Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI DO MÁC THỰC
HIỆN TRONG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ VỚI VIỆC NHẬN
THỨC VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY.
MỞ ĐẦU
Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, nên không thể ngừng sản xuất. Do vậy,
bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào, nếu xét theo tiến trình đổi mới không ngừng
của nó, chứ không phải xét theo hình thái từng lúc, thì đồng thời đều là quá trình tái
sản xuất. Trong lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại đã có nhiều nhà kinh tế đề
cập đến tái sản xuất xã hội. Tiêu biểu phải kể đến đó là nhà kinh tế người Pháp
F.Quesnay với “biểu kinh tế F.Quesnay” nổi tiếng; Adam.Smith cũng để lại trong
lịch sử tư tưởng kinh tế những đóng góp nhất định về tái sản xuất;David Ricardo
với “lý thuyết thực hiện”; đại biểu kinh tế cổ điển cuối cùng của Pháp J.Sismondi
người đã đưa ra những lời cảnh báo về sản xuất thừa và khủng hoảng kinh tế…Tuy
nhiên người đã tạo nên bước ngoặt cách mạng, khoa học trong kinh tế chính trị nói
chung và trong lý luận về tái sản xuất nói riêng không ai khác đó chính là C. Mác.
Nhà lý luận kiệt xuất của nhân loại đã có những phát kiến và dự báo thiên tài với
những lập luận sắc bén, khoa học, Người đã chứng minh quá trình khủng hoảng
kinh tế dưới Chủ nghĩa tư bản là một tất yếu khách quan, từ đó vạch ra bản chất và
sự tất yếu diệt vong của Chủ nghĩa tư bản – điều mà các nhà lý luận nói chung và
các nhà kinh tế chính trị nói riêng trước đó không làm được, hoặc không thoát ra
được gánh nặng giai cấp của mình.
Vào ngày 5-11-2008, trong lúc viếng thăm trường Kinh tế Luân Đôn
(London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà
kinh tế hiện diện: “Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng
hiện nay?”. Thật ra câu hỏi của nữ hoàng Anh cũng là câu hỏi của hầu hết các nền
kinh tế trên thế giới. Nhân loại vừa mới trải qua những ngày đen tối có tính chu kỳ.
Một lần nữa nghiên cứu lý luận tái sản xuất trong lịch sử tư tưởng kinh tế để
có cái nhìn khách quan, toàn diện với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Với chút
nghiên cứu tái sản xuất giản đơn là nghiên cứu yếu tố hiện thực của tích lũy, của tái
sản xật mở rộng
- Lấy tư bản hàng hóa làm điểm xuất phát, sau này C. Mác cũng đã làm như
vậy
- Không tính đến biến động về giá cả ( giá cả bằng giá trị)
- Không tính đến ngoại thương, đây là giả định cần thiết mà sau này
J.Sismondi và phái dân túy Nga đã không hiểu khi phân tích lý luận tái sản xuất
- Tái sản xuất là quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã hội cả về hiện vật và
giá trị. Quá trình lưu thông sản phẩm gắn với lưu thông tiền tệ, tiền tệ trở về điểm
xuất phát ban đầu khi hết một chu kỳ tái sản xuất.
- Trao đổi tổng sản phẩm xã hội là sự trao đổi giữa ba giai cấp: Giai cấp sở
hữu, giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất
- Giá trị tổng sản phẩm xã hội gồm 7 tỷ Frăng, trong đó 5 tỷ là sản phẩm
nông nghiệp, 2 tỷ là sản phẩm của giai cấp không sản xuất. Trong 5 tỷ sản phẩm
nông nghiệp có :( 1 tỷ để bù đắp tư bản ứng trước đầu tiên, 2 tỷ để bù đắp khoản
ứng ra hằng năm, 2 tỷ sản phẩm thuần túy nộp cho giai cấp sở hữu )
- Trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp có ( 1 tỷ bù đắp hao phí nguyên vật liệu,
1 tỷ bù đắp tư liệu tiêu dùng)
- Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm trên, giai cấp sản xuất có 2 tỷ tiền mặt với tư
cách là tiền tô để trả cho giai cấp sở hữu
“ Biểu kinh tế” của F.Quesnay phân tích quá trình vận động của tổng sản
phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn được thể hiện thông qua 5 hành vi:
+ Hành vi 1: Giai cấp sở hữu dùng một tỷ tiền tô để mua nông phẩm của giai
cấp sản xuất, vậy là một tỷ nông phẩm ra khỏi lưu thông và đi vào tiêu dùng của
giai cấp sở hữu
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
+ Hành vi 2: Giai cấp sở hữu dùng một tỷ tiền tô còn lại để mua một tỷ hàng
công nghệ của giai cấp sản xuất, vậy là một tỷ trong hai tỷ sản phẩm công nghiệp đi
- Gán cho giai cấp sở hữu một chức năng kinh tế là tạo ra cú huých đầu tiên
để quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã hội được tiến hành( dùng tiền tô để mua
hàng của giai cấp không sản xuất và sản xuất)
- Phân chia xã hội thành ba giai cấp trên cơ sở lý luận của sản phẩm thuần
túy là không đúng. Ông cho rằng chỉ có lĩnh vực nông nghiêp là lĩnh vực sản xuất
còn các lĩnh vực khác là lĩnh vực không sản xuất. Khái niệm giai cấp không sản
xuất của ông rất tầm thường và không khoa học. Ông cũng cho rằng toàn bộ sản
phẩm thuần túy tiêu dùng hết nên không thể tái sản xuất mở rộng được. Điều này
gián tiếp F.Quesnay cho rằng dưới CNTB không có khủng hoảng kinh tế, và như
thế CNTB tồn tại vĩnh viễn như là xã hội cuối cùng trong lịch sử. Một cái nhìn
thiển cận, bảo thủ trì trệ của chủ nghĩa trong nông nói chung và của F.Quesnay nói
riêng.
- Không thấy được sự trao đổi trong nội bộ ngành công nghiệp, công nghiệp
không tiêu dùng sản phẩm của mình cũng như không bù đắp chi phí tư liệu sản xuất
của mình. Do vậy, họ không thể tái sản xuất.
Mặc dù vẫn còn tồn tại những hạn chế song “ Biểu kinh tế” được coi là khởi
thủy của học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội mà sau này C.Mác tiếp tục nghiên
cứu phát triển. Cũng trên cơ sở học thuyết tái sản xuất của mình chủ nghĩa Mác Lê nin đã khẳng định rõ những mâu thuẫn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ ra
sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản.
Một nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển khác cung khá nổi tiếng với lý thuyết
về bàn tay vô hình đó chính là Adam Smith (1723-1790). Ông cũng đã dề cập đến
lý luận về tái sản xuất. Adam Smith một nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh.
C.Mác đã phân tích một cách sâu sắc phương pháp luận của Adam Smith đó là
phương pháp hai mặt: Một mặt, Adam Smith đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong của
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
các hiện tượng, quá trình kinh tế, vạch rõ mối liên hệ bên trong của chế độ tư bản,
tìm hiểu những quy luật vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; mặt khác, ông
vẫn thường dùng phương pháp mô tả , liệt kê, thuất lại bằng khái niệm có tính chất
của Adam Smith nói rõ nguồn gốc của tích lũy tư bản là lao động. nhưng ông đã
phạm sai lầm cho rằng việc tích lũy tư bản chỉ là việc biến giá trị thặng dư thành tư
bản khả biến phụ thêm, không có tư bản bất biến phụ thêm.
Lý luận về tái sản xuất của Adam Smith đã đề cập đến sản phẩm – chia làm
hai nhóm TLSX và TLTD, giá trị sản phẩm gốc gồm có C+V+m phân chia nền sản
xuất xã hội hai khu vực nhưng lí giải đầy đủ, đúng đắn những vấn đề này phải chờ
đến Mác mới giải quyết được. Có thể nói công lao to lớn nhất của Adam Smith là
đaã đưa khoa học kinh tế chính trị thành một hệ thống.
David Ricardo là một đại biểu kiệt xuất của khoa kinh tế chính trị tư sản. Các
Mác coi ông là người đã hoàn thành lý luận của trường phái kinh tế chính trị tư sản
cổ điển. Ông là nhà tiền bối lớn nhất của Mác.
David Ricardo sống trong thời kỳ hoàn thành cách mạng công nghiệp ở Anh.
Đó chính là điều kiện khách quan làm cho việc nghiên cứu của ông vượt qua được
giới hạn mà AdamSmith dừng lại. Thế giới quan của ông có tính duy vật, tuy nhiên
chủ nghĩa duy vật của ông là chủ nghĩa duy vật máy móc. Là tư tưởng gia của giai
cấp tư sản công nghiệp, David Ricardo coi khát vọng tăng thu nhập của giai cấp tư
sản là một tiêu chuẩn kinh tế (ông xuất thân từ một người buôn chứng khoán), ông
ít quan tâm đến lợi ích và vận mệnh của giai cấp vô sản và cho rằng phương thức
sản xuất phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phương thức có ợi nhát để tạo ra
của cải. Ông đã có những giả định đúng, xem tiêu dùng là do sản xuất quyết định,
muốn tái sản xuất mở rộng thì phải làm cho sản xuất vượt quá tiêu dùng. Sản xuất
phát triển sẽ tạo ra thị trường
Theo ông phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có hai mâu thuẫn chi phối
đó là: tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm trong quá trình tích lũy tư bản và mâu
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
thuẫn về kinh tế giữa các giai cấp trong xã hội. Ông không nhận thấy những mâu
thuẫn khác bắt nguồn từ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. David Ricardo
phủ nhận khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản, ông khẳng định nền sản xuất
lý luận, tiêu dùng đóng vai trò quyết định sản xuất, nhu cầu quyết định sản xuất,
sản xuất tư bản chủ nghĩa tách rời nhu cầu vì sản xuất phụ thuộc động cơ thu lợi
nhuận tối đa, vì sự phát triển của công nghiệp cơ khí. Từ đó ông khẳng định,
nguyên nhân là do chủ nghĩa tư bản càng phát triển , sản xuất càng mở rộng, mặt
khác tiêu dùng ngày càng giảm sút (tiêu dùng không đầy đủ), nguyên nhân tiêu
dùng không đầy đủ ( lạc hậu so với sản xuất ), là do sự phát triển sản xuất tư bản
chủ nghĩa dẫn đến phá sản những người sản xuất nhỏ. Do vậy làm cho thu nhập
giảm, tiêu dùng giảm, kéo theo tình cảnh điêu đứng của những người vô sản thất
nghiệp, tiền lương thấp làm giảm nhu cầu tiêu dùng mặt khác trong giai cấp tư sản
cũng có khuynh hướng hạn chế tiêu dùng, tăng tích lũy. Từ đó S.Sismondi kết luận
rằng, chủ nghĩa tư bản càng phát triển sản xuất càng mở rộng, mặt khác tiêu dùng
ngày càng giảm bớt, đó là nguyên nhân của khủng hoảng.
J.Sismondi cũng đã đưa ra những con đường, biện pháp để tránh khủng
hoảng kinh tế.Theo ông, khủng hoảng không nổ ra thường xuyên là nhờ có ngoại
thương, nhưng đó là lối thoát tạm thời, lối thoát thứ yếu là các nhà tư bản tiêu dùng
nhiều hơn, lối thoát cơ bản là phát triển sản xuất nhỏ. Vì sản xuất nhỏ là sản xuất
vừa phải, dẫn đến thu nhập sản xuất nhỏ tăng, do đó sản xuất ăn khớp nhu cầu tiêu
dùng. Như vậy nghiên cứu lý luận khủng hoảng kinh tế của J.Sismondi có thể nhận
thấy các vấm đề sau:
- Điều hợp lý ở S.Sismondi là ông đã khẳng định khủng hoảng kinh tế là tất
yếu, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa sẽ có sản xuất thừa đó là kết quả của mâu thuẫn
giữa sản xuất và tiêu dùng
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
- Do đồng nhất sản xuất với thu nhập nên ông không phân biệt được sự khác
nhau giữa tư bản và thu nhập quốc dân, không phân biệt được tiêu dùng sản xuất và
tiêu dùng cá nhân và do đó không thấy được vai trò tích lũy sản xuất.
- Ông xem xét khủng hoảng theo quan điểm sản xuất nhỏ, quan điểm tiểu tư
sản, giải thích sự giảm sút của thị trường do suy đồi của nền sản xuất nhỏ. Sở dĩ
tất yếu của khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nghiên cứu lý luận tái sản xuất xã hội của Mác có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong nhận thức về cuộc khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn hiện nay, đồng
thời kiên định với những nhận định và dự báo khoa học, cách mạng của Mác về
bản chất và tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản.
Thực chất và nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là sự biến động và làm gián đoạn quá trình tái sản xuất
xã hội, phá hoại các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế.
Từ đầu thế kỷ XIX khi đại công nghiệp cơ khí xuất hiện, quá trình tái sản
xuất của CNTB bị lâm vào những cuộc khủng hoảng kinh tế một cách chu kỳ.
Khủng hoảng kinh tế TBCN là khủng hoảng sản xuất “thừa”. Biểu hiện của nó
là hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được, công nhân bị thất nghiệp, xí nghiệp phải
đóng cửa, thị trường xã hội rối loạn. “Thừa” hàng không có nghĩa là đã bão hòa với
nhu cầu xã hội mà chỉ thừa so với sức mua của quần chúng lao động.
Khả năng khủng hoảng kinh tế đã tiềm tàng trong sản xuất hàng hoá giản
đơn. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khủng hoảng kinh tế trở thành hiện thực.
Nguyên nhân cơ bản sâu xa của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản là mâu
thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hoá
cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các tư
liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Những biểu hiện chính của mâu thuẫn đó gồm:
1. Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với tính
chất tự phát vô chính phủ của sản xuất xã hội nhất là trong giai đoạn tự do cạnh
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
tranh. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có sự can thiệp, điều
chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản thông qua các kế hoạch và chương trình kinh tế
nhưng nền tảng của nền kinh tế của xã hội tư bản vẫn không thay đổi. Do đó, các tỷ
lệ cân đối của nền kinh tế vẫn bị phá vỡ vì nó phục tùng trước hết lợi ích của các
tập đoàn tư bản độc quyền. Nhà nước tư sản hiện đại phải phục tùng ý chí của giai
với quy mô lớn, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, mức độ sung túc trong cuộc sống và sinh
hoạt sụt giảm.
Chu kỳ như thế này của hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản là định lý. Những
thời kỳ phát triển mạnh mẽ và suy sụp chuyền từ tay nọ sang tay kia. Các nhà bác
học đã cố gắng tìm hiểu lý do của những khủng hoảng từ lâu, nhưng chưa có kết
qủa. Mỗi trường hợp là một câu chuyện khác nhau.“Theo bản chất của vòng tuần
hoàn công nghiệp, thì một khi vòng tuần hoàn đã được người ta phát động, tất
nhiên nó sẽ được tiếp tục cứ lặp đi lặp lại mãi theo chu kỳ. Ở thời kỳ tiêu điều, sản
xuất giảm xuống đến mức mà nó đã đạt được trong vòng tuần hoàn trước, và đó lại
là một nền sản xuất mà bây giờ người ta đã có một cơ sở kỹ thuật đích đáng. Trong
thời phồn vinh – tức là thời kỳ trung gian – nền sản xuất tiếp tục phát triển trên cơ
sở đó. Trong thời kỳ sản xuất quá thừa và đầu cơ, việc sản xuất đã huy động các lực
lượng sản xuất đến mức tối đa, đến mức vượt ra khỏi các giới hạn tư bản chủ nghĩa
của quá trình sản xuất” (C. Mác : tư bản tiếng Nga, Mạc tư khoa, 1955 q.III tr 505)
Như vậy, Các cuộc khủng hoảng đều diễn ra theo một trình tự đại thể như
nhau, cho dù lĩnh vực và quốc gia hứng chịu đầu tiên, mức độ mạnh yếu, phạm vi
lan tỏa, độ dài thời gian có thể khác nhau. Tóm lại, khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp
lại như một quy luật khách quan, vận hành theo một cơ chế đại thể như nhau với
một số khác biệt tùy theo bối cảnh từng nước và từng thời kỳ. Cái khác căn bản là
ngày nay, dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, tính tùy thuộc giữa các quốc gia
quá chặt chẽ, đứng trước hiểm họa chung các nước đều phải cụm lại đối phó. Do
đó, khủng hoảng đỡ nghiêm trọng hơn và không đưa tới chiến tranh thế giới.
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
Khủng hoảng kinh tế tác động tới nước ta và những vấn đề cần quan
tâm
Về mặt nhận thức, theo nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cần làm rõ hai điều
Một là, hiện nay có hai luồng ý kiến về tác động của khủng hoảng kinh tế
thế giới đến kinh tế nước ta. Một luồng cho rằng, tác động đó sẽ có độ trễ và không
lấy lại sức bật mới. Đồng thời, sau mỗi cuộc khủng hoảng luận thuyết kinh tế cũ
được điều chỉnh hoặc được thay bằng luận thuyết mới. Lần này người ta nói nhiều
đến vai trò điều tiết của nhà nước và trên thực tế ở khắp mọi nơi nhà nước đều phải
ra tay. Thực ra không phải ngày nay mà từ trước tới nay dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa, dù tự do hay độc quyền, nhà nước vẫn điều tiết các hoạt động sản xuất –
kinh doanh bằng cách này hay cách khác, thậm chí có khi, có nơi doanh nghiệp
quốc doanh chiếm vị trí khá quan trọng, do đó không nên coi sự can thiệp của nhà
nước chỉ là đặc trưng của kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vấn đề chỉ là giai cấp nào là
giai cấp thống trị nhà nước này hay nhà nước khác.
Thứ hai, liên quan tới vấn đề trên, một đề tài mang tính thời sự nữa là: xác
định rõ chức năng của thị trường và của Nhà nước trong điều kiện nước ta đã
chuyển sang thể chế kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế thế giới; phương
cách mà nhà nước điều tiết nên như thế nào trong hoàn cảnh đó? Dù sao đi nữa thì
cũng không thể phó mặc hoàn toàn cho "bàn tay vô hình" của thị trường, mặt khác
thật là sai lầm lớn nếu trở lại cơ chế hành chính mệnh lệnh, bao cấp, xin – cho,
không đếm xỉa tới các quy luật khách quan của thị trường.
Thứ ba, khủng hoảng đồng hành với chủ nghĩa tư bản hay là quy luật của
sản xuất hàng hóa? Các nước xã hội chủ nghĩa dưới thời kế hoạch hóa tập trung có
tránh được khủng hoảng không? Các nước chủ trương cải cách và mở cửa theo định
hướng xã hội chủ nghĩa có bị khủng hoảng không?
Về mặt thực tiễn, cần tính đến các tác động ngắn hạn cũng như tác động
trung và dài hạn. Về tác động ngắn hạn đã được bàn thảo nhiều và đang được xử
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
lý.Những tác động dài hạn là điều đáng được bàn nhiều hơn cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn.
Về lý luận, như trên đã nói, cần làm rõ "cơ chế vận hành" của tình trạng suy
giảm, suy thoái, thậm chí khủng hoảng kinh tế dưới chế độ xã hội chủ nghĩa; mối
quan hệ giữa sự điều tiết của thị trường và nhà nước trong điều kiện thể chế thị
số vốn xã hội; kim ngạch nhập khẩu lên tới 90,2% GDP vào năm 2007. Còn kim
ngạch xuất khẩu năm 2007 chiếm tới 76,8% GDP; nếu cộng cả xuất lẫn nhập khẩu
thì bằng 167%. Đó là chưa kể cơ cấu rất không hợp lý: nhóm nông - lâm - thủy sản
chiếm tới 20,57%, dầu thô chiếm 16,52% và than chiếm 2,21%. Sản phẩm chế biến
tuy chiếm 37,6% song chủ yếu là gia công, lắp ráp. Sản phẩm điện tử, vi tính chỉ
chiếm 4,21% mà cũng chỉ là lắp ráp, gia công.
Cuộc khủng hoảng lần này cho thấy, nước nào tùy thuộc quá nhiều vào xuất
khẩu càng bị tác động nhiều. Tuy trong giai đoạn hiện nay nước ta vẫn phải dành
ưu tiên cao cho xuất khẩu, còn phải nhập khẩu nhiều, song chiến lược trung và dài
hạn cần cơ cấu lại theo hướng: giảm tỷ trọng xuất - nhập khẩu trong GDP và phấn
đấu xây dựng một cơ cấu tiến bộ; nếu không kinh tế nước ta sẽ luôn luôn kém hiệu
quả, sẽ tụt hậu lâu dài, đồng thời khó bề trụ vững trước những sóng gió trên thị
trường thế giới. Bên cạnh đó, thị trường trong nước không nhỏ, chẳng bao lâu sau
sẽ lên tới 100 triệu dân với thu nhập ngày càng cao, không thể không tăng cường và
chấp nhận cạnh tranh ngay trên sân nhà.
Bên cạnh đó, hơn bao giờ hết cần đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa
phương tiện thanh toán và dự trữ ngoại tệ để duy trì thế cơ động linh hoạt.
Về mặt chính trị có mấy vấn đề đáng lưu ý:
- Trong hoàn cảnh ngày nay ít có khả năng khủng hoảng đưa tới chiến tranh
để phân chia lại thị trường, xu hướng chủ yếu sẽ là tìm cách dàn xếp mâu thuẫn,
dung hòa lợi ích để tránh sự sụp đổ toàn hệ thống. Điều đó càng củng cố nhận định
Bài thu hoạch lịch sử kinh tế
của Đảng ta rằng, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, trong vài thập kỷ tới ít có
khả năng nổ ra chiến tranh thế giới; hòa bình và hợp tác và phát triển là xu thế lớn.
Mặt khác, khi nước ta đã hội nhập quốc tế và có vị thế quốc tế khá cao thì
cần chủ động tham gia vào quá trình dàn xếp, hợp tác quốc tế để hình thành trật tự
kinh tế quốc tế mới công bằng và dân chủ.
- Cuộc khủng hoảng lần này cho thấy có sự chuyển dịch "quyền lực toàn