TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Hồng Mơ

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN
ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Hồng Mơ

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN
ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60 31 05 01

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
GIẢNG VIÊN:


PPDH

Phương pháp dạy học


LỜI MỞ ĐẦU
Ra đời trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản diễn ra mạnh mẽ, triết
học Mác – Lê-nin đã thực sự tạo nên bước ngoặc mang tính cách mạng trong lịch sử
nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “kim
chỉ Nam” và là “vũ khí tinh thần” vững chắc của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động trên toàn thế giới. Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh soi đường, dân tộc ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc chiến tranh
giành độc lập dân tộc. Những tư tưởng ấy, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Một trong những nội dung tư tưởng quan trọng của triết học Mác – Lê-nin chính
là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, mà Đảng và Nhà nước ta đã và
đang vận dụng trên con đường xây dựng và đổi mới đất nước, trong đó có giáo dục
và đào tạo. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong công tác
giáo dục và đào tạo là yêu cầu cần thiết, nhằm đảm bảo xây dựng một nền giáo dục
vững mạnh, đào tạo ra một đội ngũ trí thức và nguồn nhân lực đáp ứng được nhu
cầu phát triển của đất nước trong thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Trong những năm qua, công tác giảng dạy ở trường trung học phổ thông nói
chung và môn Địa lý nói riêng đã có những bước tiến đáng kể. Việc vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn luôn là một trong những vẫn quan
trọng, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, nhằm đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn trên cơ sở đảm bảo tính khoa học, cung cấp cho học sinh những kiến thức
cần thiết để trở thành một công dân có ích cho xã hội.
Với vai trò là một người giáo viên phụ trách bộ môn Địa lý, và là công dân của
chế độ xã hội chủ nghĩa, muốn tìm hiểu rõ hơn về việc vận dụng nguyên tắc trên
trong công tác giảng dạy, tác giả đã nghiên cứu đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống

1.1. Một số quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước Mác
Với các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm, họ coi thực tiễn như là một hoạt
động tinh thần, sáng tạo ra thế giới con người, chứ không xem thực tiễn là một hoạt
động vật chất, là hoạt động lịch sử xã hội. Heghen, nhà triết học duy tâm Đức cuối
thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã có một số tư tưởng hợp lý sâu sắc về thực tiễn, tuy
nhiên ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tư tưởng và một “suy lý
logic”.
Chủ nghĩa duy vật trước mác, mặc dù đã nhìn nhận thực tiễn dưới vai trò là hoạt
động vật chất, tuy nhiên vẫn mắc phải khuyết điểm là chưa thấy hết vai trò của thực
tiễn đối với nhận thức. Nhà triết học duy vật Anh, Ph.Bêcơn, người đặt nền móng
cho chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỉ XVII – XVIII, được xem là người đầu tiên
thấy được vai trò của thực tiễn. Tuy nhiên, ông cùng với nhà triết học Đ.Điđơrô…
chỉ đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình
thức khác của thực tiễn đối với nhận thức.
L.Phoiơbăc, nhà triết học duy vật Đức thế kỉ XIX, đã đề cập đến thực tiễn, nhưng
ông chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét
ở khía cạnh biểu hiện là con buôn bẩn thỉu mà thôi.
1.2. Quan điểm của triết học Mác- Lênin về thực tiễn
1.2.1. Khái niệm thực tiễn
Khi đánh giá nhận thức về thực tiễn của các nhà triết học duy vật trong lịch sử,
C.Mác cho rằng khuyết điểm chủ yếu của quan điểm triết học trước đây là “sự vật,
hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhìn nhận dưới hình thức khách thể hay hình
thức trực quan chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là
thực tiễn” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.3,
tr.9)

C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết
học nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng, với việc đưa phạm trù thực tiễn
7


Thực tiễn là một hoạt động có tính chất cộng đồng, không phải chỉ là hoạt động
của một vài cá nhân riêng lẻ, của một nhóm người, mà là hoạt động của đông đảo
quần chúng nhân dân trong xã hội. Hoạt động thực tiễn của con người phải thông
qua từng cá nhân nhưng không thể tách rời các quan hệ xã hội, được thực hiện trong
cộng đồng, do cộng đồng , vì cộng đồng.

8


- Thực tiễn là hoạt động mang tính tất yếu, nhưng là tất yếu có ý thức
Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là sản xuất vật chất, con người và xã hội loài
người được cung cấp những nhu cầu thiết yếu để tồn tại và phát triển. Hoạt động
thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, đặc trưng cho con người. Nếu động
vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới
bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn – như là một hoạt động có ý thức, ý thức
về đối tượng, ý thức về phương pháp và nhất là ý thức về mục đích. Mục đích của
thực tiễn là cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con
người, giúp con người thích nghi một cách có chủ động, tích cực với thế giới và để
làm chủ thế giới.
1.2.3. Các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn có cấu trúc phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt động.
Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm các yếu tố như nhu cầu, lợi ích,
mục đích phương tiện và kết quả. Các yếu tố đó liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau
mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được. Thực tiễn biểu
hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ
bản
- Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực
tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác
động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm
duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội.

các sự vật hiện tượng. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh
nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp
nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận. Như vậy, quá trình hình thành lý luận là
một quá trình đi từ thấp đến cao, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận, từ giả thuyết đến lý thuyết (lý luận).
Lý luận là kết quả của quá trình phát triển cao, là trình độ cao của nhận thức.
Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, có
thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học:
-

-

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một
ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của
ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người,
là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người luôn tác động đến thế
giới khách quan, cải biến giới tự nhiên và xã hội bằng thực tiễn. Trong quá trình đó,
luôn có sự thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và lý luận:
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận
hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
10


1.1. Thực tiễn là cơ sở của lý luận
Lý luận là kết quả của quá trình khái quát kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn của

cao của cá nhân và xã hội. Bản thân lý luận không thể tạo ra những sản phẩm để
đáp ứng nhu cầu của con người. Những sản phẩm đó chỉ được thực hiện trong hoạt
11


động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất. Hoạt động thực tiễn sẽ tác động vào
tự nhiên và xã hội, biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Như
vậy, mục đích thực chất của lý luận là giải quyết các vấn đề thực tiễn, đáp ứng nhu
cầu hoạt động thực tiễn của con người.
1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Chân lý là tri thức của con người về thế giới khách quan có nội dung phù hợp với
thế giới đó và đã được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn. Đó cũng chính là giá trị
phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người. Do đó mọi lý
luận cần phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C. Mác nói : “vấn đề để
tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý của khách quan không
hoàn toàn không phải vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực
tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Thông qua thực tiễn, những lý luận
đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận
chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Giá trị
của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn. Tuy thực
tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu
chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến
mức toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình
tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa trong một lịch sử lâu dài. Đó là chu kỳ
tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận
không khái quát hết các giai đoạn phát triển của thực tiễn thì lý luận có thể mang
tính phiến diện, xa rời thực tiễn. Do đó, chỉ những lý luận nào phản ánh được tính
toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Chính vì vậy mà V.I.Lênin cho
rằng :“Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức
của con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này có tính vững

lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của
con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa
dạng nhưng cũng có tính quy luật của nó. Tính quy luật của thực tiễn được khái
quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn
định hướng cho hoạt động thực tiễn về mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định
hướng giải quyết các mối quan hệ và định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn.
Do đó, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn và không ngừng
được bổ sung, phát triển trong thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn,
trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau
của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến các mối quan hệ, lực lượng tiến hành
và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích
cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Lý luận tuy là
logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn, vì thực tiễn luôn luôn
vận động và không ngừng biến đổi. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta
phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm
khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận
dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả có thể không, hoặc kết
quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy
13


định. Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu điểm không những
của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.

14


CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN

giảng thuật, diễn giảng, đàm thoại…

15


- Nhóm phương pháp trực quan: Bằng việc sử dụng các tranh ảnh, bản đồ, mô
hình v.v…giúp học sinh (HS) có thể hình dung được các sự vật, hiện tượng địa lý
mà các em không có điều kiện quan sát trực tiếp.
- Nhóm phương pháp thực tiễn: dựa vào việc quan sát trực tiếp các đối tượng địa
lý ngoài thực địa.
Ba nhóm phương pháp trên đã được sử dụng từ lâu trong quá trình dạy học bộ
môn Địa lý ở trường phổ thông và đã trở thành các phương pháp truyền thống, cho
đến nay vẫn còn được sử dụng phổ biến.
Trong những năm gần đây, cùng với những tiến bộ của lý luận dạy học, các
phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Địa lý nói riêng đã có
nhiều sự thay đổi theo hướng tích cực, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển tư
duy cho HS.
1.2.

Vai trò và tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lý
Trong suốt một thời gian dài, giáo viên (GV) được trang bị PPDH theo phương
thức truyền thống – truyền thụ kiến thức. Với phương pháp giảng dạy này học sinh
chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, thiếu tính độc, sáng tạo trong quá trình
học tập.
Theo quan điểm dạy học hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác giữa các
chủ thể GV – HS, HS – HS, HS - GV, HS với những người hiểu biết hơn. Trong đó,
“học” là hoạt động trung tâm, và “người học” – đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào trong các hoạt động
học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, HS tự tìm ra và khám phá kiến
thức. Muốn đạt được điều đó, nhất thiết phải đổi mới PPDH để HS chủ động, tích

Nhiều GV Địa lý vẫn chưa thực sự thấm nhuần tích cấp thiết, tầm quan trọng,
bản chất phương hướng của việc đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn. Một số GV còn quá chú trọng giảng dạy theo kinh nghiệm, theo lối mòn,
mà chưa quan tâm đến lý luận, cũng như những yêu cầu về đổi mới PPDH phù hợp.
Bên cạnh đó, một số GV lại quá chú trọng đổi mới PPDH theo hướng dẫn, chỉ đạo
của Bộ Giáo Dục một cách rập khuôn, giáo điều mà chưa quan tâm đến thực tiễn
dạy học của nhà trường, cũng như của bộ môn và năng lực của HS.
Đa số GV vẫn chỉ chú trọng việc giảng dạy chương trình, nội dung trong sách
giáo khoa mà xem nhẹ việc liện hệ thực tế, mở rộng kiến thức. Hình thức tổ chức
dạy học còn đơn điệu, dạy trên lớp là chủ yếu. Các hình thức dạy học gắn với thực
tế chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả. Có những kiến thức Địa lý
có thể giúp HS giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị
đoan, hiểu được những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng
dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông
mà không gây nhàm chán, xa lạ. Là một môn học thuộc ngành khoa học xã hội,
trong xu thế hiện nay nhiều bậc phụ huynh và các em HS có tâm lý xem nhẹ môn
Địa lý, mà chú trọng vào các môn khoa học tự nhiên. Nếu người GV không đổi mới
phương pháp giảng dạy để kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn
học thì sẽ dễ gây tâm lý chán nản và học để “đối phó” của HS. Việc đổi mới PPDH
theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sẽ làm cho HS thấy được giá trị của môn học,

17


tăng hiệu quả tiếp thu, không còn quá nặng về lý thuyết và ngán ngẫm khi cố gắng
học thuộc lòng quá nhiều kiến thức mang tính hàn lâm, đôi khi khô khan khó nhớ.
Nhiều GV chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục. Chưa đặt ra cho mình
nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu thực tiễn về trình độ, năng lực của học sinh để
lựa chọn nội dung và PPDH phù hợp. Hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách
dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò vẫn còn phổ biến. Do phương


18


Để vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới
phương pháp giảng dạy môn Địa lý ở trường phổ thông, người GV cần quán triệt
những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc này, từ đó vận dụng một cách linh hoạt, có
chọn lọc trong quá trình dạy học.
1. Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới phương
pháp giảng dạy của giáo viên
Trong quá trình dạy học để hoàn thành các chức năng và mục tiêu của giáo dục,
giáo dưỡng và phát triển nhằm giúp học sinh trở thành những người phát triển toàn
diện, mỗi GV cần quán triệt quan điểm thống nhất biện chứng giữa lý luận với thực
tiễn. Đó là dạy học kết hợp với đời sống và xã hội, với sản xuất; học phải đi đối với
hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt
đời phải gắn liền lý luận với thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết
hết rồi”.
Nguyên tắc dạy học kết hợp với đời sống và xã hội, là dựa trên những luận điểm
quan trọng có tính chất quy luật của học thuyết Mác – Lênin về sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn, về những điều kiện và nhu cầu xã hội quy định quá trình dạy
học, về tính Đảng, tính giai cấp và nội dung học tập trong nhà trường, về sự cần
thiết phải kết hợp dạy và học với các nhiệm vụ của công cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Việc thực hiện nguyên tắc dạy học này có một ý nghĩa thế giới quan vô cùng
to lớn, vì nó tạo điều kiện nắm vững tư tưởng duy vật biện chứng về mối quan hệ
giữa khoa học với thực tiễn. Trong bất cứ môn học nào cũng phải giúp cho học sinh
thấy được nhu cầu của sản xuất và đời sống xã hội quyết định sự phát triển những
học thuyết khoa học và ngược lại các học thuyết khoa học này cũng mở ra những
triển vọng mới để hoàn thiện thực tiễn sản xuất xã hội.
Để thực hiện nguyên tắc này, trước hết GV cần suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo và
lựa chọn PPDH phù hợp với từng bài dạy, trên cơ sở gắn kiến thức trên lớp với hoạt

hợp các môn học khác trong quá trình giảng dạy như Vật lí trong giải thích hiện
tượng cực quang, hay thơ ca, bài hát…để làm cho tiết dạy thêm sinh động, hấp dẫn.
Ví dụ, có câu hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, bên nắng đốt, bên mưa vây”
GV có thể cho HS giải thích tại sao lại có hiện tượng này, khi dạy về ảnh hưởng của
địa hình đến lượng mưa của khu vực.
Trong thực tế dạy học cho chúng ta thấy sự biến đổi của thưc tiễn dạy học thể
hiện ở hai mặt: Lượng tri thức của nhân loại và khả năng nhận thức của HS. Lượng
tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng trong những năm cuối của thập kỷ 20 cả
về số lượng và chất lượng. Vì thế, để giảng dạy hiệu quả, GV phải lien tục cập nhật
những thong tin mới nhất, đặc biệt trong giảng dạy Địa lý kinh tế xã hội, GV cần
cập nhật những số liệu, tin tức mới nhất về tình hình kinh tế của các quốc gia để tạo
cho HS luôn cảm thấy được sự mới mẻ trong học tập, tạo cho các em hào hứng học
tập để biết được những kiến thức mới. Thay vì, GV chỉ cung cấp kiến thức và số
liệu có sẵn trong sách giáo khoa thì HS trở nên nhàm chán và không có động lực để
học trên lớp.
Về mặt phương pháp, GV cũng phải nắm bắt được tâm lý của HS thì mới có thể
thực hiện PPDH một cách hiệu quả. Xã hội ngày càng phát triển, tâm lý và nhận
thức của HS cũng có nhiều thay đổi so với trước đây. Với sự phát triển của mạng xã
20


hội, nhiều xu hướng của giới trẻ được hình thành…GV cần tìm hiểu về những xu
thế đó để có thể gần gũi hơn với HS, tạo cho các em cảm giác thân thiện và thú vị
trong lớp học và dễ dàng tiếp thu hơn.
Ngoài ra, GV có thể tổ chức các hoạt động học tập thực tế bằng việc tham quan,
khảo sát thực tế, các hoạt động ngoại khóa… trong điều kiện cho phép. Để HS có
cơ hội tìm hiểu thực tế, trực tiếp trải nghiệm thực tế trên cơ sở kiến thức học tập
trên lớp và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Góp phần hình thành cho HS
quan điểm thực tiễn trong quá trình học tập, nâng cao chất lượng dạy và học.
Tuy nhiên, việc liên hệ thực tế và lựa chọn PPDH của GV vẫn phải đảm bảo yêu

học Địa lý đảm nhận hai chức năng chủ yếu là “minh họa” và “nguồn tri thức”,
cùng với sự đổi mới phương pháp dạy học với HS là trung tâm thì chức năng nguồn
tri thức của các phương tiện này càng thể hiện đậm nét.
Đặc thù của môn Địa lý là môn học tìm hiểu kiến thức trên một phạm vi rộng
lớn, GV và HS không thể trực tiếp trải nghiệm thực tế. Chính vì thế, các phương
tiện dạy học giúp GV đưa thực tế đến gần với HS bằng hình ảnh, video…Thay vì,
chỉ dùng lời thì các phương tiện này sẽ giúp tiết dạy trở nên sinh động, thu hút hơn.
Hơn nữa, ở các trường học của Việt Nam hiện nay đã và đang được quan tâm đầu
tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, vật chất, phương tiện kỹ thuật theo hướng hiện đại nhằm
phục vụ cho công cuộc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Trước xu hướng
dó, yêu cầu người GV nói chung và GV Địa lý nói riêng phải tăng cường nâng cao
trình độ sử dụng các điều kiện và PTDH để tránh tình trạng lãng phí hoặc sử dụng
PTDH kém hiệu quả.
3. Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới phương
pháp tiếp thu của học sinh
Quá trình dạy học là sự tương tác đồng thời giữa GV và HS, chính vì vậy, muốn
quá trình dạy học đem lại hiệu quả, ngoài sự đổi mới về phương pháp giảng dạy của
GV thì việc đổi mới phương pháp tiếp thu hay phương pháp học tập của HS cũng
không kém phần quan trọng.
Chính vì vậy, trong việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong dạy học môn Địa lý, HS cũng cần được quán triệt những yêu cầu của nguyên
tắc này, nhằm tạo nên sự phối hợp đồng bộ giữa thầy và trò trong quá trình dạy học.
Bản thân HS phải thấm nhuần tư tưởng của triết học Mác – Lênin về lý luận và thực
tiễn để trang bị cho mình hệ thống lý luận làm cơ sở để vận dụng vào quá trình học
tập.
Theo cách truyền thống HS tiếp nhận kiến thức một chiều từ GV truyền tải một
cách khuôn sáo, máy móc. Khi đó, HS chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết, và sau một
thời gian ngắn các em sẽ quên đi những kiến thức đã học. Chính vì thế, đến mỗi khi
kiểm tra hay các kì thi quan trọng các em đều phải tập trung dồn rất nhiều thời gian
và sức lực vào để “nhồi nhét” tất cả những gì đã học vào trong đầu, làm cho việc

quả dạy và học.

23


KẾT LUẬN
Để có được một tiết dạy hiệu quả, sinh động, thu hút được HS luôn là niềm trăn
trở và mục tiêu hướng tới của nhiều GV nói chung và GV Địa lý nói riêng có tâm
huyết với nghề. Để thực hiện được mục tiêu ấy, không phải là việc dễ dàng, trong
đó PPDH là vấn đề quan trọng nhất mà mỗi GV cần quan tâm để trang bị cho bản
thân trong sự nghiệp giảng dạy. Việc đổi mới PPDH không thôi chưa đủ, mà phải
đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì quá trình dạy học mới
thực sự đem lại hiệu quả. Để thực hiện nguyên tắc này, cả GV và HS đều cần phải
trang bị hệ thống lý luận cơ bản về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Chỉ khi có được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa lý thuyết và thực hành
thì việc giảng dạy môn Địa lý mới thực sự có giá trị và thực hiện đúng mục tiêu của
môn học. Người GV phải nhận thức rõ vai trò là người “thắp sáng ngọn lửa” chủ
động lĩnh hội tri thức trong từng HS.
Trong nội dung đề tài này, tác giả đã khái quát một số vấn đề lý luận về nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, về PPDH Địa lý cũng như thực trạng dạy
học Địa lý ở trường phổ thông; đồng thời, đề xuất những nội dung cần vận dụng
nguyên tắc này trong quá trình giảng dạy, với một số vấn đề xung quanh cuộc sống,
thậm chí có thể gặp, tiếp xúc hàng ngày. Tác giả hy vọng đây là vấn đề gợi mở ra
một quan niệm trong dạy học Địa lý, mặc dù trong đề tài này tác giả có thể không
đề cập mọi hiện tượng có liên quan.
Với thực trạng học Địa lý và yêu cầu đổi mới PPDH, có thể coi đây là một quan
điểm của tác giả đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất lượng dạy học Địa lý trong
thời kỳ mới.

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status