TƯ TƯỞNG TRIẾT học của PHƠRĂNGXÍT bêcơn và sự ẢNH HƯỞNG của nó đến nền văn MINH PHƯƠNG tây HIỆN đại - Pdf 51

 

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-------------------------------TIỂU BAN TRIẾT HỌC

Đề tài tiểu luận:

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHƠRĂNGXÍT
BÊCƠN VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN
VĂN MINH PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

GVHD:

TS. Bùi Văn Mưa

SVTH :

Huỳnh Thị Nguyên Bình

Lớp:

CH K19 , đêm 1

 

TP. Hồ Chí Minh, 2010


 



-

Về văn hoá, tư tưởng

4

1.2. Thời kỳ cận đại

6

2. Những đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây thời Phục hưng –
cận đại

7

Phần 2: Tư tưởng triết học của Phơrăngxít Bêcơn

10

1. Các tư tưởng triết học thời Phục hưng

10

2. Các tư tưởng triết học thời cận đại

11

3. Phơrăngxít Bêcơn



29

 

Tài liệu tham khảo


 


 

LỜI NÓI ĐẦU
“Triết học chân chính chỉ là triết học truyền đạt chính xác nhất tiếng
nói của bản thân thế giới và được viết dưới những sự chỉ dẫn của thế giới”
(Ph.Bêcơn)

Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm về triết học. Nhưng dù hiểu
theo nghĩa nào thì từ thời cổ xưa, triết học đã là một bộ môn tổng hợp bao
gồm các lĩnh vực tri thức khác như cơ học, lý học, toán học,…. Nhưng do
sự phát triển của xã hội, đối tượng nghiên cứu của triết học dần thu hẹp lại
và cho đến ngày nay, triết học được định nghĩa là một hình thái ý thức xã
hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức, là
thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung
nhất cuảa tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học nghiên cứu hai vấn đề cơ bản, đó là quan hệ giữa vật chất
và ý thức và khả năng nhận thức của con người về thế giới.
Với tính cách là một hệ thống tư duy lý luận, một hình thái ý thức xã
hội đặc biệt, một hình thức nhận thức tổng quát cho phép con người hiểu

Triết học Phương Tây trung đại

-

Triết học phương Tây thời Phục hưng – cận đại

-

Triết học phương Tây hiện đại
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta chỉ dừng lại xem xét
những quan điểm triết học phương Tây trong thời Phục hưng – cận đại,
đồng thời đi sâu vào nghiên cứu những tư tưởng triết học của triết gia
Phơrăngxít Bêcơn và những ảnh hưởng của nó đến xã hội thời đó và ngày
nay.
Nội dung đề tài được chia làm hai phần chính:

1. Những tư tưởng triết học của Ph. Bêcơn
2. Những ảnh hưởng của nó đến xã hội thời đó và ngày nay.

PHẦN 1 : SƠ LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC

PHƯƠNG TÂY THỜI PHỤC HƯNG –
CẬN ĐẠI
3. Hoàn cảnh ra đời và phát triển
3.1.

Thời kỳ Phục Hưng

Khi bóng đêm của đêm trường Trung cổ bị những ánh sáng bình minh
của nền văn minh công nghiệp chiếu rọi thì Tây Âu đã có những bước

hướng tư bản chủ nghĩa. Thương mại, thị trường trao đổi hàng hoá giữa các
nước được mở rộng; giao lưu quốc tế được tăng cường, nhờ đó mà các nước
phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha... thi nhau xâm chiếm thuộc địa
để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụ hàng hoá.
Xét về bản chất kinh tế, thời kỳ phục hưng là giai đoạn quá độ của phương
thức sản xuất TBCN. Đây là thời kỳ tích luỹ tư bản đầu tiên được mở rộng.
Người nông dân bị đuổi ra khỏi ruộng đất của họ, bạo lực của kẻ cường
quyền đã tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất. Các công trường thủ
công dần dần át cách làm ăn kiểu phường hội phong kiến. Các chủ thủ công
nghiệp ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, họ trở
thành giai tầng mới nắm giữ sức mạnh kinh tế - giai cấp tư sản; trong khi
người nông dân do không còn ruộng đất phải ra thành phố kiếm kế sinh
nhai bằng cách làm thuê cho các công trường, xưởng thợ. Họ là tiền thân

 

của giai cấp vô sản sau này.


 


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
 

Phong trào chống phong kiến của nông dân, thợ thủ công trào dâng
khắp Châu Âu. Giai cấp tư sản trở thành kẻ đồng minh. Người ta không chỉ
đòi xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại
trên con đường phát triển theo xu hướng TBCN mà còn chĩa mũi nhọn vào
giáo hội La Mã, thành luỹ tinh thần của chế độ phong kiến. Đặc điểm của


 

Kuzan (1401-1464). Tiếp đó là các nhà khoa học - triết học như Nicôlai
Côpecnich (1475-1543) người Ba Lan; Lêôna đơ Vanhxi (1452-1519) - nhà
danh hoạ, nhà toán học, cơ học, kĩ sư người Italia; Gioocđanô Brunô (15481600) người Italia; Galilêô Galilê (1564-1642) người Italia. Trong số những
thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức duy vật về
thế giới, nổi trội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich (14751543), nhà bác học vĩ đại người Ba Lan. Nicôlai Côpecnich đã đứng trên
lập trường của triết học duy vật để bác bỏ thuyết địa tâm do Ptôlêmê (người
Hy Lạp) đề xuất từ thế kỷ thứ II, một giả thuyết sai lầm coi quả đất là trung
tâm của hệ mặt trời và vũ trụ. Thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich đã
giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo, thần học. Giả thuyết của
ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cách mạng trong lĩnh
vực các quan hệ xã hội sắp xảy ra.
Về mặt văn hoá, những tư tưởng triết học, những phát kiến khoa học của
thời cổ đại được khôi phục và phát triển. Các nhà tư tưởng tiên tiến của thời
đại phục hưng đặc biệt dương cao ngọn cờ nhân văn. Họ xem con người là
đối tượng nghiên cứu của triết học, những tư tưởng tốt đẹp về con người
của Protagore, Xocrate…trở thành tiền đề lý luận cho ước mơ giải phóng
con người. Các giá trị toán học của Talet, hình học của Euclide, những yếu
tố duy vật trong triết học của Epicure,..cũng dược xem xét và ghi nhận thoả
đáng.
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học
duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung
cổ. Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường
được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức
thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện. Cuối cùng, sự chuyên
chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ đã
không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết
học duy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của

thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ XVI ; Cách mạng tư
sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794). Đây cũng là
thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành
phương thức sản xuất thống trị Tây Âu. Nó tạo đã tạo ra những vận hội
mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên,
trong đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển. Đặc điểm của khoa
học tự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm. Đặc trưng
ấy tất yếu dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự
trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển, nếu có nói
 

đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc. Đó là nguyên

 


 

nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy
móc siêu hình.
Chính những điều kiện kinh tế - chính trị và khoa học tự nhiên thời
cận đại đã quy định những đặc trưng về mặt triết học thời kì này:
Thứ nhất, đây là thời kì thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ
nghĩa duy tâm, của những tư tưởng vô thần đối với hữu thần luận.
Thứ hai, chủ nghĩa duy vật thời kì này mang hình thức của chủ nghĩa
duy vật siêu hình, máy móc. Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến
trong lĩnh vực tư duy triết học và khoa học.
Thứ ba, đây là thời kì xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về
lĩnh vực xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy
tâm trong việc giải thích xã hội và lịch sử.

tưởng, trường phái triết học khác nhau, nhưng nhìn chung, nó có những đặc
điểm sau:
Thứ nhất, về mặt thế giới quan, triết học thời phục hưng – cận đại thể hiện
rõ thế giới quan máy móc bên cạnh quan điểm tự nhiên thần luận của giai
cấp tư sản- giai cấp đang vươn lên lãnh đạo xã hội. Sự xung đột giữa chủ
nghĩa duy vật và khoa học với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo rất quyết liệt.
Chủ nghĩa duy vật đã trở thành thế giới quan của giai cấp tư sản tiến bộ và
cách mạng; còn khoa học đã trở thành sức mạnh của họ trong cuộc đấu
tranh chống lại giai cấp phong kiến và Nhà thờ nhằm xác lập một trật tự
xgiai cấp phong kiến và Nhà thờ nhằm xác lập một trật tự xã hội mới. Các
quan điểm duy vật đã tìm được cơ sở khoa học cụ thể cho chính mình. Còn
quan niệm khoa học, mà trước hết là cơ học, đã được mở rộng thành chủ
nghĩa cơ giới ( máy móc ). Mặc dù các thành tựu khoa học tự nhiên, đặc
biệt là cơ học, được áp dụng rộng rãi trong tthực tiễn cuộc sống và trong
nhận thức; nhưng những niềm tin tôn giáo vẫn chưa bị đẩy lùi. Những giá
trị của Thượng đế được thừa nhận trước đây, bây giờ được coi là những giá
trị của giới tự nhiên. Giới tự nhiên được gán ghép cho nhữg tính siêu nhiên
thần thánh. Do đó, màu sắc tự nhiên thần luận là một nét đặc sắc của chủ
nghĩa duy vật máy móc lúc bấy giờ.
Thứ hai, về mặt nhận thức – phương pháp luận, triết học thời phục hưng –
cận đại chủ yếu đi tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt để
phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây dựng một triết học và một khoa
học mới có liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri thức. Tuy
nhiên, sự đối lập giữa cảm tính và lý tính rất gay gắt kéo theo sự đối lập
giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, giữa tư duy tổng hợp
và tư duy phân tích đã sản sinh ra sự đối lập của chủ nghĩa kinh nghiệm –
 

duy giác và chủ nghĩa duy lý – tự biện. Sự đối lập này đã sản sinh ra hai


trong sự hiện thực hóa vai trò thống trị của giai cấp tư sản. Thế giới quan
duy vật máy móc, nhân sinh quan nhân đạo tư sản, và phương pháp luận
siêu hình thể hiện rất rõ trong các trường phái, trào lưu, khuynh hướng triết

 

học xung đột nhau lúc bấy giờ.

11 
 


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
 

PHẦN 2 : TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
PHƠRĂNGXÍT BÊCƠN
4. Các tư tưởng triết học thời Phục hưng:
Nếu triết học Tây Âu trung đại bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm,
coi trọng lòng tin tôn giáo, đề cao vai trò của Thượng đế, coi thường lý
trí khoa học, hạ thấp vai trò của con người và giới tự nhiên…, là công cụ
tinh thần của nhà thờ và nhà nước phong kiến thống trị con người; thì
triết học Tây Âu thời Phục hưng đã bắt đầu coi trọng lý trí, đề cao con
người và giới tự nhiên. Thời kỳ này, sự phát triển của triết học gắn bó
chặt chẽ với sự phát triển của khoa học tự nhiên mà trước hết là thiên
văn học. Triết học và khoa học tự nhiên thống nhất chặt chẽ với nhau;
các nhà khoa học tự nhiên thường là các nhà triết học.Về cơ bản, triết
học Tây Âu thời Phục hưng là ngọn cờ lý luận của các lực lượng xã hội
tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống ý thức hệ phong kiến lỗi thời, nhằm
thiết lập ý thức hệ mới – ý thức hệ tư sản.

ƒ Trường phái duy lý – tự biện
ƒ Trường phái duy tâm – bất khả tri
ƒ Triết học khai sang và chủ nghĩa duy vật Pháp
ƒ Triết học cổ điển Đức
Các trường phái triết học kể trên được gắn liền với các tên tuổi lớn, và
trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, xin được phép đi sâu vào
những tư tưởng triết học của triết gia nổi tiếng Phơrăngxít Bêcơn.
6. PHƠRĂNGXÍT BÊCƠN
Phranxis Bêcơn (1561-1626) (Francis Bacon) là nhà triết học vĩ đại thời
cận đại. C.Mác coi Ph.Bêcơn là ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa
học thực nghiệm. Bắt đầu từ Ph.Bêcơn, lịch sử triết học Tây Âu bước sang
một

giai

đoạn

phát

triển

mới

với

những

màu

sắc

có thực hiện được không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của con
người. Bêcơn cho rằng tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức. Do đó cần
có một khoa học mới lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm biến
tự nhiên thành “giang sơn” của con người.
Bêcơn phê phán gay gắt chủ nghĩa kinh viện vì nó xa rời cuộc sống, chỉ
dựa vào những lập luận tuỳ tiện không có nội dung và chẳng đem lại lợi ích
gì cho con người. Theo Bacơn, triết học phải giúp con người trở nên mạnh
hơn. Nhiệm vụ của triết học là nhận thức giới tự nhiên và các mối liên hệ
phức tạp của nó.
a. Quan niệm của Ph.Bêcơn về bản chất, nhiệm vụ của khoa học và
triết học
Sống trong thời kỳ đêm trước của cuộc cách mạng tư sản Anh,
Ph.Bêcơn đã nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và triết học
và sự cần thiết phải đẩy mạnh sự phát triển của chúng như một nền tảng lý
luận của công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Ông coi đó là một
phương tiện cơ bản nhằm xoá bỏ những bất công xã hội, xây dựng cuộc
sống phồn vinh. Khác với những nhà nhân đạo cộng sản không tưởng,
Ph.Bêcơn khẳng định phải cải tạo chính xã hội hiện thực đương thời trên cơ
 

sở phát triển khoa học và triết học chứ không phải bằng cách tạo ra mô hình

14 
 


 

lý tưởng. Ông cho rằng, mục đích của xã hội là nhận thức các nguyên nhân
và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật và mở rộng sự thống trị của con người

15 
 


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
 

Đánh giá cao vai trò của tri thức lý luận trong việc cải tạo xã hội,
Ph.Bêcơn khẳng định "tri thức là sức mạnh". Từ đó ông đi đến một một kết
luận mang tính cách mạng đối với người đương thời, coi "hiệu quả và sự
sáng chế thực tiễn là người bảo lãnh và ghi nhận tính chân lý của các triết
học". Muốn chinh phục tự nhiên thì con người cần phải nhận thức các quy
luật của nó, vận dụng và tuân theo chúng.
Là một nhà tư tưởng cấp tiến có đầu óc thực tiễn của tầng lớp quý
tộc, Bêcơn đòi hỏi phải chấn hưng đất nước. Nhưng muốn vậy, cần phải
thống trị giới tự nhiên, nghĩa là biết sử dụng sức mạnh của nó và bắt nó
phục vụ lợi ích cho con người. Để làm được điều này cần phải phát triển
khoa học và triết học. nhưng muốn phát triển khoa học và triết học, thì
trước hết phải khắc phục tính tư biện giáo điều, lề thói lý luận suông xa rời
thực tế cuộc sống của triết học và khoa học cũ, nghĩa là phải có quan điểm
thực tiễn. Chỉ khi dựa trên quan điểm thực tiễn, thì mới có thể xác định
đúng vai trò, vị trí, nhiệm vụ của triết học và khoa học mới; và sử dụng
chúng một cách hiệu quả trong đời sống của con người.
Theo Bêcơn, triết học mới cần phải được coi là khoa học của mọi
khoa học, hoặc là cơ sở của mọi khoa học. Mục đích của triết học và khoa
học mới là xây dựng các tri thức lý luận chặt chẽ đầy tính thuyết phục về
mọi lĩnh vực nghiên cứu như: Thượng đế, giới tự nhiên, con người, chứ
không phải là củng cố các đức tin mù quáng. Nhiệm vụ của triết học mới là
đại phục hồi cho khoa học hay xây dựng khoa học mới bằng cách cải tạo
toàn bộ tri thức hiện có, xóa bỏ những sai lầm chủ quan, sử dụng hiệu quả

coi hình dạng của sự vật là cái nằm chính trong bản thân sự vật, là bản chất
hoàn toàn khách quan của nó; không thể có cái gọi là "hình dạng của hình
dạng" phi vật chất, cũng như "vật chất đầu tiên" phi hình dạng là không có
thực; mọi "hình dạng" đều chỉ là "hình dạng" của vật chất. Cả ba nguyên
nhân "hình dạng", "vật chất" và "vận động", thực chất đều là bản tính của
vật chất. Vì thế vật chất có bản tính là tích cực, có sinh khí chứ không phải
thụ động.
Thế giới tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào tình cảm, uy tín,
nhận thức (cái chủ quan) của con người. Triết học và khoa học không thể
biết cái gì ngoài thế giới vật chất khách quan đó. Tính đa dạng của thế giới
chỉ có thể được lý giải một cách đúng đắn và đầy đủ nhờ vào quan niệm về
vật chất, về hình dạng, về vận động…

 

Vật chất là toàn thể các phần tử rất nhỏ với những tính chất khác nhau.

17 
 


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
 

Hình dạng là nguyên nhân dẫn tới mọi sự khác biệt của các sự vật, là lý do
đầy đủ để sự vật xuất hiện, là bản chất chung của các sự vật cùng loại, là
quy luật chi phối sự vận động của chúng.
Vận động là bản năng, là sinh khí của sự vật vật chất. Vận động là thuộc
tính đầu tiên và quan trọng nhất của vật chất.
Ph.Bêcơn đã có bước tiến rất xa so với các nhà triết học trước đó và

 

đến xuất hiện những hình thức vận động khác nhau về chất, phù hợp với
trình độ cấu trúc của vật chất. Tuy nhiên việc coi đứng yên là một dạng vận
động ở Ph.Bêcơn là một quan niệm duy vật và cách mạng trong bối cảnh
lịch sử hồi đó. Ông cũng là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất
của thế giới.
Đối với con người, Ph. Bêcơn cho rằng con người là một sản phẩm của thế
giới: khi coi con người bao gồm thể xác và linh hồn, ông khẳng định rằng,
không chỉ thể xác mà cả linh hồn của con người cũng đều là vật chất. Linh
hồn của con người giống như không khí hay lửa, biết cảm giác, tồn tại trong
bộ óc, vận động theo dây thần kinh và mạch màu trong cơ thể. Ngoài việc
thừa nhận sự hiện hữu của linh hồn con người trong thể xác con người, Ph.
Bêcơn còn thừa nhận sự hiện hữu của linh hồn thực vật và linh hồn động
vật tồn tại trong cơ thể thực vật và động vật. khoa học nghiên cứu con
người và linh hồn của nó phải là khoa học tự nhiên.
c. Nhận thức luận và phương pháp luận
Quan niệm về nhận thức: Ph. Bêcơn cho rằng : cảm giác, kinh
nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức. mặc dù vẫn còn chịu ảnh
hưởng bởi quan niệm chân lý lưỡng tính – chân lý lòng tin của thần học tồn
tại cùng với chân lý lý trí của khoa học – và chưa khắc phục được tính thần
học trong quan niệm của mình, nhưng Ph. Bêcơn luôn cho rằng cảm giác,
kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức. Khoa học thực sự phải
biết sử dụng tư duy tổng hợp và phương pháp quy nạp khoa học để khái
quát các dữ kiện do kinh nghiệm mang lại nhằm khám phá ra các quy luật,
bản chất của thế giới vật chất khách quan, đa dạng và thống nhất. Khoa học
như thế chỉ có thể là khoa học thực nghiệm. Và tri thức khoa học thật sự
phải luôn mang bản tính khách quan; chúng hoàn toàn không phụ thuộc vào

 

nhân cách của mỗi người. Theo Bêcơn, "trí tuệ con người tự đặt ra chướng
ngại vật và cạm bẫy cho mình”. Vì các ngẫu tượng thường xuyên ám ảnh
con người, tạo nên cho nó những tư tưởng và ảo ảnh giả dối, xuyên tạc bộ
mặt thật của thế giới, nói tóm lại, cản trở con người xâm nhập vào thế giới
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu". Vì vậy, quá trình con người đấu tranh khắc
phục những hạn chế khách quan đó cũng là quá trình con người đấu tranh vì
sự hoàn thiện bản thân mình.

 

Bêcơn phân loại các dạng ảo tưởng như sau:

20 
 


 

Dạng ảo tưởng loài: nó sinh ra do việc loài người thường xuyên
nhầm lẫn bản chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật. Ai
cũng dễ dàng gán cho sự vật những đặc tính của riêng con người. Bêcơn
nói: "Các ngẫu tượng loài có cơ sở trong chính bản thân loài người, bởi vì
thật là sai lầm khi khẳng định cảm giác cảm tính của chúng ta là thước đo
sự vật. Ngược lại, tất cả các giác quan cũng như trí tuệ đều được dựa trên sự
tương đồng của con người, chứ không phải dựa trên sự tương đồng của thế
giới. Trí tuệ con người cũng tương tự như chiếc gương méo, khi nó pha trộn
bản chất của mình với bản chất của sự vật thì nó phản ánh các sự vật dưới
dạng bị xuyên tạc, bóp méo".
Sở dĩ có loại ngẫu tượng này, theo Bêcơn, là do các giác quan cũng
như trí tuệ của con người còn chưa được hoàn thiện. Một trong những biểu

mỗi người còn có các đặc tính chủ quan, tâm lí, tính cách đặc thù của mình
làm xuyên tạc bản chất khách quan của sự vật. Chúng còn xuất hiện do
hoàn cảnh giáo dục của mỗi người cũng khác nhau. Thực chất ngẫu tượng
hang động chính là ngẫu tượng loài, nhưng biểu hiện ở mỗi người cụ thể ở
mức độ và hình thức khác nhau. Sở dĩ gọi là ngẫu tượng hang động vì mượn
câu chuyện của Platôn về hang động, Ph.Bêcơn ví trí tuệ của con người như
hang động méo mó của Platôn, mà trong đó thể hiện cái bóng của các sự
kiện diễn ra bên ngoài.
Để hạn chế dạng ngẫu tượng này, mỗi người cần phải hoàn thiện
nhân cách của mình, thận trọng trong quá trình nhận thức, dựa vào kinh
nghiệm tập thể v.v..
Dạng ảo tưởng thị trường: được hình thành khi con người không
xuất phát từ tình hình thực tế của bản than sự vật mà dựa vào thói quen, tập
quán, quan niệm, thuật ngữ mơ hồ không phản ánh đúng bản chất của sự vật
để nhận thức nó. Ảo tưởng này xuất hiện do thường xuyên sử dụng những
danh từ trống rỗng để giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày (giống như ở
chợ). Đó còn do sự ngộ nhận sử dụng các thuật ngữ khoa học chưa thật
chính xác. Theo ông, nhiều từ ngữ đã trở nên cưỡng bức lý tính, làm đảo
lộn tất cả và cuối cùng, thì chỉ dẫn mọi người đến các cuộc cãi vả để diễn
giải những cái rỗng tuếch. Vì thế phải phải bỏ thói quen dựa vào các quan
niệm đang lưu hành và có thái độ phê phán đối với các thuật ngữ mơ hồ
không chính xác. Theo Bêcơn, điều kiện được gọi là tri thức phải là tính
chính xác của khái niệm.
Dạng ảo tưởng này xuất hiện do mọi người thường hay sùng bái,
chạy theo các quan điểm của ai đó có uy tín, hoặc ủng hộ những quan điểm
phổ biến giáo điều, các tập quán truyền thống, trong đó bên cạnh nhiều yếu

 

tố tích cực, cũng chứa đựng không ít những điều lạc hậu. Các ngẫu tượng

lòng tin, tín điều,…; ra sức hoàn thiện phương tiện, công cụ nhận thức và
nhân cách, cá tính cá nhân của mỗi người, đặc biệt phải biết làm thí nghiệm,
biết sử dụng phép quy nạp khoa học, biết tổng hợp và khái quát hóa một
cách đúng đắn các tài liệu kinh nghiệm cảm tính riêng lẻ để xây dựng chuẩn
xác các khái niệm, nguyên lý chung phản ánh đúng đắn, chính xác bản chất,
 

quy luật của sự vật tồn tại trong hiện thực khách quan.

23 
 


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
 

Nhìn chung, việc xác định bản chất và nguyên nhân của các ngẫu
tượng của Ph.Bêcơn còn mang nặng tính trực quan, chủ yếu xét ở khía cạnh
nhận thức luận, vì vậy chưa đưa ra được các giải pháp khắc phục ngẫu
tượng một cách hợp lý. Công lao của ông trong học tuyết về ngẫu tượng là
ở chỗ ông đã đặt ra vấn đề cơ sở xã hội của quá trình nhận thức; ở chỗ
khẳng định quá trình nhận thức sự vật phải hoàn toàn khách quan, xem xét
với tinh thần phê phán, cách mạng chứ không giáo điều. Những tư tưởng đó
có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với thời đại của ông mà còn đối với cả hiện
nay.
Ph.Bêcơn là một trong những người đầu tiên nhận thức được hạn chế
của tam đoạn luận và của lôgic hình thức - cái mà từ trước đến bấy giờ vẫn
được coi là phương pháp nhận thức vạn năng, đồng thời ông là một trong
những người khởi xướng ra tư tưởng lôgic mới.
Ph.Bêcơn liệt kê, phân tích những phương pháp nhận thức cơ bản

Để khắc phục những hạn chế nói trên, Ph.Bêcơn đưa ra "phương
pháp con ong". Bản chất của "phương pháp con ong" là từ những tri thức
do cảm tính đem lại chế biến chúng, như con ong biến mật hoa thành mật
ong, rút ra những tri thức mới bằng tư duy lý tính. “Con ong chọn phương
thức hành động trung gian, nó khai thác vật liệu từ hoa ngoài vườn và ruộng
đồng nhưng sử dụng và biến đổi nó phù hợp với khả năng và chỉ định của
mình. Công việc đích thực của triết học cũng không khác gì công việc đó”.
Về vai trò của phương pháp, Bacơn cho rằng “người què chạy đúng hướng
sẽ nhanh hơn kẻ lành chạy sai đường” hoặc “phương pháp giống như ngọn
đèn soi đường cho lữ khách trong đêm đông”.
Đương thời, Ph. Bêcơn đưa ra phương pháp 3 bảng ( bảng có mặt,
bảng vắng mặt, bảng trình độ), sau này Milơ đã hệ thống hóa thành 4
phương pháp Milơ để khám phá ra mối liên hệ nhân quả mang tính quy luật
chi phối các sự vật, hiện tượng khách quan, đa dạng và thống nhất trong thế
giới vật chất.
Phương pháp nhận thức tối ưu, theo Ph.Bêcơn, là phương pháp quy
nạp. Ông coi phương pháp quy nạp là chiếc la bàn của khoa học. Đây là
phương pháp cơ bản mang lại nhiều phát minh nổi tiếng của khoa học thực
nghiệm trước đây. Nó dẫn dắt tư duy khoa học xuất phát từ những sự kiện
khoa học riêng lẻ ( cái riêng) để đi đến những nguyên lý, quy luật tổng quát
(cái chung) khi dựa trên mối liên hệ nhân quả mang tính quy luật giữa
chúng đã được phát hiện ra, mà không nhất thiết phải dựa trên số lượng lớn
các sự kiện riêng lẻ được khảo sát. Theo Ph. Bêcơn, quá trình nghiên cứu –

 

nhận thức đúng đắn cần phải trải qua 3 bước như sau:

25 
 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status