TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đề tài tiểu luận triết học:
TRÀO LƯU TRIẾT HỌC KHOA HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN
XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY THỜI HIỆN ĐẠI
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
NHÓM 2 LỚP Đ1- K22
HỌC VIÊN THỰC HIỆN:
6. Trần Thuận Ánh 7701220055
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
TP.HCM, ngày 10 tháng 12 năm 2012
Học viên: Trần Thuận Ánh 2
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, khi có sự xuất hiện của loài người thì các hiện tượng siêu tự nhiên là
một vấn đề khó lý giải và khó hiểu cho loài người. Con người tự đặt ra nhiều câu hỏi:
tại sao lại có các hiện tượng, mưa bão, lũ lụt, sự thay đổi của khí hậu v.v làm cho con
người phải suy nghĩa và dần dần đi đến tìm hiểu những vấn đề chung nhất của quy
luật tự nhiên. Từ đó Triết học ra đời, và trải qua hàng ngàn năm con người thâm nhập
vào lĩnh vực triết học, tìm hiểu những vấn đề được gọi là Triết học, triết lý học.
Cùng với quá hình hình thành và phát triển của lịch sử triết học có nhiều rất
nhiều cách định nghĩa, cách hiểu triết học khác nhau. Trong đó triết học đã có khi được
định nghĩa "triết học là khoa học của các khoa học". Mối quan hệ giữa triết học và
khoa học đã trở thành một đề tài muôn thủa và không ngừng được các nhà nghiên cứu
phân tích và xây dựng lên các trường phái khác nhau.
Từ đầu thế kỷ XX, tại các nước phương Tây – trung tâm khoa học của thế giới,
sự ra đời và phát triển của trào lưu Triết học khoa học đi kèm với một thời kỳ bùng nổ
về khoa học kỹ thuật. Góp phần tạo nên một diện mạo mới hoàn toàn cho phương Tây
thời hiện đại.
ngoài mácxít hiện đại bao gồm nhiều trào lưu, khuynh hướng, trường phái, quan điểm
lý luận rất đa dạng, tuy nhiên chúng ít nhiều đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp tư
sản, từ truyền thống của các dân tộc phương Tây tư bản chủ nghĩa.
Triết học phương Tây ngoài macxit hiện đại rất đa dạng: Từ đầu thế kỷ XX trở
đi, triết học phương Tây hiện đại tiếp tục phân hóa thành nhiều trào lưu, trường phái,
chi nhánh khác nhau mỗi trào lưu, trường phái đào sâu một khía cạnh, một mặt, một
yếu tố nào đó trong cuộc sống đa dạng của con người để xây dựng triết lý riêng. Tuy
nhiên, trong tính đa dạng đó, chúng ta nhận thấy có ba trào lưu chủ yếu là chủ nghĩa
duy khoa học và chủ nghĩa nhân bản phi duy lý và triết học tôn giáo.
Học viên: Trần Thuận Ánh 4
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
2.2. Các trào lưu triết học khoa học
Theo các triết gia thuộc trào lưu chủ nghĩa duy khoa học không nên nghiên cứu
những vấn đề như bản chất của sự vật, các quy luật chung của thế giới, mà đi tìm
phương pháp khoa học có hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất mới là nội dung chủ yếu
của việc nghiên cứu triết học.
Triết học khoa học bao gồm hai trào lưu nối tiếp nhau: Trào lưu thực chứng và
Trào lưu hậu (phản) thực chứng.
2.2.1. Trào lưu thực chứng
Trào lưu thực chứng: Chủ nghĩa thực chứng ra đời vào những năm 30-40 của
thế kỷ XIX ở Pháp, sau đó ở Anh với khẩu hiệu Bản thân khoa học đã là triết học; Tri
thức về thế giới là đặc quyền của khoa học thực chứng
Chủ nghĩa thực chứng đã phát triển qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thực chứng cổ điển xuất hiện vào thập niên 30 của thế kỷ 19 với
những đại biểu là Comte (Pháp), Spencer, Mill (Anh).
- Giai đoạn kinh nghiệm phê phán xuất hiện vào thập niên 70-90 thế kỷ 19. Đại
biểu của giai đoạn này là Match và Avenarius. Như vậy, chủ nghĩa thực chứng đã
chuyển từ chủ nghĩa hiện tượng mang tính chất bản thể luận sang chủ nghĩa hiện tượng
mang bản chất nhận thức luận.
- Giai đoạn thực chứng mới ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ 1 và phát triển
sai lầm cơ bản của chủ nghĩa phủ chứng thô sơ Pốppơ là quá đề cao tính phủ chứng
của kinh nghiệm, Lacatốt (Lakatos) đã khắc phục nó bằng chủ nghĩa phủ chứng tinh tế.
Ông cho rằng, tính chất cơ bản của lý luận khoa học không phải là tính khả phủ
chứng mà là tính mềm dẻo chịu đựng và tính phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, các lý luận
khoa học hợp lại tạo thành tri thức bối cảnh của khoa học thống nhất.
Lacatốt coi sự tăng trưởng liên tục của tri thức khoa học là do sự sản sinh và cạnh
tranh của các hệ lý luận khoa học chứ không phải do sự phản bác dẫn đường hay sự bất
thường xảy ra trong khoa học. Ngoài ra, ông còn dùng lịch sử khoa học để đánh giá
các phương pháp luận cạnh tranh nhau trong trào lưu triết học khoa học bấy giờ.
- Thomas Samuel Kuhn (1922-1996) được từ điển triết học của Đại học Stanford
đánh giá là “một trong số các triết gia khoa học nhiều ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20,
mà có lẽ là người ảnh hưởng nhiều nhất.
Học viên: Trần Thuận Ánh 6
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
Cun (Kuhn) cho rằng, trong sự nghiệp khoa học luôn tồn tại các khối cộng đồng
khoa học độc lập nhau, bị chi phối bởi các kiểu mẫu mực khác nhau. Cun không chỉ
liên kết kiểu mẫu mực với cộng đồng khoa học mà còn cố gắng kết hợp lịch sử bên
trong với lịch sử bên ngoài của khoa học, cố gắng kết hợp lịch sử khoa học với xã hội
học và tâm lý học khoa học nhằm vạch ra và khảo sát các yếu tố chi phối sự phát
triển khoa học.
Cun coi khoa học là kết quả hoạt động của các khối cộng đồng khác nhau, có sử
dụng các kiểu mẫu mực không giống nhau nhưng luôn thay đổi để hoàn thiện chính
mình; coi lịch sử khoa học không chỉ là lịch sử trừu tượng của tư tưởng mà còn là lịch
sử của khối cộng đồng khoa học, luôn bị chi phối bởi các quy luật nội tại và những áp
lưc lớn từ bên ngoài khoa học như các tư tưởng triết học, các yếu tố lịch sử - xã hội,
các yếu tố tâm lý cá nhân
Ông đã đưa ra lý luận “Động thái phát triển khoa học”, trong đó khẳng định mỗi
chu trình phát triển của khoa học phải trai qua bốn thời kỳ là:
+ Tiền khoa học
+ Khoa học bình thường
cung cấp cho những tài liệu nhận thức về khoa học, tự nhiên, xã hội,… và mỗi lần có
một phát minh lớn của thời đại trong lĩnh vực khoa học, thì chủ nghĩa duy vật không
tránh khỏi thay đổi hình thức của nó. Và ngược lại triết học đã đi trước khoa học trên
nhiều lĩnh vực, và bằng những tư tưởng đúng đắn, bằng những dự kiến thiên tài, triết
học đã không những vạch đường cho khoa học tiến lên và giúp khoa học định ra
phương hướng và những công cụ nhận thức để khắc phục những khó khăn trở ngại vấp
phải trên đường đi của mình.
Sự ra đời và phát triển của hai trào lưu triết học nối tiếp nhau: Chủ nghĩa thực
chứng và hậu thực chứng có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển như vũ bão của khoa
học phương Tây thế kỷ XX. Chủ nghĩa thực chứng mới có ảnh hưởng sâu sắc tới: sự
phát triển của toán học, phương pháp toán học và nhận thức khoa học.
Cho đến thế kỷ XIX, vật lý học Newton là một chủ nghĩa quyết định bất di bất
dịch: vạn vật đều gắn bó với nhau, những nguyên nhân như nhau bao giờ cũng sinh ra
kết quả như nhau. Đó là những quy luật "thép" chi phối sự tiến hoá không sao cưỡng
lại được. Nhưng bên cạnh những quy luật ấy, những cái tất yếu ấy, như một dòng nước
xoáy cái ngẫu nhiên cứ ùa vào tư tưởng khoa học. Những quy luật chồng chéo lên
nhau trong tự nhiên nhưng vẫn chừa nơi vùng vẫy cho cái ngẫu nhiên. Sự tiến hoá của
sinh quyển của chúng ta phải chăng là kết quả của một dự án phức tạp diễn ra theo một
kịch bản đã được thiết kế chặt chẽ từ trước, cho nên ta chỉ còn nhiệm vụ mô tả và phân
tích nó. Hoặc không phải thế, mà đó là kết quả của một chuỗi sự kiện ngẫu nhiên, giờ
đây vật lý học cổ điển không còn khả năng cho ta một lời giải đáp.
Cùng với phát minh về lý thuyết tương đối của A.Einstein là sự mở đầu cho
khoa học hiện đại, bởi từ đây con người khám phá ra một thế giới mới và gắn liền với
nó là một phương pháp khoa học hoàn toàn khác về chất so với khoa học cổ điển gắn
liền với các lý luận thực chứng trước đó và thuyết vạn vận hấp dẫn của Newton là một
minh chứng rõ nét. Einstein làm một cuộc “cách mạng khoa học", đưa đến một hệ
Học viên: Trần Thuận Ánh 9
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
thống giá trị mới chi phối cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Sự khám phá một quy
mô lượng tử không thể nhận biết được bằng giác quan với những định luật hoàn toàn
lúc khi triết học về con người đã phát triển tới đỉnh cao. Đó là một cuộc cách mạng
trong nền văn hoá của loài người khi bước vào thế giới hiện đại.
Nửa sau của thế kỷ 20 là giai đoạn phát triển của chủ nghĩa hậu thực chứng trên
cơ sở kế thừa phát triển các lý luận của chủ nghĩa thực chứng trước đó với các thành
tựu về khoa học:
- Thời đại tin học và toàn cầu hoá đã làm tăng trưởng thương mại và trao đổi
văn hoá tăng lên ở mức đáng kinh ngạc.
- Thám hiểm vũ trụ đã mở rộng ra toàn bộ hệ mặt trời.
- DNA, mức độ bản nguyên nhất của sự sống, đã được khám phá, và bộ gene
của con người cũng đã được nối kết đầy đủ, hứa hẹn cuối cùng sẽ mang lại một thay
đổi về tình trạng bệnh tật của loài người.
- Số lượng những bài báo khoa học hàng năm hiện nay vượt quá tổng số lượng
của chúng trước năm 1900, và cứ 15 năm lại tăng gấp đôi.
- Tỷ lệ biết chữ tiếp tục tăng lên, và phần trăm nhân lực cần thiết để sản xuất ra
đủ lượng lương thực cho thế giới ngày càng giảm bớt khi chúng ta đạt tới “thời đại của
những máy móc trí tuệ”.
3.2. Ảnh hưởng tới xã hội phương Tây thời hiện đại
Khi nghiên cứu trào lưu triết học khoa học và sự ảnh hưởng của các hệ tư tưởng
triết học này lên hoạt động nghiên cứu khoa học bùng nổ trên nhiều lĩnh vực của các
nước phương Tây thời hiện đại thì có thể thấy đó là triết học một động lực đáng kể
trong sự phát triển khoa học – công nghệ tại các nước phương Tây và từ đó tạo nên
một thế thượng phong của phương Tây trên bản đồ kinh tế - xã hội thế giới. Cụ thể:
3.2.1. Về kinh tế
Năm 1928 sản lượng sản phẩm chế tạo của các nước phương Tây chiếm 84,2%
tổng sản phẩm hàng công nghiệp chế tạo thế giới. Năm 1950, chiếm 64% tổng sản
phẩm thế giới. Năm 1980 tỷ lệ ấy còn 57,8% (tương đương sản lượng 120 năm trước
đó). Năm 1991, trong số 7 nền kinh tế lớn nhất thế giới có 4 nền kinh tế là phương
Tây: Anh, Pháp, Đức, Ý. Năm 1992, trong 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới, có 5 nền
kinh tế thuộc các nước phương Tây… (Theo tờ Economist của Anh và một số tài liệu
khác (Foreign Affairs)).
chủ nghĩa xã hội hiện thực không thoát khỏi giới hạn của chủ nghĩa tư bản.
Học viên: Trần Thuận Ánh 12
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
- Khẳng định tính giai cấp của Đảng cộng sản dựa trên tính nhất nguyên của chủ
nghĩa Mác không thể đạt được sự thống nhất trong tư tưởng và hành động.
Tóm lại, chủ nghĩa duy lý phê phán của Popper không có sự phê phán với chủ
nghĩa tư bản mà ông còn coi đó như là một khuân mẫu tuyệt đối của việc tổ chức lại
cuộc sống xã hội.
Học viên: Trần Thuận Ánh 13
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
Triết học khoa học kế thừa triết học Tây thời Phục hưng – cận đại, trào lưu triết
học khai sáng, triết học cổ điển Đức… nêu cao vai trò và tầm quan trọng của khoa học
trong thực tiễn, đã đánh dấu một kỷ nguyên phát triển vượt bậc về khoa học – công
nghệ của các nước phương Tây, hình thành một phương Tây lớn mạnh và bùng nổ.
Các lý luận của hệ tư tưởng triết học khoa học có giá trị thực tiễn cao và vẫn còn ảnh
hưởng đến nền khoa học cho tới ngày hôm nay.
Triết học khoa học đã thực sự có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển của
xã hội phương Tây.
Mặt khác, nó đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh tư tưởng, đặc biệt là
chống lại thế giới quan duy vật – hệ tư tưởng của giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội,
đã tìm mọi cách phân tích, lý giải các hiện tượng xã hội thông qua những phương pháp
như: lôgic, tâm lý học, sinh vật học, ngôn ngữ học… nhưng bị hạn chế bởi tư tưởng
của mình, nó chỉ có thể hiểu một cách lệch lạc về các vấn đề này và đưa ra các cách
giải quyết ảo tưởng.
Học viên: Trần Thuận Ánh 14
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
PHỤ CHƯƠNG
Phụ chương 1: Albert Einstein & Thuyết tương đối
Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879 – 18 tháng 4 năm 1955) là nhà vật lý lý
lý thuyết điện từ, một lý thuyết đưa ra công thức tính vận tốc ánh sáng từ các hằng số
(xem bài vận tốc ánh sáng), là không thay đổi theo hệ quy chiếu quán tính. Vậy hiển
nhiên vận tốc ánh sáng, kết quả của lý thuyết điện từ, cũng không thay đổi theo hệ quy
chiếu quán tính.
Thuyết tương đối rộng
Thuyết tương đối rộng được Einstein công bố vào năm 1916 (trước đó đã nằm
trong loạt bài giảng tại Viện Khoa học Phổ 25 tháng 11 năm 1915). Tuy nhiên, nhà
toán học người Đức David Hilbert đã viết và công bố các phương trình hiệp biến trước
Einstein. Có nhiều lý do cả Einstein và Hilbert được xem như đồng phát minh ra
thuyết tương đối rộng. Lý thuyết này giới thiệu các phương trình thay cho định luật
vạn vật hấp dẫn của Newton. Nó sử dụng hình học vi phân và tenxo để mô tả trọng
trường.
Lý thuyết này cũng dựa trên một tiên đề duy nhất: "mọi định luật vật lý là giống
nhau trong mọi hệ quy chiếu (gồm cả những hệ quy chiếu chuyển động với vận tốc
thay đổi so với nhau)". Trong lý thuyết này, trọng lực không tồn tại như lực riêng (như
theo quan niệm của Newton), mà chẳng qua là lực quán tính, hay khái quát hơn là hệ
quả của độ cong trong không-thời gian. Về mặt trực quan, cảm giác về lực hấp dẫn khi
ngồi trên mặt đất giống cảm giác lúc trong thang máy đi lên (hoặc tương tự trong xe
khi đang tăng tốc/giảm tốc). Lý thuyết tương đối rộng đã dẫn đến một kết quả là mọi
vật chất (hay khối lượng hay năng lượng) đều làm cong không-thời gian, và độ cong
này tác động đến đường rơi tự do của các vật chất khác (kể cả đường đi của ánh sáng).
Học viên: Trần Thuận Ánh 16
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
Hiện tượng vật chất bẻ cong đường đi ánh sáng đã được kiểm chứng lần đầu
tiên đối với Mặt Trời (nơi tập trung nhiều vật chất nhất trong Hệ Mặt Trời). Trong vũ
trụ, đã quan sát thấy có nơi (ví dụ ở gần trung tâm các thiên hà) tập trung nhiều vật
chất đến mức ánh sáng đến gần bị hút vào và không ra được nữa, gọi là các lỗ đen vì
chúng không phát ra ánh sáng (hay không cho phép ánh sáng thoát ra).
Học viên: Trần Thuận Ánh 17
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
Hằng số hấp dẫn
Hằng số hấp dẫn G phụ thuộc vào hệ đơn vị đo lường, được xác định lần đầu tiên bởi
thí nghiệm Cavendish năm 1797.
Nếu dùng hệ đơn vị SI: G = 6.67 x 10
-11
N.m
2
/kg
2
G = 6.67 x 10-11 N.m²/kg²
Học viên: Trần Thuận Ánh 19
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ts. Nguyễn Ngọc Thu – Ts. Bùi Văn Mưa: Giáo trình Đại cương lịch sử triết
học, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2003.
2. Ts. Hà Thiên Sơn: Lịch sử triết học, NXB Trẻ, 1998.
3. Ts. Bùi Văn Mưa: Triết học & bức tranh vật lý học về thế giới, NXB ĐH Quốc
Gia Tp. HCM, 2008.
4. Các trang Web:
http://vi.wikipedia.org
http://tailieu.vn
http://diendankienthuc.net
…
Học viên: Trần Thuận Ánh 20