HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA XUẤT BẢN
********
TIỂU LUẬN
Đề tài: Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại,
cuộc đời và cái chết của triết gia Socrate
1
I.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại thời cổ đại, là
thời kì phát triển rực rỡ của xã hội loài người... Nền triết học Hy Lạp cổ đại là
khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học
phương tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân
loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương tây sau này. Triết học
thời kì này được đánh giá là rất phát triển, với những cái tên hết sức nổi tiếng:
Acsimet, Talet, Hêraclit, Đêmocrit, Platôn, Arixtốt, Xôcrat. Đánh giá vai trò
của Hy Lạp cổ đại, Ăng Ghen đã viết: “Không có cái cơ sở do Hy Lạp và La
Mã xây nên thì không thể có Châu Âu hiện đại… những hình thức huy hoàng
của nó đã dẹp tan những bóng ma của thời kì Trung cổ, ở nước Ý đã xuất hiện
một thời kì phồn vinh chưa từng có về nghệ thuật…”
Nền triết học trung cổ là khoảng lặng của những phách nhạc thời gian trải qua
hàng ngàn năm, rồi mới được thăng hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời
kỳ phục hưng. Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng
Về tự nhiên
Hy Lạp cổ đại là quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa. Bao gồm miền
Nam bán đảo Ban Căng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở
miền Egee. Hy Lạp được chia làm ba khu vực. Bắc , Nam và Trung bộ.
Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có
thành phố lớn như Athen. Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng
bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía
Đông của bán đảo Ban Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho
ngành hàng hải phát triển. Các đảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho
việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Vùng
ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương giữa Hy Lạp và các nước phương
Đông.
Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh
chóng phát triển tất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá
trị văn hoá. Vì vậy, nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con
người có dịp bay bổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Xứng đáng là
chiếc nôi của nền văn minh châu Âu và của cả nhân loại. Sự hình thành triết
học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của việc
kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân gian, trong
thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự nhiên).
Những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch
pháp…đã xuất hiện do nhu cầu buôn bán, vượt biển đến các nước phương
Đông. Vì vậy, các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cũng là những người đã
nhiều lần đến phương Đông và nhiều vùng đất khác.
Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếuđó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại. C.Mác viết: “Các nhà
triết học không phải những cây nấm mọc trên đất. Họ là sản phẩm của thời đại
mình, dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn
ra. Và đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ
sộ và sâu sắc.
5
Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói
trên là những điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học cổ Hy Lạp. Như
Ăng Ghen nói, nếu không có chế độ nô lệ, thì cũng không có nhà nước Hy
Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hy Lạp.
Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội
phân hóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ. Lao động bị
phân hóa thành lao động chân tay và lao động trí óc. Đất nước bị chia phân
thành nhiều nước nhỏ. Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm. Trong đó,
Sparte và Athen là hai thành phố cổ hùng mạnh nhất, nòng cốt cho lịch sử Hy
Lạp cổ đại.
Thành bang Athen nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có
điều kiện địa lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của
Hy Lạp cổ đại, và là cái nôi của triết học Châu Âu. Tương ứng với sự phát
triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Athen.
Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát
triển nông nghiệp. Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối.
Chính vì thế Sparte đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện
sự áp bức rất tàn khốc đối với nô lệ.
Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành
cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự
thất bại của thành Athen. Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm
trọng về kinh tế, chính trị và quân sự của đất nước Hy Lạp. Chiến tranh,
nghèo đói đã nảy sinh các cuộc nỗi dậy của tầng lớp nô lệ. Nhưng lại thất bại
vì họ xuất phát từ nhiều bộ lạc khác nhau, không có ngôn ngữ chung, không
vậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở
khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức.
Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và
biện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối
duy nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng. Với ý nghĩa đó,
những tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại đã làm thành hình
thức đầu tiên của phép biện chứng.
7
3. Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại
3.1 Chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Milet - trường phái
Heraclite, trường phái Đa nguyên và đạt được đỉnh cao như trong trường phái
Nguyên tử luận.
3.1.1 Trường phái Milet
Trường phái triết học Milet là trường phái của các nhà triết học đầu tiên
xứ Lonie, một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp. Nằm chạy dài trên miền duyên
hải Tiểu Á, nằm giữ huyết mạch giao thông, là cửa mở đi về phương Đông, và
là trung tâm kinh tế, văn hóa của thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Nơi đây được xem
là quê hương của nhiều trường phái triết học của triết gia nổi tiếng.
Trường phái này do ba nhà triết học lập nên như: Thales, Anaximène và Anaximandes. Đóng góp quan trọng nhất của trường phái này là đã
đặc nền móng do sự hình thành các khái niệm triết học để các triết gia sau này
tiếp tục bổ xung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm
chất, không gian, sự đấu tranh của các mặt đối lập v.v… Một điều đáng quý
nữa là các triết gia đã xuất phát từ thế giới để giải thích thế giới, khẳng định
thế giới xuất phát từ một thời nguyên vật chất duy nhất.
3.1.2 Trường phái Héraclite
3.1.4 Trường phái nguyên tử luận
Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại được thể
hiện trong trường phái nguyên tử luận thế kỷ V – III (TCN). Leucippe là
người sáng lập và Démocrite là người kế thừa và phát triển.
Leucippe cho rằng, mọi sự vật được cấu thành từ những nguyên tử. Đó là
những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia được, nó vô hạn về số lượng
và vô hạn về hình thức, nó vô cùng nhỏ bé, không thể thẩm thấu được. Tư
tưởng của ông không được hiểu một cách đầy đủ, nhưng ông đã để lại qua
những trang viết của các học trò ông tổng hợp. Đêmôcrít là học trò của
Leucippe đã kế thừa và phát triển thuyết nguyên tử luận trên một phương
9
diện mới. Theo ông vũ trụ được cấu thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên
tử và chân không. Hai thực thể này là căn nguyên của các sự vật hiện tượng.
3.2 Chủ nghĩa duy tâm
Giai đoạn Hy Lap cổ đại, chủ nghĩa duy tâm được hình thành trong
trường phái triết học Pythagore, trải qua trường phái duy lý Elee và đạt được
đỉnh cao trong trường phái duy tâm khách quan của Platon, tức thế giới ý
niệm.
3.2.1 Trường phái Pitago
Pytagore (Pythagore, 571 – 497 TCN) là nhà triết học, toán học uyên bác.
Sinh ra và lớn lên ở vùng Tiểu Á. Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng
“con số” là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật. Một vật tương
ứng với một con số nhất định, con số có trước vạn vật. Và tư tưởng Pitago
cũng thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh hồn. Ông cũng bàn đến các mặt
đối lập vốn có của mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu
hạn và vô hạn, chẵn và lẻ, đơn và đa, phải và trái, nam và nữ, động và tĩnh,
nhận thức về chính mình”. Bàn về con người dưới khía cạnh đạo đức. Platôn
xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở Athen. Ông trở thành kiệt xuất
nhất thời cổ đại Hy Lạp bởi quan niệm triết học duy tâm khách quan. Ông xây
dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết ý niệm”,
với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu
sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội.
3.3 Chủ nghĩa nhị nguyên
Triết học Aristote :
Aristote (384 – 322 TCN). Ông sinh ra tại miền Bắc Hy Lạp, là học trò
xuất sắc của Platon. Nhưng đặc biệt ông phê phán học thuyết “ý niệm” của
Platon. Vì ý niệm nó thuộc về thế giới bên kia không có lợi cho người. Theo
Platon, ông cho rằng thuộc tính quan trọng của thế giới là “vận động”. Triết
học của Platon còn thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên. Tự nhiên là toàn
bộ của sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi. Thông
qua vận động mà giới tự nhiên được thể hiện ra. Vận động không tách rời vật
thể tự nhiên. Vận động của thế giới tự nhiên có nhiều hình thức, sự tăng và
giảm, sự ra đời và tiêu diệt, sự thay đổi trong không gian, sự thay đổi về chất
… Tuy nhiên, triết học của ông còn hạn chế, dao động giữa chủ nghĩa duy vật
11
và chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông đã mở ra một chân trời mới cho khoa học
Phương Tây phát triển.
4. Triết gia Socrate
4.1 Tiểu sử của Socrate
Socrate xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athen. Cha làm nghề điêu
khắc, mẹ là nữ hộ sinh. Ông hướng về chính thể chủ nô quý tộc chống lại chủ
nô dân chủ. Ông bị chủ nô dân chủ kết án tử hình về tội “coi thường luật
pháp, chống lại chế độ bầu cử dân chủ”. Đối với ông chỉ có văn nói sống
động, và văn viết đã bị khô cứng. Vì vậy cuộc đời ông không để lại một tác
thức như giai cấp quý tộc và các triết gia mới là những người có đạo đức. Bốn
bước này quan hệ chặt chẽ với nhau trên bước đường tìm kiếm tri thức chân
thật, bản chất giúp con người sống đúng với tư cách và phận sự, của nó trong
đời sống xã hội.
Sự đóng góp của ông thay đổi từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân
minh đã làm nên một bước chuyển mới trong nền triết học. Cho nên, triết học
Hy Lạp mới lấy ông làm tiêu chí để phân kỳ, nó là thẩm định những giá trị
của tư tưởng Socrates đối với sự phát triển trong lịch sử.
Ông là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, ông không để
lại cho đời một tác phẩm nào, vì ông chỉ thường xuyên đàm luận mà không
viết. Ngày nay chúng ta sở dĩ biết được được về Socrates là do các học trò của
ông và những tư tưởng khác .
Năm 399 trước Công nguyên ông bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống
chế độ dân chủ, chủ trương thay tôn giáo đương thời bằng một tôn giáo mới
làm giảm hiệu lực của nước nha, là hư hỏng thanh niên. Ông đã từ chối việc
cứu ông ra nước ngoài và đã uống thuốc độc tự tử trong tù.
4.3. Tư tưởng triết học của Socrate
Socrates khác với các nhà triết học khác, ông không hướng về nghiên cứu
tự nhiên. Ông dành phần lớn công sức nghiên cứu triết học về nhân bản, về
con người và về Đạo Đức, ông đã nói với các học trò rằng không nên đặt vấn
đề nghiên cứu tự nhiên, vì giới tự nhiên đã được thần thánh an bài cả rồi, nếu
cố công phá khám phá giới tự nhiên là xúc phạm đến thần thánh, thần thánh ở
khắp mọi nơi, có sức mạnh kỳ diệu, sáng tạo ra thế giới, có thể nhìn thấy tất
cả, nhưng không thích con người phát hiện ra mình.
13
Do vậy Socrates cho rằng triết học không có gì khác hơn là sự nhận thức
của con người về chính bản thân mình “ con người hãy nhận thức chính
14
Hai là “ đỡ đẻ “ đây là thủ pháp đi liền với thủ pháp thứ nhất, và được
thực hiện sau khi tiến hành thủ pháp “ mỉa mai”, bởi vì sau khi làm cho đối
phương tranh luận thấy được cái sai của mình thì cần phải giúp đỡ họ tìm ra
lối thoát bằng cách đạt tới tri thức đúng trừ bỏ quan điểm sai.
Ba là “ quy nạp” mục đích của yếu tố này là từ những cái riêng lẻ khái
quát lên thành cái chung, có ý nghĩa phổ biến, nghĩa là từ những hành vi đạo
đức cụ thể, riêng lẻ phải phân tích, so sánh để tìm ra cái thiện phổ biến của
mọi hành vi đạo đức.
Bốn là “xác định “, chủ yếu chỉ ra những hành vi Đạo Đức thuộc loại
nào, chúng có phụ thuộc và quan hệ với nhau như thế nào.
Socrates đưa nhieu ví dụ để chứng minh: nếu không hiểu được cái chung
cái phổ biến, thì người ta không thể nào phân biệt cái chính nghĩa và cái phi
nghĩa, cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu ….
Socrates đã nói rằng; “Ánh sáng nội tại trong con người ví như ánh sáng
mặt trời, có thể toả khắp nơi. Không một thứ nào bên ngoài con người như
tiền tài danh vọng, nhà cao cửa rộng lại tỏa rạng hơn nó.” Chính vì những
quan điểm đó mà Socrates đã trọn đời đi lang thang truyền dạy, và cũng chính
vì nó mà Socrates sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình.
4.5 Cái chết của Socrate
Ông là nhà triết học cổ đại Hy Lạp đầu tiên đề cập đến con người, ông
quan niệm “Hãy tìm hiểu chính mình”, đó là chuẩn mực về đạo đức. Nền
tảng đạo đức của ông là Đạo đức học duy lý , nó có ba đặc tính cơ bản: Tri
thức, kết hợp lí luận với thực tiễn, hạnh phúc là làm điều thiện. Chính cái tính
hiền triết đạo đức trong ông như là giá trị của cái thiện tiềm ẩn mà cả đời ông
đã theo đuổi.
Socrate ủng hộ chủ nô quí tộc thời bây giờ, lúc chủ nô dân chủ lật đổ chủ
nô quí tộc cũng là lúc cánh cửa cuộc đời ông khép lại.
5.1 Ưu điểm:
- Triết học cổ hy lạp như hồi chuông tỉnh thức giấc mộng thần thánh
muôn đời của người dân Hy Lạp. Tách ly vai trò của thần thánh ra khỏi ý thức
hệ của con người.
- Vai trò của tự nhiên và con người được đề cập một cách khách quan.
Nhằm đi đến tìm hiểu con người và tự nhiên từ đâu mà có và đi về đâu.
16
- Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập.
- Là nền tảng cho các trường phái triết học sau này.
- Khoa học Duy nghiệm và Duy lý manh nha hình thành.
- Trả lời phần nào câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới
không?
5.2 Hạn chế
- Triết học cổ Hy Lạp còn nằm trên tư duy trừu tượng là chủ yếu.
- Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng, còn rời rạc chưa hệ thống hóa.
- Tuy có đặt vai trò của con người, nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi yếu
tố thần linh.
17
III. KẾT LUẬN
Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại là tiếng chuông ngân với những thanh
âm trong trẻo tươi tắn, là nhịp cầu vững chắc, nối những bến bờ triết học sau
này. Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại
vẫn còn nguyên giá trị đó. Triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ. Thời
ky tiền Socrate, thời kỳ Socrate là thời kỳ cực thịnh, thời kỳ hậu Socrate.
Trong giai đoạn này có rất nhiều triết gia nổi bậc như: Thales, Anaximandre,
Châu
biên dịch, Triết Gia Vĩ Đại, nxb Tp. HCM
19
MỤC LỤC
20