TRệễỉNG ẹAẽI HOẽC KINH TE TP.HO CH MINH
KHOA O TO SAU I HC
TIU LUN TRIT HC
ti: T TNG TRIT HC CA ARIXTT
GI TR V HN CH
SVTH : DNG BCH HU
STT : 63
LP : UEH_K21_QTKDD5
NHểM : 07
GVHD : T.s Bựi Vn Ma
Tp HCM, Thỏng 02 nm 2012
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1) Họp nhóm lần 1:
- Ngày: 16/1/2012
- Địa điểm: Cổng Trường ĐH Kinh tế - Cơ sở A Nguyễn Đình Chiểu
- Nội dung họp: Thống nhất dàn bài tiểu luận, các tư tưởng triết học, nội
dung chính về giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Arixtốt sau khi đã
tham khảo tài liệu ở nhà. Đưa ra phạm vi nghiên cứu và sườn bài cụ thể,
bước đầu hoàn thành sườn bài chương 1. Sau đó, nhóm trưởng tổng hợp
lại và mail cho mọi người để chỉnh sửa và hoàn thiện. Trong thời gian
nghỉ Tết, mọi người tìm kiếm, chia sẻ tài liệu.
2) Họp nhóm lần 2:
- Ngày: 1/2/2012
- Địa điểm: Phòng A303 - Trường ĐH Kinh tế - Cơ sở A Nguyễn Đình
Chiểu
- Nội dung: Mỗi thành viên trong nhóm đưa ra quan điểm của mình
nhằm hoàn thiện cho chương 2: Giá trị và hạn chế tư tưởng Arixtốt. Đây
là phần khó, các thành viên trong nhóm đưa ra ý kiến xây dựng giá trị và
hạn chế cho đến khi đạt được thống nhất chung nhất.
3) Ngoài ra:
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
2
1. 1. Thuyết nguyên nhân - Cơ sở của siêu hình học
2
1.2. Vật lý học
3
1.3. Nhận thức luận
3
1.4. Logic học
4
1.5. Nhân bản học
5
1.6. Học thuyết chính trị- xã hội
6
1.7. Đạo đức học
6
1.8 Thẩm mỹ học và những tư tưởng về kinh tế học
7
Chương 2 : GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG ARIXTỐT
8
2.1. Giá trị của tư tưởng triết học Arixtốt
8
2.2. Hạn chế trong tư tưởng triết học Arixtốt:
10
KẾT LUẬN
12
để bài viết được hoàn thiện hơn.
1
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
1.1. Thuyết nguyên nhân – Cơ sở siêu hình học
Theo Arixtốt tồn tại nói chung xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ bản: hình dạng,
vật chất, vận động và mục đích [1,111]. Bất kỳ sự vật nào cũng đều phát triển dựa
trên 4 nguyên nhân đó. Tương tự như vậy, bất kỳ sự vật nào cũng có 4 nguyên
nhân trên thì mới có thể tồn tại được.
Trong số các nguyên nhân trên của tồn tại thì nguyên nhân hình dạng là cơ bản
nhất. Nó là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự vật. Bản thân nó đã bao hàm
cả nguyên nhân vận động và mục đích. Với việc thừa nhận nguyên nhân mục
đích trong sự phát triển của mọi vật, Arixtốt đã làm cho quan niệm của ông về
tồn tại trở nên thần bí. Như vậy, coi vận động và mục đích chỉ là những khía
cạnh khác nhau của của nguyên nhân hình dạng, Arixtốt đã thừa nhận học thuyết
bốn nguyên nhân chỉ là sự phát triển, cụ thể hóa quan niệm của ông về hình dạng
và vật chất cũng như mối quan hệ giữa chúng.
Trong hai nguyên nhân cơ bản của tồn tại – vật chất và hình dạng, thì Arixtốt
coi hình dạng là nguyên nhân quan trọng hơn, có vai trò quyết định, bởi nó là bản
chất của sự vật. Xác định bản chất của sự vật ông đưa ra hai tiêu chuẩn:
Thứ nhất, bản chất phải là cái được nhận thức trong khái niệm, tức là cái
chung. Góc độ này ông hiểu bản chất của sự vật thuộc về lĩnh vực tinh thần.
Thứ hai, mỗi sự vật đều có đặc tính riêng của mình, do vậy bản chất phải là cái
riêng. Mà theo Arixtốt cái riêng không thể biểu hiện được bằng khái niệm, không
đem lại cho chúng ta một tri thức đích thực nào.
Như vậy, hai tiêu chuẩn trên mâu thuẫn với nhau. Điều này dẫn đến mâu thuẫn
trong quan niệm về mối quan hệ giữa vật chất và hình dạng. Một mặt, ông khẳng
định mọi sự vật trong thế giới đều là sự thống nhất giữa vật chất và hình dạng.
Mặt khác, ông thừa nhận tồn tại “ hình dạng thuần túy” phi vật chất hoàn toàn
thuộc về lĩnh vực tư tưởng, khẳng định có “vật chất đầu tiên” – vật chất phi hình
dạng. Hơn nữa ông còn coi “ hình dạng thuần túy” là động cơ đầu tiên của thế
nào không nhận thức được kể đó không phải là người.
Lý luận nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng nhận
thức luận thời cổ đại. Khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người,
3
ông coi quá trình nhận thức là quá trình khám phá ra chân lí đích thực về bản
chất sự vật. Ông phê phán mọi quan niệm hoài nghi luận trong nhận thức, ông coi
“ ngụy biện chỉ là một sự thông thái giả hiệu”.
Arixtốt đề cao vai trò của nhận thức lý tính (khái quát hóa, trừu tượng hóa)
hơn cảm tính. Nó đem lại cho ta những hiểu biết xác thực và sinh động về sự vật
đơn nhất. Ông là người khởi xướng nguyên lý tabula rasa (nguyên lý tấm bảng
sạch) – coi linh hồn con người khi mới sinh ra hoàn toàn không có tri thức – đối
lập với tư tưởng của Platon coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại. Theo Arixtốt
nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình
nhận thức.
Tiếp sau là nhận thức kinh nghiệm, theo Arixtốt đó là hàng chuỗi những liên
tưởng về cùng một sự vật hay nhóm các sự vật nhất định. Và cao hơn kinh
nghiệm là nhận thức nghệ thuật mà nền tảng của nó là thực tiễn của con người.
Nó đem lại nhưng tri thức mang tính khái quát hơn so với các dạng nhận thức
trên.
Dạng nhận thức cao nhất đó là nhận thức khoa học, trong đó triết học là tối
cao. Nó là hoạt động trí tuệ đem lại cho chúng ta những tri thức lý luận có tính
khái quát cao. Dưới con mắt của Arixtốt, khoa học là một hệ thống tri thức phức
tạp. Ông là người đầu tiên tìm cách phân loại các khoa học.
1.4. Logic học
Arixtốt được xem là ông tổ của lôgic học – khoa học về tư duy và các quy luật
của nó. Ông là người đầu tiên đã trình bày hoàn chỉnh và có hệ thống những quy
luật cơ bản của tư duy đúng đắn.
Những quy luật cơ bản của tuy duy lôgic bao gồm: quy luật đồng nhất ( A =
A), quy luật cấm mâu thuẫn (A # > A) và quy luật loại trừ cái thứ ba ( hoặc A,
hoặc > A). Từ đây, Arixtốt đã xây dựng nên tam đoạn luận nổi tiếng của mình
khả năng cảm ứng với môi trường xung quanh. Cả hai linh hồn này đều xếp là: “
linh hồn vật lý”, chúng gắn bó hữu cơ và bị hủy cùng thể xác; 3) linh hồn lý tính
là dạng cao nhất của linh hồn và chỉ tồn tại ở người, đó là khả năng tư duy, trí tuệ
của con người.
5
Ở đây, Arixtốt hiểu linh hồn theo nghĩa khá rộng. Nó không chỉ dừng lại ở các
khả năng suy nghĩ hay cảm nhận của con người.
1.6. Học thuyết chính trị - xã hội
Theo Arixtốt, con người là một sinh vật xã hội. Bản tính của nó là sống cộng
đồng. Hình thức tổ chức cuộc sống cộng đồng đó trong một thể chế nhất định
được gọi là nhà nước. Nhà nước đem lại sinh khí cho mỗi gia đình, mỗi quần cư
và từng con người trong xã hội. Arixtốt coi hình thức tổ chức gia đình kiểu chiếm
hữu nô lệ là hình thức sống cộng đồng tự nhiên và vĩnh viễn. Nhà nước ra đời
trên cơ sở gia đình. Thể chế chính trị là trật tự làm cơ sở để phân bố chính quyền
nhà nước. Thể chế chính trị điều hành và quản lý xã hội về ba phương diện: lập
pháp, hành chính và phân xử.
Arixtốt ủng hộ nhà nước quân chủ, coi đó như là hình thức tổ chức nhà nước
thần thánh và ưu việt nhất. Ông phê phán mạnh mẽ chế độ bạo chúa, cho rằng nó
không phù hợp với bản chất của con người. Theo ông nghĩ thì mục đích của nhà
nước là cuộc sống phúc lợi bản thân nhà nước là sự giao thiệp của các gia tộc và
dân cư nhằm đạt được sự tồn tại một cách hoàn thiện và tự lập.
1.7. Đạo đức học
Arixtốt xây dựng học thuyết về đạo đức của mình dựa vào tâm lý học. Theo
ông thì linh hồn con người được chia làm ba phần: lý tính thuần túy, lý tính thực
tiễn, phần khoái lạc ham muốn. Đức hạnh theo Arixtốt là đức hạnh của hành vi
đạo đức. Nó không phải được tự nhiên ban cho con người một cách tự động, tự
nhiên chỉ cho con người khả năng có đức hạnh. Sự thông thái và trí tuệ của con
người có thể có được là do học tập, còn đạo đức có được là do giáo dục. Như vậy
khác với Xôcrát quan niệm đạo đức là do bẩm sinh mà có, Arixtốt cho rằng đức
hạnh của con người là kết quả của sự giáo dục. Ngoài ra Arixtốt còn xem xét đạo
và nhà thờ. Giai cấp chủ nô đã sử dụng những tư tưởng về nô lệ để củng cố
quyền lực của mình. Nhà thờ (thánh Thoomaraty) dùng triết học của ông loại bỏ
những mặt tích cực, giữ lại những cái tiêu cực làm thành triết lý nhà thờ trong
kinh thánh đẻ củng cố địa vị, bảo vệ nhà thờ.
Arixtốt là người đầu tiên tổng kết và hệ thống hóa tư tưởng triết học trong lịch
sử triết học Hy Lạp cổ đại. Cho đến nay sự tìm kiếm điểm khởi đầu của quá trình
phát sinh lịch sử triết học vẫn còn tiếp tục. Nhiều nhà triết học macxít đã coi
Arixtốt là người mở đầu lịch sử tư duy triết học, là người đã giải phóng triệt để tư
duy tiền khoa học, là người đầu tiên đã tổng kết, khái quát lịch sử tri thức nhân
loại và đưa triết học phát triền lên tầm cao mới nhờ việc phê phán học thuyết về
“con số" của Pitago, học thuyết về “ý niệm" của Platôn. Có lẽ là như vậy, và lịch
sử triết học đã ra đời từ đó. Nét đặc biệt của thời đại Arixtốt chính là giai đoạn
tổng kết và tích luỹ tri thức mà người cổ đại đã đạt được là giai đoạn mà sự vận
động và tiến bộ xã hội diễn ra rất nhanh, trên nền tảng ấy triết học phát triển và
đã đem lại một cách nhìn mới về thế giới trong một chỉnh thể thống nhất. Những
hệ thống triết học như thế có thể tìm thấy ở triết học tự nhiên của Êmpêđốccđơ
và hệ thống triết học của Pácmênít. Hơn thế nữa, chúng ta có thể tìm thấy sự
sống động và tính đa dạng trong di sản triết học của Platôn, nơi mà mỗi sự kiện
được ông miêu tả, nhận xét, đánh giá
đều toát lên những khía cạnh của lịch sử triết học.
Ông là người đầu tiên đã xây dựng một hệ thống các phạm trù. Đây là điểm
khởi đầu cho tất cả cá học thuyết tiếp theo về phạm trù. Hệ thống phạm trù của
Arixtốt là sự khái quát và kế tục những thành quả của toàn bộ nền triết học Hy
lạp cổ đạigiai đoạn trước ông. Nó chiệm một vị trí quan trọng trong lich sử triết
học và ngày ny nhiều phạm trù của nó vẫn còn giữ nguyên giá trị bởi vì đó là
những phạm trù cơ bản nhất trong tư duy nhân loại. Khi nghiên cứu các phạm trù
của Arixtốt ta thấy chúng đều gắn với nhau bởi những mối liên hệ có tính chất
8
biện chứng và qua đó tạo nên một hệ thống, tuy chưa thật hoàn chỉnh nhưng là hệ
thống phạm trù đầu tiên trong lịch sử triết học, mở đầu cho sự phát triển của các
toàn tách biệt với các sự vật cảm tính, đồng thời lại cho rằng các sự vật đó là cái
bóng của ý niệm là bản sao của chúng. Như vây là thừa nhận sự vật và khái niệm
dù sao cũng có điểm tương đồng nhất định. Từ mâu thuẫn logic trên đây, Platon
buộc phải thừa nhận sự tồn tại của một “thế giới thứ ba”giống với hai thế giới kia
và đứng lên trên chúng. Như vậy, mỗi người cụ thể chẳng hạn, để có thể biểu
hiện đúng bản chất với khái niệm con người của mình lại cần đến “con người
thứ ba” làm môi giới. Điều đó theo Arixtốt là không thể chấp nhận được.
Bộ óc bách khoa toàn thư. Arixtốt là người am hiểu các sự vật, sự việc thời
trung cổ, các tác phẩm của ông thể hiện sự uyên bác trong các lĩnh vực. Anghen
viết: "Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát,
bẩm sinh và Aristotle, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã
nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng".[5,34]
2.2 Hạn chế trong tư tưởng Arixtốt
Triết học Arixtốt thể hiện thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống
trị. Đứng trên lập trường giai cấp chủ nô ông cho rằng nô lệ là động vật thấp hèn,
nếu không có sự đẫn dắt của chủ nô sẽ trở nên vô dụng. Ông còn sử dụng triết
học của mình để đề cao vai trò của nhà thờ khi cho rằng con người ta không đến
nhà thờ sẽ bị sa tăng đưa đường dẫn lối. Chính những quan điểm này của ông đã
được giai cấp chủ nô và nhà thờ quán triệt chặt chẽ để khẳng định địa vị của
mình.
Các quan niệm của ông không nhất quán, dao động giữa lập trường duy vật và
duy tâm thể hiện rõ trong quan niệm về vật chất và hình dạng. Một mặt ông cho
rằng vật chất và hình dạng là một thể thống nhất không thể tách rời, mặt khác lại
cho rằng có hình thái phi vật chất tồn tại và giải thích sự tồn tại là do sự kiểm
soát của thượng đế. Mặc dù, Arixtốt đã nhận thấy sự mâu thuẫn trong tư duy của
mình, nhưng do đứng trên lập trường giai cấp thống trị, ông đã dùng Thượng Đế
để giải thích cho những sai lầm, thiếu sót của mình đưa quan điểm rơi vào duy
tâm.
10
Arixtốt thần thánh hóa nhận thức lý tính, coi nó như là chức năng của linh
Hêghen đã nhận xét về những tác phẩm của ông: “ bao chứa toàn bộ các quan
niệm của con người, trí tuệ của Arixtốt đề cập đến mọi mặt và mọi lĩnh vực của
thế giới hiện thực”[6,554]. Mặc dù các quan niệm của ông không nhất quán, dao
động giữa lập trường duy vật và duy tâm, nhưng ông đã là người đặt nền móng
cho triết học châu Âu và thế giới, đồng thời còn là người mở ra hướng nghiên
cứu cho một loạt các khoa học xã hội và nhân văn chuyên ngành như: chính trị
học, kinh tế học, đạo đức học, thẩm mỹ học, tâm lý học và đặc biệt là khoa lôgic
học hình thức cho đến ngày nay và sau này vẫn còn nguyên giá trị.
Arixtốt được C.Mác đánh giá là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại”.
Còn theo Engel là “khối óc toàn diện nhất” trong số triết gia cổ đại Hy Lạp. Điều
nổi bật của ông là dám mạnh dạng biểu thị sự bất đồng của mình đối với những
tư tưởng của người thầy, ông đứng trên lập trường của tri thức có luận cứ khoa
học và hoàn toàn dựa vào lôgic học để giải thích. Với sự yêu mến sự minh triết
và tôn trọng chân lý Arixtốt đã nói: “Thầy và chân lý đều quý, nhưng chân lý còn
quý hơn”. Với phong cách làm việc như vậy, Arixtốt đã cho ra đời một hệ thống
triết học của riêng mình vô cùng phong phú, với tính quảng bác và đa dạng về đề
tài, đã gây không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu sau này khi muốn xác định
điểm khởi nguyên và hệ thống chúng. Bên cạnh đó, sự miệt mài nghiên cứu và là
việc nghiêm túc của ông chính là điều mà thế hệ sau cần học hỏi, noi theo.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ định rằng với sự hạn chế về lịch
sử và thời đại, triết học của ông mắc phải nhiều sai lầm, tư tưởng còn đậm tính
chủ quan. Bên cạnh đó, do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị nên triết
học của ông có sự mâu thuẫn do bảo vệ quyền lực của giai cấp này nên từ chủ
nghĩa nhị nguyên ông lún sâu vào chủ nghĩa duy tâm, hòa nhập với thần học. Cái
bóng quá lớn trong triết học Arixtốt gây khó khăn không nhỏ cho thế hệ đi sau
bác bỏ quan điểm sai lầm của ông tiêu biểu như: Bêcơn dùng thuyết quy nạp
chống lại tam đoạn luận, Galilê chống lại thuyết địa tâm.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Bùi Văn Mưa (chủ biên), Triết học-Phần I Đại cương về lịch sử triết học,