nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. - Pdf 28

5
BÀI LÀM
A-PHẦN MỞ ĐẦU
Được ban hành lần đầu tiên năm 1996 và sau một số lần sửa đổi, bổ sung, Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt
động xây dựng, giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, làm cho chất
lượng của văn bản quy phạm pháp luật tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy vẫn còn văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, thậm chí có những văn bản tồn tại
trong thời gian tương đối dài trước khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.
Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng của từng văn bản nói riêng và của cả hệ
thống pháp luật nói chung. Góp phần tìm hiểu nguyên nhân, hạn chế tình trạng trên,
chúng ta cần nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến,
hợp pháp trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
B- NỘI DUNG
1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
Điều 1 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 nêu rõ : “ văn bản quy
phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành
theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc
trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, trong đó có các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được nhà
nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.”
Khoản 1 Điều 3 luật này cũng quy định nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật là : “ bảo đảm tính hợp hiến hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm
pháp luật trong hệ thống pháp luật”
5
Tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật còn được quy định tại Điều
3 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
: “ 1. Văn bản quy phạm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải phù hợp với
Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên…2.
Văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên… phải được cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền

hiến không chỉ được xác định trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà
còn trên cơ sở tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc của Hiến pháp.
Ví dụ: Nguyên tắc pháp chế trong hoạt động của bộ máy nhà nước ta đòi hỏi một
hệ thống pháp luật thống nhất, hiệu quả và sự tuân thủ pháp luật của mọi cá nhân,
cơ quan tổ chức trong xã hội. Do vậy, căn cứ vào Điều 12 Hiến pháp 1992, Quốc
hội khi ban hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã thể hiện nội dung
của nguyên tắc “pháp chế xã hội chủ nghĩa” tại Điều 3 luật này : “bảo đảm tính
hợp hiến hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ
thống pháp luật ”.
2.2- Tính hợp pháp
Thuật ngữ “tính hợp pháp” khi được sử dụng cùng với thuật ngữ “tính hợp hiến”
không bao hàm ý nghĩa về sự phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung
(trong đó có Hiến pháp) mà chỉ đề cập đến sự phù hợp với các quy định của các
đạo luật và văn bản dưới luật. Theo nghĩa như vậy, để bảo đảm tính hợp pháp, văn
bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ
tục luật định. Bên cạnh đó, hình thức của văn bản phải phù hợp với quy định về kỹ
thuật văn bản.
Tính hợp pháp của hệ thống pháp luật xuất phát từ chính yêu cầu của cuộc sống xã
hội. Trong khoa học pháp lý hiện nay phổ biến quan điểm cho rằng, tính hợp pháp
của hệ thống pháp luật là sự phù hợp giữa quy định của các văn bản dưới luật với
luật. Quan điểm này hoàn toàn đúng nhưng chưa thực sự đầy đủ. Bởi lẽ, nếu chỉ
5
coi việc đảm bảo tính hợp pháp của hệ thống pháp luật chỉ là “văn bản quy phạm
pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định.
Bên cạnh đó, hình thức của văn bản phải phù hợp với quy định về kỹ thuật văn
bản” sẽ không đảm bảo nguyên tắc pháp luật phản ánh đời sống xã hội, thể hiện ý
chí nguyện vọng của nhân dân. Thực tế cho thấy có những văn bản do cơ quan
hành chính ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục do luật định nhưng
không nhận được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp dân cư dẫn đến hiệu lực thi
hành thấp, phải bãi bỏ. Ví dụ quy định của UBND thành phố Hà Nội về cấm đăng

trong khi đó hoạt động giải thích pháp luật lại chưa được quan tâm đúng
mức. Tình hình đó khiến việc áp dụng thiếu thống nhất và đầy đủ, vừa khó
thực hiện vừa tạo kẽ hở cho những đối tượng cố ý lợi dụng vi phạm pháp
luật.
- Nhiều văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền, dẫn tới hiện tượng
chồng chéo thẩm quyền, làm cho hoạt động áp dụng pháp luật gặp nhiều khó
khăn.
C- PHẦN KẾT LUẬN
Trong xu thế phát triển kinh tế thị trường, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), dân chủ hóa xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi
hỏi nhà nước ta phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, trong
thời gian vừa qua, để việc xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của
Việt Nam đạt được nhiều kết quả, việc tuân thủ nguyên tắc “đảm bảo tính hợp
hiến, hợp pháp” là rất quan trọng, chúng ta cần chú trọng hơn nữa việc tuân thủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status