưởng “nhân nghĩa” nửa đầu thế kỉ XV”, Nguyễn Sĩ
Cẩn, Tạp chí Triết học, số 1 (24), 1/1979.
“Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi với thời đại của ông”, Bùi Văn
Nguyên, Nội san nghiên cứu Đại học Sư phạm Hà Nội, số 3, 1970.
“Nhân cách nhà nho trong con người Nguyễn Trãi”, Nguyễn Văn Bình,
Tạp chí Triết học, số 4, 1998.
“Về mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, Trần Nguyên
Việt, Tạp chí Triết học, số 7, 2005.
Các bài viết, công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu tư tưởng
nhân nghĩa trong hệ thống tư tưởng triết học Nguyễn Trãi. Đánh giá những
4
giá trị của tư tưởng đó trong thời đại Nguyễn Trãi cũng như trong thời đại
ngày nay. Tuy nhiên, chưa có một bài viết hay công trình khoa học nào trình
bày cụ thể toàn bộ tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi.
Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những bài viết về
tư tưởng nhân nghĩa cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tư
tưởng thân dân, quan niệm về con người, tự nhiên của Nguyễn Trãi.
“Bàn thêm về tư tưởng “nhân dân” của Nguyễn Trãi”, Nguyễn Anh,
chỉ dừng lại ở việc liệt kê, chưa đi vào phân tích sâu sắc từng nội dung để có
thể bao quát toàn bộ tư tưởng Nguyễn Trãi.
Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học ít nhiều đã đề
cập đến tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi ở những cấp độ nhất định, tuy
nhiên chưa có sự bao quát nhất định mà chỉ đi vào nội dung cụ thể. Vấn đề tư
tưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trị của nó chưa được khai thác một
cách triệt để và đúng mức trong tình hình xã hội ngày nay. Dựa trên sự khảo
sát và đánh giá lịch sử nghiên cứu vấn đề, trên tinh thần kế thừa có chọn lọc
và phát triển các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã có, tôi tiến hành
nghiên cứu vấn đề “Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trị của nó
trong xã hội ngày nay” nhằm góp phần đem lại cái nhìn hệ thống, toàn diện
hơn về tư tưởng triết học Nguyễn Trãi, đồng thời đánh giá những giá trị hiện
thời của những tư tưởng đó trong việc phát triển xã hội ngày nay, đặc biệt là
việc giáo dục đạo đức con người trong thời đại mới.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: làm rõ những tư tưởng triết học cơ
bản của Nguyễn Trãi, từ đó đánh giá những giá trị của nó đối với việc giáo
dục con người và phát triển đất nước trong thời đại ngày nay.
6
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trị
của nó trong xã hội ngày nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, giá trị của nó
đối với giáo dục con người và phát triển xã hội ngày nay.
4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
* Những luận điểm cơ bản:
- Lịch sử tư tưởng Việt Nam là một kho tàng đồ sộ và có giá trị, mang
đậm tính nhân văn, nhân đạo.
- Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đã đạt đến đỉnh cao trong lịch sử
Bình Chương Quốc Thượng Hầu.
Nguyễn Ứng Long (sau đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh) nguyên là
người làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, là một người học trò thông minh
học giỏi, biết làm thơ từ năm mười một tuổi, lớn lên đến mở trường dạy học ở
làng Nhị Khê rồi sau nhập tịch vào làng Nhị Khê. Nguyễn Ứng Long có tiếng
hay chữ được Trần Nguyên Đán biết đến và đón về dạy kèm con gái Trần Thị
Thái. Nguyễn Ứng Long được Trần Nguyên Đán rất yêu trọng và thường gọi
là “ thầy kiểm Nhị Khê”.
Năm 1385, Trần Nguyên Đán cáo quan về hưu ở động Thanh Hư trên núi
Côn Sơn. Lúc này cậu bé Nguyễn Trãi cũng về Côn Sơn ở với ông ngoại. Ở Côn
Sơn được ít lâu mẹ Nguyễn Trãi mất, đến năm 1390, ông ngoại Nguyễn Trãi là
Trần Nguyên Đán cũng mất. Nguyễn Trãi về làng Nhị Khê sống với cha là
Nguyễn Phi Khanh. Ở đây, Nguyễn Trãi cùng với ba em là Nguyễn Phi Hùng,
Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Báo nhận được sự giáo dục trực tiếp của cha là
Nguyễn Ứng Long. Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi mở ra cho Nguyễn Ứng
Long một con đường tiến thân. Nguyễn Ứng Long đổi tên là Nguyễn Phi
Khanh ra làm quan cho nhà Hồ và tới đời Hồ Hán Thương được thụ chức Đại
lý tự khanh, kiêm Thị lang tòa Trung thư, Học sĩ viện Hàn lâm, lại lĩnh chức
Tu nghiệp ở trường Quốc tử. Năm 1400, Nguyễn Trãi đi thi, ông đậu Thái học
8
sinh (tiến sĩ) sau đó được nhà Hồ cử giữ chức Ngự sử đài chánh trưởng.
Nguyễn Trãi cùng cha là Nguyễn Phi Khanh làm quan cho nhà Hồ được 6
năm thì quân Minh xâm lược nước ta. Năm 1407, cuộc kháng chiến của nhà
Hồ thất bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần, trong đó có Nguyễn Phi
Khanh bị bắt, đưa về Trung Quốc. Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc
ít lâu thì mất do không hợp thủy tổ. Từ năm 1407 đến năm 1417, Nguyễn Trãi
bị giam lỏng 10 năm ở thành Đông Quan dưới sự kiểm soát của quân Minh.
Tuy bị giam cầm, song chí hướng của ông vẫn rất mãnh liệt. Không những
nghiền ngẫm sách vở, ông còn quan tâm đến thời cuộc bên ngoài với những
cuộc khởi nghĩa đang diễn ra trong nước. Năm 1417, khi nghe tin người anh
nước. Ông không chỉ là nhà quân sự, nhà chính trị kiệt xuất, mà còn là một
nhà văn, nhà thơ với nhiều tác phẩm đồ sộ. Đặc biệt những tác phẩm của ông
mang tính bút chiến cao góp phần không nhỏ vào công cuộc đánh bại kẻ thù
và nâng cao ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Sau khi bị quân Minh giam
lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã tìm đến Lê Lợi. Năm 1423, Nguyễn Trãi
dâng “Bình Ngô sách” lên Lê Lợi . Năm 1428 chống Minh thắng lợi, Nguyễn
Trãi được vua giao soạn Chiếu cầu hiền tài, “Hậu tự huấn” để răn bảo thái tử.
Sau khi phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, Nguyễn Trãi được vua Lê
tin tưởng giao cho ông nhiều trọng trách, giúp nhà Lê xây dựng đất nước.
Nhưng vì được vua tin tưởng nên Nguyễn Trãi không tránh khỏi có kẻ ghen
ghét, đố kị. Bọn gian thần trong triều đình luôn gièm pha khiến Nguyễn Trãi
không được vua tin dùng như trước nữa. Trước tình hình đó, Nguyễn Trãi đã
xin cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Năm 1434, ông lại được nhà vua triệu ra làm
quan, được cử vào điện kinh diên dạy cho vua học tập, soạn sách “Dư địa
chí” để giáo dục về địa lý, phong tục và soạn lễ nhạc cho triều đình. Trong tác
phẩm này Nguyễn Trãi đã phần nào khẳng định được chủ quyền độc lập của
10
dân tộc trên nhiều mặt như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, Nguyễn Trãi
để lại nhiều tác phẩm có giá trị nhưng theo thời gian thì số lượng tác phẩm bị
thất lạc cũng khá nhiều. Đến giữa thế kỉ XIX, Dương Bá Cung sưu tầm lại các
tác phẩm của Nguyễn Trãi và in thành bộ “Ức Trai di tập”. Các tác phẩm tiêu
biểu của Nguyễn Trãi bao gồm: “Quân trung từ mệnh tập”, “Bình Ngô đại
cáo”, “Dư địa chí”, “Ức Trai thi tập”, “Lam Sơn thực lục”, “Văn bia Vĩnh
Lăng”, “Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh”, Các tác phẩm của Nguyễn Trãi
đều chứa đựng những giá trị to lớn về giáo dục đạo đức con người, đặc biệt là
giáo dục lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa. Có thể nói, sự nghiệp sáng
tác của Nguyễn Trãi với nhiều tác phẩm lớn đã thể hiện hầu hết các tư
tưởng triết học của ông. Bên cạnh đó, trong thời gian kháng chiến chống
quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi đã có nhiều đóng góp vào chính sách
quân sự của dân tộc. Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với nhân dân Việt
Ly lên ngôi vua, họ Hồ thay thế họ Trần nhưng cuộc khủng hoảng xã hội vẫn
diễn ra gay gắt. Cải cách của nhà Hồ quá táo bạo và nôn nóng nên gặp nhiều
khó khăn. Trong những chính sách cải cách của họ Hồ thì chính sách hạn điền
và hạn nô là đáng chú ý. Hồ Quý Ly đã nhìn thấy căn bệnh của xã hội nhưng
ông không dưạ hẳn vào tầng lớp địa chủ mới là một lực lượng xã hội mới. Do
đó, cải cách của ông không có hiệu quả lâu dài. Năm 1406, giặc Minh xâm
lược nước ta. Tháng 6 năm 1407 cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, nước
ta chịu ách đô hộ của nhà Minh. Dưới ách thống trị của nhà Minh khiến nhân
dân ta rơi vào cảnh lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đấu tranh giành độc
lập dân tộc. Năm 1427, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi mở ra một giai đoạn
mới trong lịch sử phát triển dân tộc. Dưới thời Lê sơ (1428 – 1527) nhà nước
phong kiến đưa ra nhiều chính sách cải cách mọi mặt của đời sống kinh tế, xã
12
hội. Về kinh tế, thực hiện chế độ lộc điền, quân điền, quy định chia lại ruộng
đất công của làng xã.
Nhà Lê đã lợi dụng một cách khôn khéo chế độ công xã để phục vụ lợi
ích của nhà nước phong kiến. Với chế độ quân điền, nhà Lê một mặt vẫn bảo
tồn công xã, mặt khác biến công xã thành cơ sở bóc lột của chính quyền
phong kiến, biến thành viên của công xã thành những người nông dân lệ
thuộc vào nhà nước phong kiến. Chính sách ruộng đất của nhà Lê về căn bản
là sự phân phối lại quyền sử hữu ruộng đất trong nội bộ giai cấp phong kiến
nhằm củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền, đảm bảo lợi ích của
giai cấp địa chủ. Nhìn chung, chính sách ruộng đất thời kì này đã giải quyết
những mâu thuẫn kinh tế, xã hội đặt ra cuối thời Trần, khách quan thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế nông nghiệp, tuy nhiên cũng chứa đựng mầm mống
những mâu thuẫn nội tại nảy sinh trong xã hội sau này.
Về chính trị, triều đình tuyển lựa quan lại thông qua quân công và khoa
cử để xây dựng bộ máy quan liêu hành chính. Chế độ quan chế được quy định
cụ thể. Hình luật được đề cao. Triều đình chia thành 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh,
Hình, Công do các thượng thư đứng đầu, giúp việc có hai thí lang, bên cạnh
Đạo giáo đều du nhập vào theo những cách khác nhau và có tầm ảnh hưởng
trong đời sống tư tưởng của người dân Đại Việt ở những mức độ khác nhau
tùy vào từng giai đoạn lịch sử nhất định. Giai cấp thống trị Đại Việt đã sử
dụng Nho giáo có chọn lọc tùy theo điều kiện cụ thể để tổ chức và xây dựng
xã hội. Nếu như thời Lý – Trần, Phật giáo giữ vị trí độc tôn thì đến thời Lê sơ,
Nho giáo trở thành quốc giáo, chi phối mọi mặt của đời sống xã hội, phục vụ
cho lợi ích của giai cấp thống trị. Các vua Lê đã tiếp thu tư tưởng Tống Nho,
coi đây cơ sở ý thức chính trị và đạo đức trong quá trình xây dựng triều đại.
Tuy nhiên, với nền tảng văn hiến đã được tạo dựng từ thời Lý – Trần, giai cấp
14
thống trị đã kế thừa Nho giáo một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Điều đó được thể hiện ở một số nét như: tư
tưởng trung quân gắn liền với ái quốc; tư tưởng thân dân, tôn dân, dân bản; tư
tưởng nhân nghĩa, nhân văn mang tinh thần Đại Việt; tư tưởng khoan dung,
khoan hòa của dân tộc; tư tưởng xây dựng một xã hội hòa bình, thịnh trị,
trường tồn ngang hàng với phương Bắc, được giải thích theo khuynh hướng
tích cực, tiến bộ và mang tính biện chứng sâu sắc. Nhận thức đúng đắn và sâu
sắc về độc lập dân tộc, sức mạnh của nhân dân và tinh thần nhân nghĩa là đặc
điểm nổi bật nhất trong tư tưởng Nguyễn Trãi. Dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ
của Nho giáo thì Phật giáo và Đạo giáo không còn chiếm ưu thế trong xã hội
như trước. Tuy nhiên các tư tưởng này vẫn tiếp tục được bảo tồn trong đời
sống xã hội và có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh của nhân dân lao
động.
Về giáo dục – khoa cử: nhà Lê sơ đặc biệt coi trong vấn đề giáo dục, thi
cử, xây dựng một chế độ đào tạo nho sĩ và quan lại rất chính quy, thi hành
triệt để chính sách trọng sĩ. Quốc Tử Giám hay Thái Học viện ở kinh thành là
cơ quan giáo dục cao nhất trong nước. Chế độ thi cử rất quy củ với các kì thi
hương ở địa phương và thi hội ở kinh thành, tiến hành 3 năm một lần thu hút
nhiều sĩ tử cả nước. Để đề cao tầng lớp nho sĩ, nhà Lê đặt ra lễ xướng danh,
vinh quy và đặc biệt là lễ khắc tên tuổi người đỗ tiến sĩ vào bia đá Văn Miếu.
quá trình biến đổi lâu dài và đầy khó khăn để có thể tồn tại, “ăn sâu bám rễ” vào
đời sống xã hội của dân tộc Việt. Tuy nhiên đến thời kì xây dựng nhà nước
phong kiến độc lập tự chủ thì Nho giáo mới được tiếp biến và dần trở thành hệ tư
tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng của xã hội Việt Nam suốt nhiều thế
kỉ sau đó. Vị trí quan trọng này đã đưa Nho giáo với hệ thống những nguyên tắc
16
chính trị - xã hội và các tín điều đạo đức khắt khe lan tỏa, thâm nhập và ảnh
hưởng đến mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là các nhà Nho, những người được
xem là tầng lớp có vai trò và uy tín nhất trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Nho gia, trực tiếp là
Nho giáo Khổng - Mạnh. Biểu hiện cụ thể là sự vận dụng sâu sắc, linh hoạt
các tư tưởng này trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc
xây dựng đất nước thời kỳ đầu Lê sơ. Nguyễn Trãi luôn được coi là nhà Nho
tiêu biểu thời kỳ này. Ông được sinh ra trong một gia đình Nho học. Cha ông
là Nguyễn Phi Khanh, tài đức vẹn toàn, đỗ đạt tiến sĩ, có nhiều cống hiến cho
đất nước. Ông ngoại là Trần Nguyên Đán, mệnh danh là người đọc vạn quyển
sách. Do đó, ngay từ khi còn rất nhỏ, Nguyễn Trãi đã được dạy dỗ, tiếp cận
với tri thức Nho học. Nguyễn Trãi tiếp cận với Nho học và trở thành một nhà
Nho, một nhà chính trị, nhà tư tưởng tài ba nhất thời đại.
Ngay từ khi còn nhỏ Nguyễn Trãi đã tỏ ra là một người thông minh, ham
đọc sách, có tài, có đức. Nguyễn Phi Khanh rất hài lòng trước sự thông minh,
chăm chỉ của Nguyễn Trãi: “ Lục tuế nhi đồng phả ái thư” (Gia viên lạc).
Trần Nguyên Đán cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tuổi thơ của Nguyễn Trãi
với hình ảnh một con người “ nếp nhà thi lễ, nòi giống thần minh, có hoài
bão một lòng vì nước vì dân” (Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh). Trong khi
ông và cha giảng văn, dạy chữ, Nguyễn Trãi cũng học được ở hai người đó
một tâm hồn cao đẹp, thanh tao của những nhà Nho. Học ở ông tấm lòng
thương dân đến bạc đầu “Bạch đầu không phụ ái dân tâm” (Nhân dân lục
nguyệt tác). Học ở cha trong những ngày giá rét “muốn thổi cơn gió ấm vào
lòng mọi người” (Nguyễn Phi Khanh – Xuân hàn). Với quan niệm học để “
dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước Việt Nam. Ông đã
kế thừa và phát triển tư tưởng nhân văn của Nho giáo ở một số nội dung cơ
18
bản sau: tư tưởng coi trọng sinh mệnh và sự sống của con người, tư tưởng về
lẽ sống của con người, tư tưởng về tính tương liên giữa ý thức của cá nhân với
ý thức về gia đình và cộng đồng, tư tưởng chấp nhận và tìm cách đáp ứng
những khát vọng hạnh phúc của con người. Nguyễn Trãi đã kế thừa và phát
triển tư tưởng của Nho giáo lên cấp độ cao hơn, đưa nó trở thành hệ tư tưởng
của Đại Việt trong thời đại đó.
Bên cạnh tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng về mệnh trời của Nho giáo cũng
có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trãi. Khổng Tử tin
rằng, trời là một lực lượng siêu hình nhưng có sức mạnh, ý chí, quy định trật
tự xã hội, tự nhiên và số phận con người đó gọi là “thiên mệnh”. Trong “Luận
ngữ” Khổng Tử viết: “Đắc tội với trời, không thể cầu vào đâu được”, “sống
chết do số mệnh, giàu sang tại trời” (sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên)
[64]. Khổng Tử khuyên: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc
đại nhân, sợ lời thánh nhân”, “không biết mệnh không thể là người quân tử
được”. Khác với tư tưởng của Nho giáo, Nguyễn Trãi đưa ra quan niệm về
mệnh trời: ông cho rằng “trên có trời đất quỷ thần” và vạn vật sinh sôi là do
“ơn tạo hóa của trời đất”. Nguyễn Trãi tin vào Trời và coi trời là đấng tạo
hóa sinh ra muôn vật . Cuôc đời của mỗi con người đều do mệnh trời sắp đặt.
Vận nước, mệnh vua cũng là do trời quy định. Theo Nguyễn Trãi, “trời đất
đa tình” trời không chỉ là đấng sinh thành, mà còn có tình cảm, tấm lòng
giống như cha mẹ: “Thành thực yêu vật là lòng trời đất; thành thực yêu con
là lòng cha mẹ. Nếu yêu vật thành thực thì cơ sinh hóa có lúc đình, yêu con
không thành thực thì niềm từ ái có khi thiếu. Vì thế nên trời đất đối với muôn
vật, cha mẹ đối với con cái, chẳng qua chỉ một chữ “thành” mà thôi”
[66;511]. Lòng hiếu sinh và đạo trời lại rất hòa hợp với tâm lý phổ biến và
nguyện vọng tha thiết của lòng người, đó là hạnh phúc, ấm no và thái bình.
Đối với các nhà Nho xưa nói chung và Nguyễn Trãi nói riêng, mọi việc diễn