Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
MỤC LỤC Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
1
A. Lời nói đầu:
1. Lý do chọn đề tài
2. Tài liệu tham khảo
B. Nội dung
I. Khái quát về tiền đề ra đời và đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
1.1. Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.
1.2. Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
II. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của I.kant.
2.1. Thời kỳ tiền phê phán và những tư tưởng triết học khoa học tự nhiên.
2.2. Thời kỳ phê phán và những quan điểm triết học cơ bản.
2.2.1. Bước ngoặt trong quan điểm triết học và thế giới quan.
2.2.2. Bản chất, nhiệm vụ, chức năng của triết học
III. Nội dung cơ bản của triết học cantơ
3.1. Triết học nhận thức:
3.1.1. Thuyết hai thế giới và quan niệm về nhận thức.
3.1.1.1. Thuyết hai thế giới:
3.1.1.2. Quan niệm về nhận thức.Kinh nghiệm và tiên nghiệm.
3.1.2 Học thuyết về tri thức
3.1.3 Trực giác cảm tính. Khả năng phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong
toán học.
3.1.4 Giác tính phân tích (hay phân tích tiên nghiệm). Khả năng nhận thức
của khoa học tự nhiên lý thuyết.
3.1.5. Lý tính (hay biện chứng tiên nghiệm). Về khả năng của siêu hình học.
Trang
3.2 Triết học thực tiễn.
3.2.1 Đạo đức học của Cantơ.
3.2.2. Quan niệm về lịch sử, xã hội, pháp quyền.
3.2.3. Mỹ học và quan điểm triết học về con người và tương lai loài người
C. Kết luận. Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
A. LỜI NÓI ĐẦU Vào thời mình, F.Engen đã từng nói: “ Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao
của khoa học thì không thể có tư duy lý luận”, nhưng tu duy lý luận ấy “ cần phải
được hoàn thiện và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào
khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước ” vì “ triết học là sự tổng kết
lịch sử tư duy ” (Hêghen). Mặt khác vì lịch sử phát triển của tư duy được tổng kết
trong lịch sử triết học, nên chính lịch sử triết học là cơ sở để hình thành phép biện
chứng.
Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư
tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Đây là đỉnh cao của
thời kỳ triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học
hiện đại triết học cổ điển Đức vì vậy, trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành
chủ nghĩa Mác – nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ
nghĩa xã hội không tưởng Pháp) Triết học Cantơ khởi xướng một phong trào lưu
triết học mới – triết học duy tâm phê phán tiên nghiệm để tiếp đó, Phíchtơ Seu –
ing tiếp tục tìm tòi mở rộng, đến Hêghen nó phát triển thành một hệ thống triết
học duy tâm biện chứng và Phoiơ bắc đã kết thúc triết học cổ điển Đức với chủ
I. KHÁI QUÁT VỀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC CỔ
ĐIỂN ĐỨC.
1.1. Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.
Vào cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã
hội mới, khẳng định phương thức sản xuất TBCN, đưa giai cấp tư sản lên địa vị
thống trị.Các cuộc cách mạng xã hội thế kỷ XVII - XVIII mở đường cho sự phát
triển các tư tưởng xã hội tiến bộ, đẩy đến cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 -
1794).
Cách mạng công nghiệp Anh khẳng định sức mạnh của con người trong
nhận thức thế giới, cùng với cách mạng tư sản Pháp thể hiện khả năng cải tạo thế
giới, làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của cách mạng công
nghiệp.
Hai cuộc cách mạng tiêu biểu đó ảnh hưởng rộng lớn đến phong trào giải
phóng ở các nước châu Âu chống chủ nghĩa phong kiến, phát triển hệ tư tưởng tư
sản - hệ tư tưởng mới và tiến bộ trong lịch sử. Các nhà tư tưởng tư sản đòi hỏi
phải trả lại cho con người những cái mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận.
Quyền tự do, bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu
hạnh phúc. Hệ tư tưởng tư sản tuyên bố: con người là thực thể tối cao, con người
phải vươn tới trí tuệ và tự do, phải thực hiện tiến bộ xã hội và hạnh phúc cho con
người.
Tuy nhiên về mặt chính trị, chủ nghĩa phong kiến chưa bị tiêu vong hoàn
toàn. Ở những nước mà kinh tế TBCN chưa thể thực hiện việc cải tạo cách mạng
tư sản, lực lượng phong kiến vẫn nắm chính quyền và không chịu phân quyền cho
giai cấp còn non yếu. Sự phục hồi chế độ quân chủ nửa phong kiến Buốcbông ở
Pháp, Hội nghị viên ở Áo thống nhất các lực lượng quân chủ - phong kiến toàn
châu Âu. Chứng tỏ lực lượng phong kiến vẫn đang còn mạnh và đang chuẩn bị
phản công lại giai cấp tư sản.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
tràn đầy trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, triết học của: G.G.Heeđe (1744 -
1803), G.F.Lêxinh (1729 - 1791), G.F.Sinlơ (1759 - 1805), I.F.G.Phichtơ (1762 -
1814), S.V.Selling (1775 - 1854), G.V.F.Hêghen (1730 - 1831), Lútvích Phoiơbắc
(1804 - 1872) các đại biểu lỗi lạc của triết học cổ điển Đức.
ở Đức cũng như ở Pháp, cách mạng đã chuẩn bị tư tưởng cho cách mạng tư
sản. Nhưng khác với các nhà tư tưởng Pháp, các nhà triết học Đức không đồng
thời là các nhà hoạt động cách mạng. Không như P.H.Hônbach (1723 - 1789),
R.Điđirô và các nhà hoạt động khác ở thời kỳ khai sáng, các nhà triết học Đức là
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
4
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
những nhà duy tâm. Điều đó được phản ánh trong sự bất lực tiến hành một cuộc
cách mạng chống lại trật tự phong kiến, và cuối cùng thể hiện ở sự thoả hiệp của
họ. Các học thuyết triết học duy tâm của các nhà triết học cổ điển Đức không thể
làm tiền đề cho sự cải tạo tư sản nước Đức, theo mong muốn mà tuyên ngôn của
họ đã nêu, tự do, trí tuệ, hạnh phúc và quyền con người.
Mác gọi triết học Cantơ là học thuyết Đức của cách mạng tư sản Pháp. Định
nghĩa đó cũng hoàn toàn đúng với triết học Phíchtơ, Sêling, Hêghen.
Học thuyết của các nhà triết học Đức về sự phát triển đã gián tiếp hoặc trực
tiếp chống lại các lực lượng phong kiến phản động. V.I.Lênin viết: “lòng tin của
Hêghen vào lý tính của con người và vào quyền lợi của con người và nguyên lý cơ
bản của triết học. Hêghen cho rằng trong thế giới luôn diễn ra một quá trình liên
tiếp biến hoá và phát triển , ngay cả cuộc đấu tranh chống hiện trạng, cuộc đấu
tranh chống bất công đang tồn tại và chống điều ác tung hoành cũng bắt rễ từ quy
luật phổ biến là sự phát triển không ngừng”.
Song các học thuyết đó không biến thành cách mạng được, nó duy tâm và
yếu hèn. Tính chất duy tâm và tinh thần yếu hèn đó đã dẫn đến những hạn chế
trong triết học cổ điển Đức.
Hạn chế của nnó là ở chỗ, các nhà triết học Đức hiểu sự phát triển như một
Những thành tựu đó phản ánh vào trong tư tưởng, trong những học thuyết
của các nhà triết học cổ điển Đức và là những tiền đề cho những tư tưởng biện
chứng thiên tài của họ. Những thành tựu đó chứng tỏ khoa học tự nhiên đã chín
muồi cho sự tổng kết biện chứng, nó cần xây dựng một phương pháp tư duy và
khảo sát mới - phương pháp biện chứng để có thể phản ánh đầy đủ những quy luật
tự nhiên khách quan. Nếu ở thế kỷ XVII những nhà khoa học bắt đầu từ Bêcơn,
Galilê, xây dựng một cách tự phát phương pháp siêu hình cho nhận thức khoa học
thì ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triết học Đức đã bắt đầu xây dựng
phương pháp biện chứng cho khoa học. Nhưng sự thực hiển nhiên đó trong triết
học cổ điển Đức chưa tiến hành triệt để, nó vẫn là triết học đầy mâu thuẫn trên cơ
sở chủ nghĩa duy tâm xa lạ với tinh thần duy vật càng xa lạ với biện chứng duy vật
khoa học.
1.2.
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
Thành tựu và cống hiến.
Tuy có những hạn chế trong lĩnh vực chính trị - xã hội nhưng thành tựu của
triết học cổ điển Đức thật là vĩ đại.
Triết học cổ điển Đức mang lại cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến
trình lịch sử nhân loại, nó đề cao vai trò hoạt động tích cực của con người. Khắc
phục triết học truyền thống phương Tây. Nó coi con người là chủ thể hoạt động
như là vấn đề nền tảng, xuất phát điểm của một vấn đề triết học.
Kế tục tư tưởng triết học cổ đại (Xôcrat cho triết học là sự tự ý thức của con
người về chính bản thân mình) và phục hưng (coi con người là trung tâm). Cantơ
lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt
động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận. Hêghen phát triển
thêm tư tưởng này và coi bản thân lịch sử phươn thức tồn tại của con người, mỗi
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
6
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
thể hiện rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng - khoa học về tư tưởng với tính bảo thủ
về lập trường chính trị - xã hội hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đều xây dựng
được hệ thống triết học chứa đựng những tư tưởng khoa học lớn có tính vạch thời
đại, đặc biệt là triết học Cantơ và Hêghen. Nhưng họ lại không dám tiến hành,
thực hiện những cuộc cải cách, bảo vệ chính thể Nhà nước Phổ phong kiến.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
7
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
Chủ nghĩa duy tâm thần bí, phía trước và bên cạnh các nhà triết học cổ điển
Đức là một dòng triết học duy vật, đặc biệt là tư tưởng duy vật của các nhà triết
học khai sáng. Song các nhà triết học cổ điển Đức thấy rằng: từ quan điểm duy
vật, người ta không thể giải thích được thế giới. Bản chất của thế giới theo họ là
tinh thần, do vậy chỉ có thể giải quyết được những vấn đề cảu thế giới bằng tinh
thần. Họ đã từ thế giới tinh thần xây dựng nên những hệ thống triết học duy tâm,
thần bí.
Triết học trừu tượng tách rời hiện thực, triết học cổ điển Đức đưa ra được
những tư tưởng tiến bộ, chống chế độ xã hội cũ nhưng đó chỉ là những tư tưởng,
nó không đi vào chính trị xã hội và hoạt động cách mạng mà chỉ là những hệ
thống triết lý trừu tượng ở bên trên.
Nếu các nhà tư tưởng pháp tiến hành cách mạng trong thực tiễn, công khai
chống lại Nhà nước và giáo hội thì các nhà triết học cổ điển Đức chỉ suy nghĩ về
nó trong tư tưởng, không giám công khai chống lại thực tại đó. Họ là các giáo sư
chính thức trong các trường Đại học của vương quốc Phổ, do sợ hãi hiện thực cách
mạng, thoả hiệp với giai cấp tư sản, tư tưởng cách mạng của họ đã phải phủ ngoài
triết học cảu mình một lớp vỏ thần bí duy tâm tự biện, nặng nề, xa rời hiện thực.
II. VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA IMANUEN CANTO.
I.kant là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức. Ông sinh ngày 22 - 04 -
1724 và lớn lên trong một gia đình trung lưu gốc Scốtlen tại Kenítbec, một thành
phố cổ vùng Đông - Bắc nước Phổ trước đây. Mùa thu năm 1740 ông vào học
Thời kỳ 1, Cantơ đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực mà ông đang giảng dạy và
nghiên cứu trong trường Đại học nhưng chủ yếu tập trung vào triết học tự nhiên.
Nghiên cứu những vấn đề trong lĩnh vực triết học tự nhiên. Cantơ xuất phát từ
niềm tin cho rằng: Triết học với tư cách là một khoa học lý thuyết tự biện có thể lý
giải được mà không cần đến kinh nghiệm.Thời kỳ này, với những thành công
trong khoa học ông là người lạc quan, tin tưởng vào khả năng nhận thức thế giới
của con người. Trong thời kỳ này Cantơ viết một khối lượng lớn các công trình về
triết học, khoa học tự nhiên. Đặc điểm rõ rệt trong các công trình này là những tư
tưởng triết học và khoa học tự nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở nhiều ngành
khoa học tự nhiên, nơi mà Cantơ bỏ công nghiên cứu, ông đều đề xuất được
những ý tưởng có giá trị.
Trong vật lý học, khi phát triển các tư tưởng về sự vận động, về lực hấp dẫn
của các nhà toán học, vật lý học và cơ học, Cantơ đã luận giải sâu hơn lý thuyết về
sự vận động và đứng im.
Trong sinh học, Cantơ đã đề xuất tư tưởng phân loại động vật theo nguồn
gốc riêng của từng loại, cơ sở của sự phân loại là dựa vào các nhóm gen của
chúng.
Trong nhân loại hoc, Cantơ đề xuất tư tưởng về lịch sử tự nhiên của loài
người. ở đây ông lý giải sự hình thành và sự phát triển của loài người qua các giai
đoạn mông muội, văn minh và hiện đại.
Khác với Niutơn, Cantơ đã thử ứng dụng các nguyên tắc của khoa học tự
nhiên hiện đại vào việc giải thích không chỉ kết cấu của hệ thống Mặt trời cho giai
đoạn hiện tại, mà còn giải thích sự nảy sinh của hệ thống đó.
2.2.
Thời kỳ phê phán và những quan điểm triết học cơ bản.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
9
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
3.1.1.1.
Thuyết hai thế giới:
Cơ sở tư tưởng của sự hình thành quan niệm “vật tư do”.
a) Vấn đề quan hệ giữa tư tưởng và hiện thực vẫn luôn là vấn đề phức tạp,
nó như một câu hỏi treo trước nhà triết học.Trong khi các nhà khoa học và triết
học chưa có ý kiến thống nhất,khoa học và thần họpc đối lập nhau trong việc giải
quyết vấn đề đó thì Cantơ nghiêng về phía cho rằng hiện thực và tư tưởng là hai
lĩnh vực khác nhau, không liên quan đến nhau.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
10
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
b) “Do hạn chế về khoa học, Engen nhận định sự hiểu biết của loài người về
thế giới cho đến nay vẫn còn quá vụn vặt, mơ hồ,đến nới đằng sau mỗi sự vật tự
nhiên ấy,người ta vẫn có thể cho rằng có một “vật” tự do bí ẩn đặc biệt nữa”.Chưa
vượt qua tầm nhìn đương đại,Cantơ cũng quan niệm như vậy.Cantơ coi “cái vật tự
do bí ẩn đặc biệt” ở đằng sau mỗi sự vật đó là “cái cân nguyên”, “cái tồn tại thực
sự”, là “bản chất” của vật chất,-bản chất cua thế giới.
c) Dựa vào Thuyết động lưc học Cantơ cho rằng chính cái vật tự do bí ẩn ở
đằng sau sự vật chính là cái tao ra “lực vận động” như là một nguyên nhân đầu
tiên của vật chất,của vận động-cái tinh thần của tinh thần,-cái đó,tự nó,tồn tại. Và
cantơ đi đến kếtl luận: rõ ràng là có vật tự do.
Cantơ viết: “tôi gọi vật tự nó là khái niệm đang nghi ngờ nhưng nó tồn tại
khách quan và không thể nhận thức được bằng mọi cách.Khái niêm vật tự nó
nghĩa vật cần phải được nhận thức không phải như đói tượng cảm tính mà như vật
tồn tại tự nó”.
Thế giới vật tự nó.
Vật tự nó theo quan niệm cua Cantơ có thể hiểu theo ba nghĩa sau:
1. Là vật khách quan, tự nó tồn tại, ở bên ngoài con người, con người không
là cái tự do, là linh hồn bất tử, là vật tự nó - nghĩa là Thượng Đế cái tự nó tồn tại,
con người không giải thích được và cũng không thể biết được.
b) Cantơ đòi hỏi ở tri thức khoa học và triết học sự hoàn thiện tuyệt đôí: coi
đó là tri thức lý tưởng của con người. Song, cũg như Hium và Lépnhít, một mặt
Camtơ cho rằng, để khoa thực sự ;là khoa học thì nó phải dựa trên tri thức tiến
nghiệm., nghĩa là tri thức mang tính phổ quát và tất yếu (chân lý). Mặt khác, do
chua thoát khỏi quan niệm siêu hình -sự nhìn nhận thế giới một cách tách rời-
Cantơ cho rằng mọi sự vận động trong thế giới bên ngoài chúng ta chỉ là sự tồn tại
dưới dạng đơn giản nhất, ngẫu nhiên.Vậy là ở đây có khả năng mà phải chọn một:
1. Nếu khẳng định,mọi tri thức đều là sự phản ánhcác sự vật của khách quan
thì phải thì phải thừa nhận mọi khoa học đều chỉ dựa trên nhưỡng tri thức đơn
nhất, ngẫu nhiên
2. Nếu đòi hỏi mọi tri thức khoa học đạt đến tính phổ quát và tất yếu thì
phải thừa nhận, nguồn gốc của khoa học( triết học) không phải là sự phản ánh thế
giới khách quan ; tri thức đó chính là kết quả của sự sáng tạo của riêng trí tuệ con
người.
Đứng trước sự lựa chọn trên, Cantơ lập luận: Từ trước tới nay người ta cho
rằng, “mọi tri thức của chúng ta đều phải phù hợp với các sự vật( quan điểm nhận
thức luận duy vật-N.V.H). Tuy nhiên, trên thực tế mọi ý đồ thông qua khái niệm
để xác lập một cái gì đó tiên nghiệm về các sự vật thì đều thất bại. Vì thế, có lẽ,
giải quyết nhiệm vụ cơ bản của triết học sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta xuất phát từ
luận điểm:” Các sự vật phải phù hợp với nhận thức của chúng ta” (nhận thức tiên
nghiệm duy tâm-N.V.H). Điều này sẽ đáp ứng tốt hơn cái việc mà triết học đòi hỏi
là phải có được tri thức tiên nghiệm về vật tự nó”.
Như vậy, với ý đồ xây dựng nền tảng tri thức tiên nghiệm của khoa học(
triết học), cũng như quan niệm cho rằng mọi tri thức của con người không phải là
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
12
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
về nguồn gốc, về bản chất, nó thuộc tự nhiên.Bản tính thiện, bản tính sáng tạo, bản
tính vươn tới.Tự do của con người là những cái thuộc tiên thiên, chúng không phải
đợi đến lúc cá nhân có đầy đủ kinh nghiệm mới xuất hiện.Những tư chất ở mỗi cá
nhân, năng khiếu, thiên chức mỗi người, nòi giống đều là những cái thuộc tự
nhiên, chúng được phát huy ngay cả khi cá nhân chưa có nhiều kinh nghiệm.Các
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
13
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
cảm giác, các hoài cảm, các dục vọng,…cũng không cần chờ có kinh nghiệm rồi
mới có.
Nhận thức và khả năng của nhận thức
Con người với tư cách là chủ thể nhận thức có vốn có tri thức tiên nghiệm
nhận thức là việc chủ thể dùng tri thức tiên nghiệm để xem xét sự vật. Nguyên tắc
nhận thức: Không phải là tri thức của chủ thể phải phù hợp với sự vật, mà sự vật
phải phù hợp với tri thức của chủ thể nhận thức.
Nhận thức bắt đầu từ khi các sự vật hiện tượng khách quan tác động các
giác quan của con người, gây nên những cảm giác. từ toàn bộ những cảm giác đó,
thông qua kinh nghiệm mà chủ thể nhận thức xây dựng nên những hình ảnh,
những khái niệm, những phạm trù, những quy luật …Về hiện tượng nói riêng và
về thế giới hiện tượng nói chung.
Cantơ viết: Nhận thức là do những năng lực nhận thức tạo ra, do hoạt động
sáng tạo của chủ thể tạo ra tri thức, tri thức đó tạo ra thế giới hiện tượng và chính
nó lại trở lại nhận thức cái do chính mình tạo ra đó.
Vậy là thế giới hiện tượng, nói đến cùng, là do kinh nghiệm con người “ xây
dựng” – thế giới nằm trong phạm vi của cái chủ quan do chính tri thức của chủ thể
nhận thức tạo ra. Đến luợt mình con người nhận thức là thế giới hiện tượng này.
Cho nên Cantơ còn gọi triết học của mình là Hiện tượng luận.
Rõ ràng là, giữa thế giới vật tự nó và thế giới hiện tuợng có một hố sâu ngăn
cách mà nhận thức của con người không thể vuợt qua.Trong quá trình nhận thức,
quả của sự khái quát tư duy lý luận. Tân ngữ “ quảng tính ’’ là kết quả được khái
quát tổng hợp, rút ra từ thực tế của chủ ngữ “ vật’’. Nó chứng minh rằng mọi vật
đều nằm trong không gian. Phán đoán này đúng đối với mọi thời điểm, nó có tính
tiên nghiệm. Cantơ còn gọi loại phán đoán naỳ là phán đoán này là phán đoán mở
rộng, vì tân ngữ gia tăng cho chủ ngữ một nội dung mới mà trước đó bản thân chủ
ngữ chưa có.
Cantơ quan niệm phán đoán tổng hợp tiên nghiệm là loại phán đoán cao
nhất của sự nhận thức. Và, vì là loại phán đoán cao nhất, cho nên phán đoán tổng
hợp tiên nghiệm có ý nghĩa quyết định trong quá trình nhận thức. Do đó, vấn đề cơ
bản đối với nhiệm vụ Cantơ đặt ra cho triết học lý thuyết của mình như vấn đề cội
nguồn của tri thức, các loại tri thức và khả năng của các loại tri thức được tập
trung vào vấn đề về khả năng của phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong từng loại
tri thức đó. Nghĩa là ông đặt vấn đề phải nghiên cứu xem sự phán đoán tổng hợp
tiên nghiệm cókhả năng đến đâu trong các loại tri thức và trong nhận thức nói
chung.
Cantơ đối lập hai loại tri thức : tri thức hạn chế và tri thức khoa học.Tri
thức hạn chế xuất phát từ kinh nghiệm, nó không chính xác, chưa hoàn thiện. Tri
thức khoa học là tri thức trên kinh nghiệm, có trứơc kinh nghiệm, nó hoàn toàn
chính xác và hoàn thiện. Đó là tri thức trong toán học, trong khoa học tự nhiên lý
thuyết, và trong siêu hình học.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
15
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
Trong tri thức khoa học, Cantơ chỉ quan tâm ba lĩnh vực : Toán học, khoa
học tự nhiên lý thuyết và siêu hình học. Vì vậy ông đặt vấn đề nghiên cứu những
phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong một tổng thể ba lĩnh vực thể hiện ba cấp độ
từ thấp đến cao:
a) Phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong toán học có khả năng đến đâu?
b) Phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong khoa học tự nhiên lý thuyết có khả
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
3.1.4 Giác tính phân tích (hay phân tích tiên nghiệm). Khả năng nhận
thức của khoa học tự nhiên lý thuyết.
Trong cấp độ thứ nhất của nhận thức, theo Cantơ, do những sự vật khách
quan tác động đến giác quan của chúng ta mà xuất hiện những cảm giác lộn xộn.
Những cảm giác lộn xộn đó được trực giác cảm tính đưa vào trật tự không gian
thời gian, trở thành các tri giác. Những tri giác đó còn mang tính chủ quan của cá
thể. Để chúng trở thành kinh nghiệm tức trở thành một cái gì đó khách quan hơn
thì nhận thức phải bước lên hình thức cao hơn – giác tính.
Tư duy sử dụng khái niệm phạm trù là tư duy của giác tính phân tích. Đây
là loại hoạt động tư duy khoa học, nó có nhiệm vụ quy tụ các tri giác đa dạng biến
các tri giác cảm tính thành những tri thức khách quan được mọi người thừa nhận
Để làm được điều đó, trước hết giác tính phải xây dựng một hệ thống các
phạm trù.
Cantơ nêu lên 12 phạm trù, chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm 3 phạm trù,
Những phạm trù đó là :
Các phạm trù Lượng : thống nhất, đa dạng chỉh thể.
Các phạm trù Chất : hiện thực, phủ định, giới hạn.
Các phạm trù Quan hệ : cố định và tồn tại độc lập. Quan hệ nhân quả và
phụ thuộc, tiếp xúc.
Các phạm trù tình thái: khả năng, tồn tại, tất yếu.
Ở hệ thống phạm trù đó, trong mỗi nhóm và giữa các nhóm phạm trù dù
chưa có sư tương tác biện chứng thực sự, song về hình thức đã có được các tố của
các mối quan hệ, ràng buộc có tính biên chứng. Mỗi nhóm được sắp xếp theo trình
tự : chính đề – phản đề – hợp đề. Giữa 4 khối có mối liên hệ bên ngoài bên trong,
chiều hướng cách thức.
Cantơ cho đây là những phạm trù cơ bản để từ đó triển khai ra những phạm
trù mới, đáp ứng đòi hỏi của khoa học và hoạt động của con người. Bởi vì, Cantơ
viết : “ đối với tôi, điều quan trọng khong phảilà đưa ra một hệ thống đầy đủ các
thuẫn luôn luôn tồn tại trong thế giới tự nhiên. Các atinomi đó chưa hoàn toàn là
những mâu thuẫn biện chứng, vì giữa các chính đề và phản đề của chúng chưa có
sự thống nhất và chuyển hoá lẫ nhau. Giải quyết mâu thuẫn cũng không phải chỉ
dừng lại ở việc phân tích từng mặt đối lập rồi kết luận đúng sai như ông đã làm.
Trên thực tế, quá trình nẩy sinh và giả quyết mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự
vật phát triển.
Tuy nhiên, học thuyết biện chứng tiên nghiệm bao hàm nhiều tư tưởng tích
cực. Ông thấy antinomi là bản chất của lý tính con nguời chứ không phải những
lỗi lôgic thông thường. Cantơ là người đầu tiên tìm cách bao quat toàn bộ những
nguyên lý tư duy đối lập nhau của thời đại trên quan niệm thống nhất, vạch ra
những vấn đề còn bỏ ngỏ trong các vấn đề về bản chất của tư duy. Hêghen đánh
giá rằng “ việc tìm ra các antinnomi cần đươc xem như một thành tựu rất quan
trọng của nhận thức, bởi bằng việc đó vận động biện chứng của tư duy đựơc đề
cao’’.
3.2 Triết học thực tiễn.
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
18
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
Nếu triết học lý thuyết nghiên cứu khả năng nhận thức của con người, thì
triết học thực tiễn nghiên cứu các hoạt động thực tiễn của con người nhằm giải
đáp vấn đề “ tôi cần phải làm gì? ’’.
Nếu nhận thức của con người chỉ dừng lại ở giới hạn hiện tượng luận, thừa
nhận vật tự nó là bất khả tri, thì trong hoạt động thực tiễn của mình, con người vẫn
thường xuyên tác động đến các sự vật xung quanh ta, không chỉ nhận thức thế giới
hiện tượng mà còn luôn hướng tới, vươn tới thế giới vật tự nó như là đối tượng
hoạt động của mình.
Chính điều đó làm cho Cantơ thấy quan hệ giữa triết học lý thuyết và triết
học thực tiễn trở nên hết sức phức tạp. Một mặt, ông muốn xây dựng một hệ thống
triết học thực tiễn thực sự khoa học. Mặt khác, “ thực tiễn’’ theo Cantơ, về cơ bản
- Mỗi người điều có quyền và cần phải ngăn chặn những người khác hành
động trái với mệnh lệnh tuyệt đối trong khả năng có thể làm được.
Phạm trù trung tâm của đạo đức học của Cantơ là Tự do. Hai mạt mâu thuẫn
trong con người của đạo đức theo quan niệm của Rútxô được Cantơ giải quyết
bằng cách ông chuyển cái đạo đức trong tình cảm, lương tâm thành mệnh lệnh
của lý trí. Cái lý trí mà ông hiểu là có sức mạnh từ bên ngoài. Thực chât, sự vươn
tới đạo đức của cpn người đối với Cantơ chính là khát vọng vươn tới Tự do – hiểu
theo con người vươn tới các ý niệm phổ quát và tất yếu cũng như theo nghĩa con
người vươn tới lý tưởng cao đẹp của mình.
Ngay từ cuối thời kỳ Tiền phê phán, Cantơ đã hình thành tư tưởng chia lý
tính ra những thành tố khác nhau, tư đó hình thành các bộ phận khác nhau trong
triết học. Bất kỳ một triết học nào theo ông cũng hoặc là triết học lý thuyết hoặc là
triết học thực tiễn. Triết học lý thuyết là ly luận về nhận thức và từ đó tim ra
nguyên tắc nhận thức. Triết học thực tiễn là lý luận về phẩm hạnh và tim ra
nguyên tắc vươn tới phẩm hạnh – sự lựa chọn Tự do. Sự khác nhau giữa hai loại
triết học đó là do ở đối tượng của chúng. Đối tượng của triết học lý thuyết chủ yếu
là thế giới hiện tượng, của triết học thực tiễn là hành vi tự do và phẩm hạnh tự do
– vươn tới vật tự nó.
Tự do như vậy có thể hiểu theo ba cấp độ:
1. là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giới tính hoạt động độc lập đối
với các quy luật tất yếu của tự nhiên trong lĩnh vực hiện luận.
2. Là cái tồn tại một cách tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận, nơi ma
mọi cái điều diễn ra một cách tất yếu.
3. Tự do với tư cách là cái thuộc lĩnh vực vật tự nó. Nếu trong lĩnh vực hiện
tượng luận, tự do chỉ là tương đối thì trong lĩnh vực vật tự nó tự do là tuyệt đối.
Tóm lại, đạo đức học của Cantơ tuy có nhiều điểm duy tâm, không mang vì
tính phi lịch sử phi giai cấp cũng như thiếu cơ sở thực nghiệm nhưng nó chữa
đựng nhiều tang nhân đạo sâu sắc. Đối lập với những quan niệm ích kỷ, thực
dụng, hẹp hòi, nó là sự kết tinh những giá trị đạo đức chugcủa loài người trong
lịch sử, đồng thời thể hiện những khát vọng của giai cấp tư sản ở Đức cuối thế kỷ
người đòi hỏi. Theo Cantơ nói đến nhà nước là nói đến nhà nước pháp quyền nhân
dân tập hợp lại để thực hiện tự do và bình đẳng Cantơ con cho rằng: Chế độ cộg
hoà là chế độ phù hợp nhất với nhu cầu phát triể của xã hội, nhằm mục đích vì
hạnh phúc con người
Quan niệm về quyền sở hữu và bình đẳng: Phát triển quan điểm tư sản về xã
hội, Cantơ bảo vệ chế độ tư hữu và cố gắng củng cố nó bằng những lập luận theo
kiểu tư sản : Sự tồn tại của xã hội tư sản là có tính tiên thiên, tính tự nhiên và do
đó nó có tính bất khả xâm phạm. Ông chứng minh rằng, quyền tư hữu tài sản là có
nguồn gốc tiên thiên do đó nó là vĩnh cửu, phổ biến và tuyệt đối câng thiết.
Cantơ cũng nêu lên tư tưởng độc đáo và sâu sắc về quyền bình đẳng của con
người. Bình đẳng không phải là về tài năng mà là về cơ hội để phát triển và áp
dụng tài năng ông cũng xác định là có quyền độc lập của người công dân. Nhưng
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
21
Cơ
Bài tiểu luận: Lịch sử Triết học
quyền độc lập đó được ông hiểu theo kiểu cá nhân chủ nghĩa vốn có trong xã hội
tư sản.
Cantơ chia nhân dân trong xã hội ra hai loại nguời: Người công dân và
người chỉ có quốc tịch. Người chỉ có quốc tịch không hề có một quyền thông
thường nào trong xã hội. Người lao động thuộc loại người này.
Quan niện về hoà bình về chiến tranh : Trong cuốn “Về hoà bình vĩnh viễn
’’1975 Cantơ kêu gọi tất cả các dân tộc hãy thiết lập mối quan hệ hoà bình hữu
nghị. Ông phê phán các thế lực phản động ở Tây âu cuối thế kỷ XVIII đang liên
kết chống cách mạng tư sản Pháp. Theo Cantơ, các cuộc chiến tranh nhiều khi phá
hoại chuẩn mực đạo đức con người. Ông khẳng định “không cần có bất kỳ một
cuộc chiến tranh nào cả.’’ cho nên ông kêu gọi tất cả các quốc gia trên hành tinh
hãy đoàn kết xây dựng một “liên bang’’ tất cả các dân tộc trong khi vẫn đảm bảo
cho mỗi dân tộc được độc lập và tự do về chính trị. Xây dựng một thế giới hoà
bình và hữu nghị theo những lý tang nhân đạo cao cả phải được coi là mục đích
giữa cái sinh học và cái xã hộ trong con người. Nếu Cantơ chưa giải quyết được
những vấn đề đó tì chỉ là vì ông chưa giải quyết được chúng trên cơ sở lý luận
nhận thức duy vật biện chứng và duy vật lịch sử một cách triệt để.
Ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu con người của Cantơ là ở chỗ, Cantơ
đã: Thứ nhất, quan tâm đặc biệt tới những điều kiện tự nhiên – vật chất của sự nảy
sinh và sự phát triển xã hội ; Thứ hai, Xây dựng học thuyết về vai trò của tính mâu
thuẫn xã hộivà tính đối kháng như là động lực của tiến trình lịch sử;Thứ ba, tin
vào tiến bộ xã hội và thắng lợi của các yếu tố đạo đức trong con người; thứ tư,
xem mục đích của lịch sử là xây dựng một xã hội công bằng và con người phát
triển hài hoà.
Các qua điểm của Cantơ về tiến trình lịch sử là một trong những bứoc tiến
lớn lao trên con đường loài người xây dựng lý thuyết duy vật –Biện chúng về sự
phát triể
C. KẾT LUẬN
Giá trị lớn lao trước hết của triết học Cantơ là nó đã đặt ra một loạt vấn đề
căn bản của nhận thức luận, về phương pháp biện chứng,về nguồn gốc của những
khái niện và các phạm trù lôgíc chủ yếu và vị trí của chúng trong tư duy khoa học
cũng như trong quá trình nhận thức.
Cantơ cũng đã đề xuất nhiều tư tưởng có ý nghĩa quan trong trong các lĩnh
vực chính trị, xã hội, pháp quyền, những vấn đề tôn giáo, chiến tranh và hoà
bình…Trên con đường tim tòi đó Cantơ đã đư ra nhiều tư tưởg mới mẻ có ý nghĩa
vạch thời đại
Đóng góp quan trọng của Cantơ là đã phát ra được bức tranh của quá trình
nhận thức qua ba giai đoạn từ thấp đến cao. Công lao của Cantơ là đã khẳng định
tính phổ biến của các cặp phạm trù tìm ra những yếu tố của mối liên hệ biện
chứng giữa các cặp phạm trù đó, Cantơ là một trong những người đầu tiên trong
lịch sử triết học đặt ra ván đề mâu thuẫn trong nhận thức luận giải vân đề đó theo
tinh thần biện chứng.
Ý tưởng nhân đạo của triết học Cantơ cho đến hôm nay vẫn còn nguyên
Nguyễn Quốc Võ K16 Cao học Hoá Hữu
24
Cơ