TIỂU LUẬN:
Lịch sử triết học Trung Quốc
Giai cấp xuất hiện trong xã hội cổ đại Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai trước
công nguyên. Vào cuối thiên niên kỷ này, ở Trung Quốc đã xuất hiện các biểu tượng
tôn giáo, như “đế”, “thượng đế”, “thiên mệnh”, “quỷ thần”. Đầu thiên niên kỷ thứ I
trước công nguyên, đời Tây Châu, đã xuất hiện các biểu tượng triết học như “âm
dương”, “ngũ hành” (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Trên cơ sở những biểu tượng tôn
giáo và triết học đó, từ thế kỷ VI đến thế kỷ III trước công nguyên, thời kỳ quá độ từ
chế độ chiếm hữư nô lệ sang phong kiến , ở Trung Quốc hình thành nhiều học thuyết
chính trị xã hội và triết học khác nhau . Khổng Tử với học thuyết “nhân lễ”, Lão Tử
với học thuyết “vô vi”, Mặc Tử với học thuyết “kiêm ái”, Dương Chu với học thuyết
<1> Bản thể của vũ trụ là gì? Hay nói cách khác thế giới vật chất do đâu sinh ra?
Là những vấn đề xuất hiệ ngay từ đầu và quán xuyến trong lịch sử triết học Trung
Quốc được cả hai trường phái duy vật và duy tâm chú ý và tìm cách giải đáp. Trường
phái duy tâm thì cho rằng, thế giới bên ngoài là do trời, thượng đế sinh ra và con
người cũng là do trời sinh ra, số phận con người là do trời quy định. Chủ nghĩa duy
vật thì có quan điểm trái lại, nhưng trong họ cũng có nhiều sự giải thích khác nhau.
“Kinh dịch” (thời nhà Chu) cho rằng sự giao cảm giữa âm và dương sinh ra trời đất,
vạn vật; “Thiên Hồng Phạm” trong “Kinh Thư” (thời nhà Chu) cho rằng: “Ngũ hành”
(kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) tương sinh tương khắc làm nên vạn vật; Lão tử (thời Xuân
Thu – Chiến quốc) cho rằng: “đạo” là nguồn gốc của vạn vật, ”đạo sinh một, một
sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật” (Đạo đức kinh); Tuân Tử (thời Chiến Quốc cho
rằng, trời đất hợp lại là nguồn gốc của vạn vật: “trời đất hợp lại thì vạn vật sinh ra,
âm dương giao tiếp với nhau thì sinh biến hóa” (Tuân Tử – Lễ luận); Vương Sùng
đời Hán thì cho nguyên khí là yếu tố đầu tiên của thế giới vật chấ; Trương Tải thời
Tống thì cho “thái hư” là nguồn gốc của vũ trụ; Đàm Tự Đồng, Khang Hữu Vi thì
cho ete là gốc đầu tiên của vạn vật. Trong các luận điểm thì luận điểm “ngũ hành
tương sinh tương khắc” là nguyên khí vận động sinh ra trời đất vạn vật là có vai trò
lớn trong lịch sử .
Bằng các luận điêm trên, chủ nghiã duy vật đã đối địch lại chủ nghĩa duy tâm.
Qua việc lấy vật chất hoặc sự vận động của vật chất để giải thích nguồn gốc của các
hiên tượng vật chất, các nhà duy vật đã làm lu mờ vai trò của thần thánh, vai trò của
lực lượng siêu nhiên, những lực luợng mà chủ nghĩa duy tâm tôn giáo tạo ra và luôn
dựa vào đó. Nhưng luận điểm của các nhà duy vật Trung Quốc có nhược điểm: lấy
một hoặc vài yếu tố vật chất để giải thích tính muôn hình muôn vẻ của thế giới khách
quan là một vấn đề còn có tính trực quan, ước đoán, chưa có sự chứng minh cụ thể.
Do đó chưa khuất phục được chủ nghĩa duy tâm, chưa giải phóng con người khỏi
cấp thông trị, được giai cấp thống trị cổ vũ. Nhưng quan điẻm của các nhà duy vật có
tính chất hiện thực và khoa học, vì nó dựa vào sự quan sát giới tự nhiên và vào những
kiến thức về tự nhiên.Tuy không giữ được vai trò lịch sử, nhưng những quan điểm
duy vật có tác dụng phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm thần bí vốn gắn liền với
chế độ phong kiến Trung Quốc.
<3> Nổi bật trong lịch sử triết học Trung Quốc là vấn đề con người. Nhưng người
ta ít chú trọng đến vấn đề này không phải vì hạnh phúc con người mà là vì lợi ích của
giai cấp thống trị; không phải là để giải quyết những bế tắc con người trong đời sống
mà là để giáo dục con người theo lập trường giai cấp phong kiến. Chính vì vậy, người
ta không chú trọng đến mọi mặt con ngưòi; không chú trọng đến mặt cơ bản của nó,
mà chỉ chú trọng đến khía cạnh nào có thể kìm hãm được con người, những quần
chúng bị trị bên dưới hoặc có thể xây dựng được những mẫu người phong kiến.
Tính người là vấn đề được chú trọng đến nhiều nhất. Vấn đề này xuất hiện từ thời
Xuân Thu – Chiến quốc và được bàn mãi cho đến triều đại nhà Thanh.
Giai cấp thống trị muốn quần chúng nhân dân bên dưới ngoan ngoãn tuân theo ý
muốn của mình, thực hiện những giáo điều của mình, nhưng quần chúng vẫn lảng ra hoặc chông lại, gây nên sự rối loạn thường xuyên trong xã hội. Hiện tượng đó đối với
họ thật đau đầu. Không biết vì sao con người lại có hành động như vậy. Nói lên tiếng
nói của giai cấp thống trị, nhưng đứng trên lập trường duy tâm, các nhà tư tưởng lúc
bấy giờ không biết nguồn gốc những rối loạn đó là ở cơ sở kinh tế, ở quyền lợi giai
cấp. Họ chỉ biết quy cho là tại tính người. Tính người ấy trong lập luận của họ là ý
thức con người, là tư tưởng, tình cảm và tâm lý của con người.
Khổng Tử nói: “Tính thì gần nhau, nhưng do tập nhiễm mà xa nhau” (Luận ngữ -
Dương hóa); Mạnh Tử thì nói: “Tính người vốn thiện”; Cao Tử nói: “Tính không
thì nhiều rủi ro? Vấn đề đó đã làm cho nhiều nhà tư tưởng Trung Quốc phải lao tâm
khổ tứ tìm lời giải đáp. Tùy ở sự giải đáp mà chia ra các trường phái khác nhau là
duy vật hay duy tâm.
Đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, các nhà duy tâm cho rằng có mệnh
trời, mệnh trời đã chi phối cuộc sống xã hội con người, cũng như cuộc đời của mỗi
con người. Khổng Tử, ông tổ của Nho giáo cho rằng, có mệnh trời (thiên mệnh) con
người ta không thể cưỡng được thiên mệnh; Mạnh Tử cho trời an bài địa vị xã hội
của mỗi con người; Đổng Trọng Thư tiến thêm nêu lên thuyết “thiên nhân cảm
hứng”, trong đó cho rằng trời – người cảm thông với nhau, trời là chủ thể của người,
đối với người có công thì có thưởng, với kẻ có tội thì bắt phạt, bắt khổ phải khổ, cho
sướng được sướng. Bằng lập luận khác tín đò Phật giáo cho rằng con người ở trong
vòng số kiếp, kiếp này là hậu quả của kiếp trước và là nguyên nhân của kiếp sau.
Những luận điểm đó đã phủ lên cuộc sống hiện thực của xã hội con người, cũng như
cuộc đời của mỗi người một màn sương huyền bí, đã hạ thấp vai trò chủ động tích
cực vốn có của con người, bộc lộ ra nhiều điều phi lý, vũ đoán, khiến các nhà duy vật
phải tìm cách chống lại.
Đại biểu cho trường phái duy vật về phương diện này là Tuân Tử (thời Chiến
quốc), Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích (thời Tùy Đường). Đặc biệt là Tuân Tử,
trong tác phẩm “Thiên luận” đã đi sâu trình bày mối quan hệ giữa trời và người. Theo
ông, trời là giới tự nhiên, không liên quan gì đến việc trị loạn con người, đến hoàn
cảnh sống con người; điều đáng sợ không phải là mện trời mà là “nhân họa” (ruộng
đồng để hoang hóa, chính trị đen tối, luân thường đảo ngựoc). Trên cơ sở đó, ông cho
rằng con người có thể thắng được trời, “chế ngự thiên mệnh mà dùng lấy”. Lưu Vũ
Tích thì nêu lên thuyết “thiên nhân giao tương thắng” (trong quan hệ với nhau, trời
và người có thể khuất phục nhau), con người có thể hiểu biết và lợi dụng quy luật tự
nhiên. Luận điểm trên của các nhà duy vật đã xúc phạm đến giai cấp thống trị, làm
điểm siêu hình để biện hộ cho sự thống trị của giai cấp phông kiến. Đổng Trọng Thư,
nhà duy tâm thần học lớn nhất thời Hán nói: “trời không đổi, đạo cũng không đổi”;
Chu Hy, nhà duy tâm khách quan lớn nhất thời Tống nói: đạo đúc Khổng Mạnh là
thiên lý của muôn đời. Nói nhiều đến vấn đề biến dịch là các nhà duy vật và họ đã sử
dụng hoc thuyết này làm công cụ nhận thức, tư duy của mình.
Học thuyết biến dịch quan niệm rằng: trời đất vạn vật luôn trong quá trình biến
đổi, biến đổi đó không phải là tùy tiện mà là theo luật (có người gọi là “đạo trời” có
người xem là “thiên lý”); không phải là ngẫu nhiên mà là có động lực bên trong chi
phối, tức là do hai mặt đối lập nhau, giao cảm nhau gây nên, như âm dương, nước
lửa, trời đất. Giao cảm sinh biến hóa, biến đổi lúc nhanh, lúc chậm; biến đổi là quy
luật chung của vũ trụ thì chính trị cũng phải biến đổi theo. Đó là các giá trị cần phải
khẳng định của học thuyết biến dịch của Trung Quốc.
Quan niệm về biến dich của Trung Quốc có nguồn gốc ở sự quan sát thục tế, nhất
là quan sát sự ra đời của sinh vật (đực và cái phối ngẫu thì sinh con), quan sát tính
chất vật lý đơn giản của vật (nặng thì rơi xuống, nhẹ thì bốc lên). Chính nhờ sự quan sát thực tế đó khiên cho biên dịch không bị sa vào chủ quan bịa đặt mà ít nhiều là
hình ảnh của phép biện chứng khách quan bên ngoài, ít nhiều mang tính phản ánh,
tuy cách phản ánh đó còn ở dạng trực quan, kinh nghiệm.
Nhưng so với sự phát triển của thế giới khách quan thì phép biện dịch này còn
bộc lộ nhiều hạn chế. Thứ nhất là nó đơn giản hóa sự phát triển.Thứ hai là biến hóa
nhưng không có phát triển, không xuất hiện cái mới, mà luôn luôn đi lại cái đã đi, lập
lại cái đã qua, không phù hợp với quá trình phát triển luôn nảy sinh cái mới của hiện
thực. Thứ ba là chuyển hóa nhưng không có điều kiện, biến hóa bị đóng khung vào
hai cực, đến cực thì quay trở lại (âm cực dương hồi), quay trở lại thì thông suốt (bĩ
cực thái lai; cùng tắc biến, biến tắc thông…), nhưng vì sao lại như vậy thì không biết
là đã biết còn kẻ hạ ngu thì có học cũng không biết, do đó tuyên truyền cho chủ nghĩa
ngu dân thần bí. Các nhà duy vật thì cho rằng, thánh nhân hay phàm nhân đều phải
học mới biết được, do đó chủ trương phải học tập, phải mở rộng kiến thức. Chỉ có
Lão Tử và Trang Tử thì phủ nhận vai trò của thánh nhân, nhưng lại đi theo chủ
trương vứt bỏ tri thức nên lý luận của họ trở thành một thứ chủ nghĩa hư vô, không
có ích gì cho nhận thức.
Hạn ché chung của các nhà duy tâm và duy vật Trung Quốc là họ thuộc con người
của giai cấp phong kiến, đứng trên lập trường của giai cấp phong kiến, thừa nhận chế
độ đẳng cấp phong kiến là hợp lý và tồn tại mãi mãi. Họ chỉ biết tìm nguyên nhân
của vấn đề trị loạn của xã hội ở khía cạnh đạo đức luân lý; họ chỉ có nhiệm vụ là xây
dựng con người trung thành với chế độ, trước hết là con người đạo đức. Những điều
đó đã quy định tính chất nhận thức luận của họ là loại hình trí thức luận, hay nói cụ
thể hơn là đạo đức tri thức luận.
Các nhà tư tưởng Trung Quốc nói chung coi thường tri thức tự nhiên, tri thức sản
xuất vật chất. Khổn Tử coi khinh người hỏi mình cách làm ruộng, làm vườn; Chu Hy phỉ báng người tìm hiểu sự sinh trưởng của cây cỏ là những kẻ cuồng vọng “muốn
thổi cát thành cơm”. Tất cả họ, duy vật hay duy tâm đều coi trọng đạo đức phong
kiến, tri thức của đạo Khổng – Mạnh, đều lấy đạo đức là đối tượng nghiên cứu của
mình.
Trong lý luận nhận thức của mình các nhà triết học Trung Quốc đã đề ra hàng loạt
mệnh đề độc đáo, không có ở hệ thống triết học khác như “cùng thiên lý” (xét đến
cùng lẽ trời), “cách vật trí tri” (suy xét kỹ sự vật để đi đến hiểu biết)…Nếu những
mệnh đề này được đặt trên cơ sở duy vật và có một nội dung mở rộng thì đó là những
điều có thể đi đến giá trị. Nhưng do nội dung hạn hẹp và cơ sở đề xuất phiến diện của
nó nên vẫn mang tính chất duy tâm siêu hình, không có lợi ích cho sự nhận thức của