Tiểu luận Triết học
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CNCS
: Chủ nghĩa cộng sản
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
CNH – HĐH
: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Page 1
Tiểu luận Triết học
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, cho đến nay những nước có nền kinh tế phát triển
nhất trên thế giới cũng chính là những nước có bề dày phát triển kinh tế thị
trường dài nhất. Cả thế giới ngày nay đang bị sức hút bởi trình độ phát triển
ngoạn mục của các nước ở đỉnh cao của sự phát triển kinh tế thị trường. Một
số nước đi sau chỉ trong một thời gian ngắn (chừng 30 năm) đã phát triến
nhanh chóng bởi vì trước hết họ đã chấp nhận và đi theo con đường kinh tế thị
trường ngay từ đầu, họ biết khai thác tối đa kinh nghiệm và có sự hỗ trợ từ
các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trái lại, mô hình kinh tế hoá tập
phán”, Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm
giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào
cảm giác”. Do đó, vật chất tồn tại khách quan.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy nhiên không phải
cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người là tự nhiên trở thành ý
thức. Ngược lại ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo về thế giới do nhu
cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện
thông qua hoạt động lao động. Vì vậy, ý thức là cái vật chất được đem chuyển
vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó. Tính sáng tạo của
ý thức được thể hiện rất phong phú, tuy nhiên sáng tạo của ý thức là sáng tạo
của phản ánh bởi vì ý thức bao giờ cũng chỉ phản ánh tồn tại. Ý thức là sản
phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất có tính xã hội.
Có thể nói, vật chất và ý thức giống như hai mặt của một vấn đề, giữa
chúng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ.
Thứ nhất, vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức.
Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, vật chất là cơ sở, cội
nguồn sản sinh ra ý thức. Vật chất là cái có trước, nó sinh ra ý thức, quyết
định nội dung và xu hướng phát triển của ý thức. Không có vật chất thì không
thể có ý thức bởi vì nguồn gốc của ý thức chính là vật chất, trong đó bộ óc
người là cơ quan vật chất của ý thức, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh,
sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự
nhiên của ý thức. Lao động trong hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất của
Page 3
Tiểu luận Triết học
cải vật chất và ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), cùng với nguồn gốc tự nhiên
thức một nguyên tắc được rút ra, đó là nguyên tắc khách quan. Nguyên tắc
Page 4
Tiểu luận Triết học
khách quan trước nhất thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý
thức, nó đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất
phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách
quan, “phải lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình”.
Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc khách quan không có nghĩa là quan
điểm khách quan xem nhẹ, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi
hỏi phát phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan.
Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính
năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để
từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người
thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái
phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện,
sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các
mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.
1.2.
Nội dung nguyên tắc khách quan
Vật chất là nguồn gốc khách quan sản sinh ra ý thức, ý thức chỉ là sản
phẩm, là phản ánh thế giới khách quan, vì vậy trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn phải luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực
lượng thực hiện biến khả năng thành hiện thực, cụ thể như sau:
1.2.1.
Page 6
Tiểu luận Triết học
Phần II: Vận dụng nguyên tắc khách quan phân tích một số nghị
định của Chính phủ ra đời mà chết yểu
2.1.
Thực trạng các nghị định của Chính Phủ ra đời mà chết yểu
Trong năm 2015, dư luận xã hội bắt đầu quan tâm hơn đến chất lượng
văn bản quy phạm pháp luật, khi trong năm đó chứng kiến rất nhiều văn bản
luật rơi vào tình trạng “chết yểu”.
Đầu tiên phải kể đến Nghị định số 94 của Chính phủ về sản xuất, kinh
doanh rượu rơi vào tình trạng “chết lâm sàng”. Nghị định này quy định, các tổ
chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công bán ra thị trường phải có giấy phép, trên
sản phẩm có dán nhãn. Nếu bán cho các doanh nghiệp có giấy phép sản xuất
để chế biến lại phải đăng ký với UBND cấp xã nơi sản xuất. Khi vận chuyển
đến nơi tiêu thụ, người nấu rượu cần xuất trình hợp đồng mua bán với doanh
nghiệp có giấy phép sản xuất để các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra khi cần
thiết.
Thế nhưng, dù đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, đến nay, việc thực
hiện qui định này gần như đang bị “bỏ ngỏ”. Bởi, hầu hết các gia đình nấu
rượu đều là điểm nhỏ lẻ, mà pháp luật lại chưa có quy chuẩn về an toàn thực
phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, phòng, chống cháy nổ đối với các hộ nấu rượu nhỏ
lẻ, nên muốn quản cũng không được.
Cũng trong tháng 8/2015, dư luận lại ồn ào bởi quy định “thịt và phụ
phẩm bảo quản ở nhiệt độ bình thường chỉ được bày bán trong vòng 8 giờ kể
từ khi giết mổ” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Thông tư
33/2015/TT-BNNPTNT. Quy định này bị phản đối kịch liệt vì tính phi thực tế
132 văn bản sai về nội dung; 32 văn bản sai về thẩm quyền; 72 văn bản sai về
hiệu lực, còn lại chủ yếu sai về thể thức và kỹ thuật trình bày.
Có thể điểm qua vài văn bản, trong năm 2015 như một số tỉnh đưa ra
quy định sử dụng “Bia tỉnh ta”, “xi măng tỉnh ta”. Hay quy định hạn chế
quyền của phóng viên thường trú của UBND tỉnh Thanh Hóa. Hay quy định,
"ngực lép, chân ngắn... không được đi xe máy" của Bộ Y tế. Mới đây nhất là
Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản sửa quy
định về “Chi điều tra, thống kê số người mù chữ, tái mù trong độ tuổi 15Page 8
Tiểu luận Triết học
55…” tại một thông tư liên tịch, theo đó phải nâng độ tuổi tối đa từ 55 lên 60
cho phù hợp với pháp luật hiện hành.
2.2.
Phân tích sự chết yểu của các nghị định Chính Phủ dựa vào nguyên
tắc khách quan
2.2.1. Năng lực tư duy biện chứng còn yếu kém
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi việc nhận thức phải dựa vào những cơ
sở thực tế khách quan, xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những thuộc
tính và mối liên hệ vốn có của nó, từ những quy luật vận động và phát triển
của bản thân nó; không thể dựa vào ý muốn chủ quan hoặc lấy ý chí chủ quan
áp đặt cho thực tế, đồng thời không được cắt xén, không được gán ghép cho
sự vật, hiện tượng những gì mà chúng vốn không có. Trong Bút ký triết học,
V.I.Lênin chỉ ra rằng, "tính khách quan của sự xem xét không phải thí dụ,
không phải dài dòng, mà bản thân sự vật tự nó".
Nắm vững và vận dụng đúng đắn nguyên tắc khách quan sẽ góp phần
thiết thực trong việc xây dựng năng lực tư duy biện chứng cho người học.
Việc quán triệt nguyên tắc này giúp họ thấy được rằng, phải quan sát các sự
triển không ngừng theo những quy luật tất yếu, vốn có của chúng. Vì vậy, để
nhận thức được bản chất của sự vật, ngoài các nguyên tắc trên, tư duy còn
phải tuân thủ nguyên tắc phát triển. Nguyên tắc này quy định tính tất yếu phải
nghiên cứu sự vật trong sự vận động và phát triển theo những quy luật phổ
biến, khách quan vốn có, chỉ ra chiều hướng biến đổi của nó. Mặt khác,
nguyên tắc này còn giúp cho tư duy trở nên năng động, linh hoạt, mềm dẻo;
khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ và máy móc.
Lôgíc biện chứng chỉ cho chúng ta thấy được sự phát triển biện chứng
của nhận thức khoa học. Các khái niệm, định luật, lý thuyết tất yếu được bổ
sung, điều chỉnh, phát triển trong quá trình nhận thức, trong lịch sử phát triển
của khoa học. Những khái niệm, định luật, lý thuyết mới này không phủ nhận
hoàn toàn các khái niệm, định luật, lý thuyết cũ mà có sự kế thừa những giá
trị hợp lý, coi chúng như những trường hợp đặc biệt. Vì thế, không nên có thái
độ xem những tri thức đã có của con người như những chân lý tuyệt đích,
cuối cùng.
Page 10
Tiểu luận Triết học
Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có quá trình hình
thành và phát triển, đều có lịch sử của mình và bao giờ cũng tồn tại trong
những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhất định. Lôgíc biện chứng chỉ rằng,
"không có chân lý trừu tượng”, rằng “chân lý luôn luôn là cụ thể". Nguyên tắc
lịch sử - cụ thể chỉ cho người học thấy rằng, khi xem xét các sự vật, hiện
tượng, cần phải tìm hiểu quá trình phát sinh, phát triển của chúng, chỉ ra mối
liên hệ nội tại của chúng, cũng như mối liên hệ giữa chúng với những điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nắm vững nguyên tắc lịch sử - cụ thể giúp cho người
học có thể xem xét, nghiên cứu đối tượng nhận thức gắn với những điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể nhất định, biết vận dụng những học thuyết, những nguyên
nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để
xem xét thì rõ ràng, bệnh chủ quan duy ý chí là kết quả nếu không nói là tất cả
của những điều kiện sinh hoạt vật chất - xã hội, cụ thể là của trình độ phát
triển thấp kém về kinh tế.
- Bệnh chủ quan duy ý chí là sự thể hiện về trình độ văn hoá, khoa học
của chủ thể nhận thức có thể khẳng định rằng, ở một mức độ nào đó, người ta
không thể có được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ văn hoá, khoa học
chưa đạt đến một chuẩn mực cần có. Vì vậy, sự yếu kém về trình độ văn hoá,
khoa học sẽ tất yếu dẫn đến tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ
quan duy ý chí.
- Do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận mà dẫn đến lãng quên việc
thường xuyên chủ động nâng cao năng lực tư duy lý luận (trong đó bao gồm
cả quá trình học tập lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn). Về điểm này, Ăngghen
đã từng khẳng định: "Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng
năng lực của người ta. Năng lực ấy cần phái được phát triển hoàn thiện... Vì
vậy, để khắc phục tình trạng yếu kém đó, cách trước tiên và chủ yếu là phải
học tập, rèn luyện lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Tựu trung, bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận
thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói
riêng. Do đó, Lênin đã gọi căn bệnh này "là sự mù quáng chủ quan", là sai
lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác. Về lý
luận, bệnh chủ quan duy ý chí có nhiều biến thể phức tạp và trở thành mầm
Page 12
Tiểu luận Triết học
mống cho nhiều căn bệnh mới trong nhận thức. Song là một loại bệnh "ấu trĩ
tả khuynh" nên nó vẫn có khả năng được ngăn ngừa và loại bỏ.
Thực tế thời gian qua cho thấy, quá trình chuẩn bị dự thảo, một số cán
bộ nắm thực tiễn chưa chắc chắn, còn mơ hồ, tầm hiểu biết hạn chế, không
dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính, hình thức chủ nghĩa, bệnh gia trưởng độc
đoán chuyên quyền, ban phát đặc ân, tệ sùng bái cá nhân, tham ô, lãng phí,
coi thường người lao động...
Ở Việt Nam, trong thời kỳ xây dựng CHXH trước đây, chúng ta cũng
đã mắc phải căn bệnh này. Căn bệnh đó biểu hiện ở chỗ, chúng ta đã chủ quan
trong việc đánh giá những khả năng hiện có, vì thế mà sinh ra những ảo tưởng
về tốc độ cải tạo, phát triển kinh tế, và do đó, dẫn đến việc đề ra những văn
bản, nghị định với chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triền sản
xuất. Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, chúng ta đã
không có được một đường lối, chính sách phát triển kinh tế thận trọng và
khoa học dẫn đường. Sai lầm chủ quan duy ý chí đó là sự vi phạm nguyên tắc
khách quan của sự xem xét, trái với tinh thần của phép biện chứng duy vật.
Là căn bệnh không chỉ do yếu kém về trình độ nhận thức, trình độ lý
luận mà còn là sản phẩm của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu kéo dài, đến lượt
nó, bệnh chủ quan duy ý chí trở thành một trong những nguyên nhân làm cho
nền kinh tế bị đình đốn, sa sút. Do vậy, quá trình khắc phục bệnh chủ quan
duy ý chí phải là sự kết hợp giữa việc nâng cao trình độ nhận thức, trình độ lý
luận, trong đó bao hàm cả việc nắm vững phép biện chứng duy vật với việc
đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế.
Chừng nào căn bệnh này chưa được khắc phục triệt để thì nó sẽ còn gắn
kết chặt chẽ với bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều làm cản trở sự phát triển
đất nước.
2.2.3. Căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa
Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa được đề cập ở đây là muốn nói đến những
sai lầm trong phương pháp tư duy cũng như trong cải tạo thực tiễn. Thực chất
của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh
nghiệm, coi kinh nghiệm là "chìa khoá vạn năng" trong việc giải quyết những
vấn đề của cuộc sống đặt ra. Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh
Page 14
các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
Page 17
Tiểu luận Triết học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trương Bá Thanh (1995), C.Mác và Ph. Awngghen. Toàn tập, NXB
Chính Trị quốc gia.
2. Lê Quang Trang, Nguyễn Trọng Hoàn (1995), Những vấn đề về văn
hóa Việt Nam, NXB Giáo dục.
3. Trần Quốc Vượng (1996), Văn kiện đại hội VIII Chính trị quốc gia,
NXB Chính trị quốc gia.
Page 18
Tiểu luận Triết học
MỤC LỤC
Phần I: Lý luận chung về nguyên tắc khách quan..................................................................3
Phần II: Vận dụng nguyên tắc khách quan phân tích một số nghị định của Chính phủ ra đời
mà chết yểu.............................................................................................................................7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Page 19
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH