Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
Tiểu Luận
Lịch sử các học
thuyết kinh tế thế kỷ
XVI - XIX
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang 1
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
Mục Lục
M c L cụ ụ 2
PH N IẦ 3
L I NÓI UỜ ĐẦ 3
PH N IIẦ 4
H C THUY T KINH T T S N C I NỌ Ế Ế Ư Ả ỔĐ Ể 4
I. S XU T HI N C A TR NG PHÁI KINH T C I N VÀ C I MỰ Ấ Ệ Ủ ƯỜ Ế ỔĐ Ể ĐẶ Đ Ể
C A NÓ.Ủ 4
1. Ho n c nh l ch s .à ả ị ử 4
2. Nh ng c i m chung.ữ đặ đ ể 4
II. M T S LÝ THUY T C A CÁC NHÀ KINH T T B N C I N.Ộ Ố Ế Ủ Ế Ư Ả ỔĐ Ể 6
1. Lý lu n giá tr c a WILLIAM PETTY ậ ị ủ 6
* Lý lu n giá tr lao ng:ậ ị độ 6
2. Lý lu n thu n tuý c a F.QUESNEY.ậ ầ ủ 8
* Lý lu n s n ph m thu n tuý.ậ ả ẩ ầ 8
3. Lý lu n giá tr c a A.SMIITH.ậ ị ủ 9
* Lí lu n giá tr c a Adam. Smith.ậ ị ủ 9
4. Lý Lu n giá tr c a AVID RICARDO.ậ ị ủ Đ 13
III. ÁNH GIÁ CHUNG.Đ 15
1. Th nh t uà ự 15
2. H n chạ ế 16
PH N IIIẦ 17
Ý NGH A C A VI C NGHIÊN C UĨ Ủ Ệ Ứ 17
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang 2
PHẦN II
HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN
I. SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CỔ ĐIỂN VÀ
ĐẶC ĐIỂM CỦA NÓ.
1. Hoàn cảnh lịch sử.
Kinh tế chính trị học cổ điển là một trường phái đặc biệt có vai trò và ảnh
hưởng to lớn đối với sự phát triển tư tưởng kinh tế chung của nhân loại. Nó xuất
hiện từ thế kỷ XVII, trong thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình
thành và phát triển mạnh mẽ ở phương Tây, đặc biệt là nước Anh và nước Pháp.
Trường phái này phát triển trong thời kỳ dài, trải qua nhiều dai đoạn, đạt tới đỉnh
cao rực rỡ vào thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX và sau đó dần dần xã rời những
nguyên tắc truyền thống trước khi chấm dứt thực sự thống trị tuyệt đối của mình
vào thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Đặc biệt nổi bật trong hoàn cảnh lịch sử cho sự ra đời của kinh tế học cổ điển
là sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản trong lĩnh vực sản xuất, tỏ rõ ưu thế
tất yếu của nó so với lĩnh vực lưu thông vốn là lĩnh vực chiếm ưu thế trong thời kỳ
phát triển của tư tưởng trọng thương trước đó. Phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đang trên đà phát triển, chưa bộc lộ rõ những mâu thuẫn của bản thân nó là
một cơ sở thực tiễn để các đại biểu của trường phái cổ điển tập trung nguyên cứu
các quy lụât phát triển của chủ nghĩa tư bản, cổ vũ và đề cao ưu thế của phương
thức này.
2. Những đặc điểm chung.
Đặc điểm nổi bật về phương pháp luận của kinh tế cổ điển là việc chuyển đối
tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Bứơc ngoặt này đạt
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang 4
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
được chủ yếu là nhờ vào kết quả phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa đưa tới nhận thức có tính chất cách mạng rằng, toàn thể giá trị của
cả xã hội được sáng lập ra những lĩnh vực lưu thông như những người trọng
thương trước đó quan niệm.
được coi là người sáng lập trường phái kinh tế học cổ điển nói chung, sau đó là
A.Smith, linh hồn thực sự của kinh tế học cổ điển, người thực hiện đầu tiên trong
bước ngoặt đầu tiên trong lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại và đặc biệt là
D.Ricácdo, người phát triển các tư tưởng kinh tế học cổ điển tới đỉnh cao rược rõ
nhất trước khi trường phái này bước vào thời kỳ khủng hoảng. Với nước pháp,
kinh tế học cổ điển xuất hiện và gắn liền với tên tuổi của các nhà trọng nông nổi
tiếng như P.Boisguilebert, A.Turgot và nhất là F.Quesney. Đại biểu cuối cùng của
kinh tế học cổ điển ở Pháp là Sismondi, người được C.Mác đánh giá là “kết thúc
trường phái cổ điển ở Pháp” và là đại biểu nổi tiếng của trường phái kinh tế học
tiểu tư sản sau này.
II. MỘT SỐ LÝ THUYẾT CỦA CÁC NHÀ KINH TẾ TƯ BẢN CỔ
ĐIỂN.
1. Lý luận giá trị của WILLIAM PETTY
* Lý luận giá trị lao động:
- W.Petty phân biệt giá trị lao động dưới ba hình thức. Giá trị của tự nhiên hay
tỷ lệ trao đổi của một hàng hoá với khối lượng bạc nhất định, khối lượng này thay
đổi tuỳ theo điều kiện khai thác bạc trong tự nhiên và quyết định sự thay đổi giá trị
tự nhiên của các hàng hoá khác. Theo quan niện này, giá cả tự nhiên chính là giá trị
của hàng hoá do lao động sản xuất tạo ra và được đo đường qua lao động của lĩnh
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang 6
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
vực khai thác bạc. giá cả nhân tạo hay giá cả thị trường của hàng hoá phụ thuộc và
giá cả tự nhiên và quan hệ cung - cầu của hàng hoá. Giá cả chính trị thể hiện tác
động của các nhân tố chính trị đối với lượng chi phí lao động để sản xuất ra hàng
hoá, thường làm các chi phí này vượt lên cao hơn số lao động tự nhiên.
Việc phân biệt ba loại giá cả nói trên thể hiện cố gắng của W.Petty tìm hiểu
bản chất và nguồn gốc thật sự của giá trị hàng hoá ở lao động sản xuất ra nó mà
các hình thức thể hiện bên ngoài thường che lấp đi. Ông cũng đưa ra luận điểm nổi
tiếng “Lao động là cha, còn đất là mẹ của mọi của cải” – một quan niệm thường
được coi là chỉ đúng một nửa song lại rất có nghĩa khi khẳng định lao động là
Trong những t/y đầu tiên W.Petty còn mang nặng tư tưởng TT nhưng trong t/y
cuối cùng của ông thì không còn dấu vết của CNTT. Ông là người đầu tiên nhấn
mạnh tính chất khách quan của những quy luật tác động trong XHTB.
2. Lý luận thuần tuý của F.QUESNEY.
* Lý luận sản phẩm thuần tuý.
F.Quesney quan niệm sản phẩm thuần tuý là sự chênh lệch giữa tổng sản
phẩm xã hội và các chi phí sản xuất, tức là sản phẩm dư thừa sau khi đã bù đắp các
chi phí sản xuất. Nết độc đáo, điển hình cho quan điểm trọng nông của F.Quesney
là:
Sản phẩm thuần tuý chỉ được tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp mà không có
trong công nghiệp (lĩnh vực này chỉ làm biến đổi hình thức giá trị sản phẩm mà
không làm tăng thêm khối lượng của chúng).
Sản phẩm thuần tuý được quy chỉ về lao động thặng dư trong nông nghiệp.
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang 8
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
Sản phẩm thuần tuý vẫn chỉ là tăng vật của tư nhân và tồn tại vĩnh viễn.
Hình thái duy nhất của sản phẩm thuần tuý chỉ có thể là đia tô, còn lợi nhuận
được coi là một bộ phận của chi phí sản xuất - đó là tiền công - thu nhập của các
nhà tư bản.
Từ quan niệm về sản phẩm thuần tuý, F.Quesney đề ra một căn cứ để phân
chia các loại lao động sản xuất và lao động không sản xuất. Theo ông, chỉ có lao
động nào tạo ra sản phẩm thuần tuý mới là lao động sản xuất và rõ ràng với con
mắt của người trọng nông, ông chỉ thừa nhận lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
mới là lao động sản xuất, còn tất cả các loại lao động khác, kể cả lao động trong
công nghiệp, đều là lao động không sản xuất.
3. Lý luận giá trị của A.SMIITH.
* Lí luận giá trị của Adam. Smith.
AdamSmith (1723- 1790) đã mở ra giai đoạn phát triển mới của sự phát triển
các học thuyết kinh tế. Ông đi sâu phân tích bản chất để tìm ra các quy luật sự vận
động của các hiện tượng và các quá trình kinh tế .
Đây là điều sai lầm, luẩn quẩn của A.Smith. Ông đã đưa vào hiện tượng,
một bên là chủ nghĩa lao động cho nhà tư bản, một bên là nhà tư bản trả lương cho
công nhân.
- Về cấu thành lượng giá trị hàng hoá : Theo ông trong sản xuất tư bản chủ
nghĩa, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập,
cũng như của mọi giá trị tác động. A. Smith coi tiền lương, lợi nhuận và địa tô là
nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn. Song ông lại lầm
ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị tác động. Ông
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
10
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị, hơn nữa, ông cũng xem
thường tư bản bất biến â; coi giá trị có (v+m) công lao to lớn của A.Smith trong
việc nghiên cứu lý luận giá trị là ở chỗ ông dứt khoát xác định giá trị bằng lao động
chi phí trong việc sản xuất hàng hoá nhất thiết phải tương ứng với lượng lao động
chứa đựng trong nó.
Hơn tất cả các nhà nghiên cứu trước đó, A.Smith phân biệt một cáh rõ rành và
tỉ mỉ hai thuộc tính của hàng hoá: giá trị sử dung và giá trị. ông cũng nêu nên là
người ta thường nhầm lẫn khi dùng phạm trù giá trị để chỉ công dụng một loại
hàng hoá nào đó. Chính ông đề nghị gọi đã là giá trị sử dụng, còn “khả năng một
vật mà giá trị của nó có thể đổi lấy được những vật khác” thì được ông gọi là giá
trị trao đổi. Nguồn gốc tạo ra giá trị trao đổi là lao động vật hoá của công nhân và
chỉ có lao động mới tạo ra kha năng trao đổi cho một vật. Để chứng minh cho điều
này, A.Smith đưa ra ví dụ nói rằng “Không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó
hầu như không thể mua được gì cả”. coi lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị và giá
trị trao đổi - đó là một quan điểm chân chính của A.Smith.
Nhưng A.Smith không chỉ dừng lại ở điền khẳng định chung đó. Ông bác bỏ
quan niệm của cả những người trọng thương lẫn những trọng nông quy sự sáng tạo
giá trị về một loại lao động cụ thể, riêng biệt, trái lại, A.Smith khẳng định rằng mọi
thứ lao động sản xuất đều bình đẳng trong việc tạo ra giá trị. Như thế là ông đã đi
trong hàng hoá lại vừa xác định nó bằng lượng lao động có thể mua được bằng
hàng hoá này. Ở đây, A.Smith không phân biệt được sản xuất hàng hoá giản đơn
với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa khi mà người sản xuất trở thành người làm
thuê cho nhà tư bản và chỉ được trả công bằng giá trị thấp hơn mà giá trị anh ta tạo
ra. Cũng do vậy mà A.Smith không hiểu và giải thích đúng đắn quy luật giá trị
trong chủ nghĩa tư bản. Ông cho rằng quy luật này chỉ đúng trong lền sản xuất
hàng hoá giản đơn, còn trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong mối quan hệ giữa
nhà tư bản và công nhân làm thuê, quy luật này bị vo phạm và nhà đàu tư chỉ trả
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
12
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
cho công nhân một phần giá trị do họ tạo ra. Từ đó, ông đi đến một sự khẳng định
không khoa học là trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị là kết hợp của
tiền công, lợi nhuận và địa tô (trong điều kiện không có sự thuê đất thì nó chỉ bao
gồn tiền công của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản). Ông kết luận rằng
“tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc ban đầu của mọi thu nhập, và mọi
giá trị trao đổi cũng bằng đúng như vậy”. Thế là từ chỗ xác định lao động là
nguồn gốc của mọi giá trị, A.Smith lại đi đến phủ nhận điều đó, coi cả các gía trị
đã vật hoá khác cũng bình đẳng trong việc cũng tạo ra giá trị. Đây là một mâu
thuẫn chủ yếu về lý luận dẫn đến một loại sai lầm khác của ông. Ông đã dừng lại
trước mâu thuẫn này, đó cũng là một hạn chế lơn của A.Smith mà chính các lý
luận gia tư bản đã sử dụng để bác bỏ qquan điểm của ông về lý luận giá trị.
4. Lý Luận giá trị của ĐAVID RICARDO.
Sau khi ngẫu nhiên được biết đến tác phẩm kinh tế nổi tiếng của A.Smith,
D.Ricardo đã đánh giá rất cao công trình này. Trong quá trình nghiên cứu của
mình, ông đã đưa vào các kết luận của A.Smith và cố gắng phát triển triệt để
chúng.
Trước hết ông phân biệt rõ ràng và dứt khoát hơn hai thuộc tính của hàng hoá.
Giá trị sử dụng được ông gọi là tính có ích của hàng hoá, là điều kiện cân đối
với giá trị trao đổi, song không thể là thước đo của giá trị trao đổi.
chứng minh được vì ông hiểu được giá cả sản xuất. Theo ông sự chênh lệch giữa
giá cả và giá trị là ngoại lệ, trên thực tế chỉ có giá trị chứ không có giá cả sản xuất.
Mã đã chỉ ra cơ cấu lẻ háo giá trị thặng dư thành lợi nhuận bg và giá trị hàng hoá
thành giá cả sản xuất trong điề kiện tự do cạnh tranh. Từ đó Mã đã giải quyết được
nhiều vấn đề mà các nhà kthh trước không vượt qua được.
Trong vấn đề lợi nhuận bình quân, D.Ricardo đã nhận xét được khuynh hướng
san bằng của tỷ xuất lợi huận giũa các ngành khác nhau, đã thấy được ảnh hưởng
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
14
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
của tư bản sử dụng đối với việc hình thành giá cả và phần nào hiểu được cơ chế di
chuyển của tư bản trong quá trình san bằng tỷ xuất lợi nhuận. Sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống tín dụng thời kỳ này, cùng với những kiến thức thực tế của
D.Ricardo trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã giúp cho ông hiểu được rằng việc di
chuyển tư bản được thực hiện không chỉ bằng con đường giản đơn, mà là chuyển
các nhà tư bản từ ngành có lợi nhuận sang ngành có lợi nhuận cao, trên quy mô lớn
hơn. Đó là con đường thu hẹp tư bản đi vay ở các ngành mang lại ít lợi nhuận và
tăng cường chúng ở ngành có lợi cao.
Rõ ràng là các vấn đề lý luận giá trị, D.Ricardo đã đi gần đến chỗ hoàn hảo.
Đánh giá cao những cố gắng của D.Ricardo, C.Mác viết rằng: “Nếu D.Ricardo đi
sâu hơn trong sự phân tích của mình thì ông đã có thể tìm ra rằng chính sự khác
biệt giữa giá trị với giá cả các chi phí là một điều có ý nghĩa quan trọng hơn rất
nhiều so với việc ông ta đi phân tích những thay đổi trong các giá cả đó bị ảnh
hưởng bởi việc nâng cao hay hạ thấp mức tiền công như thế nào”.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG.
1. Thành tựu
Kinh tế chính trị cổ điển là trường phái khoa học có nhiều đóng góp to lớn cho
lịch sử chung của loài người. Trong số những thành tưu nổi bật của trường phái
này, phải kể tới trước hết là phương pháp nghiên cứu khoa học. Sử dụng sức mạnh
của phương pháp trừu tượng hoá, những người cổ điển đã phát hiện và đi sâu
thành tựu xuất xắc, các nhà kinh tế học cổ điển cũng để lại nhiều quan điểm tầm
thường mà những người kế thừa họ biến thành trào lưu tầm thường hoá và làm
giảm giá trị của học thuyết cổ điển nói chung.
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
16
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
PHẦN III
Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Từ nền kinh tế bao cấp trì trệ bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân hết sức
khó khăn, đến hôm nay sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền
kinh tế nước ta đó cú những bước tiến vững vàng, tạo đà cho thế kỷ phát triển mới
của đất nước. Trong hơn 20 năm qua, GDP của chúng ta đó tăng trưởng 7,5-8%
mỗi năm. Chúng ta đó chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị
trường và chúng ta đó thành công trong việc hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới.
Thành công nhất đối với Việt Nam là trở thành thành viên của WTO và việc Việt
Nam ký kết một loạt hiệp định hợp tác thương mại song phương với hầu hết các
nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong quá khứ, chúng ta đó theo đuổi mô
hình kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu. Sau 20 năm cải cách, chúng ta đó
đạt được sự tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục Phúc lợi xã hội đó đến
được với người nghèo và người nghèo được hưởng lợi từ sự phát triển. Tỷ lệ đói
nghèo trong dân số đó giảm từ 60% trong năm 1993 xuống 14% và Việt Nam cũng
đã đạt được hầu hết các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12
năm trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so
với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đó giúp phần
làm cho quy mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn
tỉ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ
USD và 839 USD/người. Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được
mục tiêu thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm
tới.
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội từ nông dân thành công nhân, nhân
viên văn phòng… Điển hình là công ty cà phê Trung Nguyên, một công ty tư nhân
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
18
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
rất phát triển và thương hiệu cũng xuất hiện ở nhiều nước. Hàng năm kinh tế tư
nhân đã đóng góp một lượng lớn vào ngân sách quốc gia.
Mở cửa cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Việt Nam đã khá thành công
trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong những năm qua. Đạo
luật mới về đầu tư và những lần sửa lại sau đó chứng tỏ rằng chính phủ mở cửa cho
khu vực tư nhân của nước ngoài tham gia. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có
những bước phát triển quan trọng. Đến nay có rất nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài được cấp phép và có hiệu lực. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam phát triển khá nhanh, bao quát nhiều lĩnh vực, đã có những đóng góp
quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước như: bổ sung nguồn vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển, phục vụ chuyển dịch cơ cấu theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu hút công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên
tiến, phát triển nguồn nhân lực, giúp phần tiếp cận và mở rộng thị trường Quốc Tế,
nâng cao năng lực xuất khẩu ở nước ta… Đã có những tập đoàn, công ty xuyên
quốc gia lớn như Nhật Bản(Misubishi, Sony. . .), của Đức(MercedesBenz,
Siemens. . .), của Mỹ ( Mobil, carterrpila. . .), Hàn Quốc (Huyndai, SamSung…)
đầu tư vào nước ta. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được coi là một bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà Nước đó có nhiều chủ trương, chính sách để khẳng định vị trí của khu vực này
hướng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch
vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công
nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
cũng như hội nhập kinh tế quốc tế và quan trọng là góp phần tăng thu nhập quốc
dân.
Nhà nước đó từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
20
Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX - Tổ 2
Tóm lại, theo em từ khi đổi mới đến nay kinh tế nước ta đã đạt được hai thành
công lớn do sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.
Thứ nhất là việc xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu, bao cấp. Chấp nhận nền
kinh tế nhiều thành phần. Đó là thành tựu vô cùng to lớn mà Đảng chính trị đó đạt
được trong thời kỳ đổi mới. Điều này thể hiện sự sáng suốt, trí tuệ của Đảng cầm
quyền hay nói cách khác là sự tác động có hiệu quả của chính trị với kinh tế.
Thứ hai là việc Việt Nam đã là thành viên của WTO- tổ chức thương mại thế
giới. Mở ra cho kinh tế nước nhà nhiều cơ hội cũng như thể hiện sự kiên định, tài
tình trong hơn 10 năm thương lượng ròng rã để trở thành thành viên chính thức
WTO của chính phủ nước ta.
Người thực hiện: Vũ Ngọc Sâm - Lớp Cử nhân Kinh Tế Chính Trị - K27 Tỉnh Phú Thọ Trang
21