BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------
NGUYỄN VĂN HỒNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG VÀ XÁC ĐỊNH MỐI
QUAN HỆ GIỮA TỔ THÀNH LOÀI CÂY GỖ, LOÀI CÂY TÁI SINH
VỚI LOÀI CÂY GỖ, LOÀI CÂY TÁI SINH CHO LÂM SẢN NGOÀI
GỖ TRONG RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC BAN QUẢN LÝ RỪNG ĐẶC
DỤNG HƯƠNG SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------
NGUYỄN VĂN HỒNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG VÀ XÁC ĐỊNH MỐI
QUAN HỆ GIỮA TỔ THÀNH LOÀI CÂY GỖ, LOÀI CÂY TÁI SINH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
Công trình được hoàn thành tại: KHOA SAU ĐẠI HỌC - TRƯỜNG
ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ NHÂM
Phản biện 1: ………………………………………………………
………………………………………………………
Phản biện 2: ………………………………………………………
………………………………………………………
Phản biện 3: ………………………………………………………
………………………………………………………
Luân văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ khoa
học lâm nghiệp họp tại Trường Đại học Lâm nghiệp.
Vào hội ……..giờ…..ngày……tháng…….năm…..
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện - Trường Đại học Lâm nghiệp
i
LỜI NÓI ĐẦU
Để kết thúc khóa học và đánh giá chất lượng học viên trước khi ra
trường, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, khoa
sau Đại học, tôi đã tiến hành thực hiện luận án:
còn có giá trị nhiều mặt về kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
nhu cầu gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ngày càng tăng kéo theo việc khai
thác và sử dụng rừng quá mức, công tác quản lý bảo vệ rừng kém hiệu quả ở
nhiều địa phương khiến các khu rừng giảm sút nhanh chóng cả về số lượng và
chất lượng. Những tác động này đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tồn tại
của rừng làm xáo trộn các quy luật cấu trúc rừng. Diễn thế rừng đi theo chiều
hướng tiêu cực bởi sự thiếu hụt các loài cây có giá trị, đất đai bị thoái hoá,
rừng có sức sản xuất thấp và kém ổn định. Sự mất rừng kéo theo sự suy thoái
về các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đặc biệt là nguồn tài nguyên nước.
Tại nhiều nơi hiện nay thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm
trọng. Từ đó, cuộc sống và sự phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư
trong khu vực bị ảnh hưởng, gây khó khăn cho công tác bảo vệ và phát triển
rừng.
LSNG lại là một phần tử của hệ sinh thái, nó góp phần tạo nên tính
phức tạp của cấu trúc rừng. Từ xưa đến nay LSNG không chỉ giữ vai trò quan
trọng trong hệ sinh thái mà nó còn giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong đời
sống hàng ngày của các hộ gia đình trung du và miền núi nước ta.
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau,
từ cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên liệu làm thủ công mỹ nghệ, dược
liệu đến giải quyết công ăn việc làm và phát triển ngành nghề bảo tồn và phát
2
triển kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hoá, xoá đói giảm nghèo, nâng cao
đời sống nhiều mặt cho người dân dặc biệt là dân nghèo vùng sâu vùng xa.
LSNG ở Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 90 quốc gia trên thế
giới, song sản phẩm của chúng ta lại có sức cạnh tranh thấp do cơ sở chế biến
có quy mô nhỏ, không gắn liền với vùng nguyên liệu ổn định, công nghệ và
cho LSNG trong rừng tự nhiên thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Hương
Sơn, Thành phố Hà Nội”
4
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là hình thức thể hiện bên ngoài của những mối quan hệ
bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường. Nghiên
cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ bên trong của quần xã, từ
đó có cơ sở đề xuất biện pháp tác động phù hợp. Nghiên cứu cấu trúc rừng,
người ta chia thành ba dạng cấu trúc: cấu trúc hình thái, cấu trúc không gian
và cấu trúc thời gian.
1.1.1.1. Về quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là một quy luật kết cấu cơ
bản của lâm phần và đã được nhiều nhà lâm học nghiên cứu từ những năm
đầu của thế kỷ 20. Để nghiên cứu mô tả quy luật này, hầu hết các tác giả đã
dùng phương pháp giải tích, tìm các phương trình toán học dưới dạng nhiều
phân bố xác suất khác nhau. Phải kể đến các công trình như sau:
Meyer (1952), đã mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có
dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay gọi là
hàm Meyer.
Richards P.W (1968) trong cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” cũng đề cập
đến phân bố số cây theo cấp đường kính, Ông coi dạng phân bố là một dạng
đặc trưng của rừng tự nhiên. Rollet (1985) đã xác lập phương trình hồi quy số
cây theo đường kính.
Tiếp đó nhiều tác giả dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với
mỗi cỡ kính cho trước luôn tăng theo tuổi đó là kết quả tự nhiên của sự sinh
trưởng. Trong mỗi cỡ kính xác định, ở các tuổi khác nhau, cây rừng thuộc cấp
sinh truởng khác nhau, cấp sinh trưởng giảm khi tuổi các lâm phần tăng lên,
6
dẫn đến tỷ lệ H/D tăng theo tuổi. Từ đó đường cong quan hệ giữa H và D có
thể thay đổi dạng và luôn dịch chuyển về phía trên khi tuổi lâm phần tăng lên.
Rollet (1971), đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao với đường kính
bằng hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất.
Nhiều tác giả đã sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính
loài Thông theo mô hình của Schumarcher.
Tiourin, A.V (1972) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [3] đã phát hiện
hiện tượng này khi ông xác lập đường cong chiều cao cho các cấp tuổi khác
nhau.
Curtis.R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường kính
(D) và tuổi (A) theo dạng phương trình:
Logh d b1
1
1
1
b2 b3
d
A
dA
(1.1)
H a b log d
(1.5)
H a b1 d b2 log d
(1.6)
H k db
(1.7)
Petterson H. (1955) (theo Nguyễn Trọng Bình, 1996), đề xuất phương
trình tương quan:
1
b
a
d
3 * h 1,3
(1.8)
Như vậy, biểu thị sự tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây
có thể sử dụng nhiều dạng phương trình. Việc sử dụng phương trình nào cho
thích hợp nhất cho từng đối tượng thì chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nói
chung, để biểu đường cong chiều cao thì mỗi dạng cây trồng sử dung một
dạng phương trình thích hợp, dạng phương trình thường được sử dụng là dạng
phương trình Parabol và phương trình logarit.
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và đặc điểm rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng,
nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống). Hai
đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh,
môt hiện tượng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự
nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết
cấu quần thụ, cây bụi thảm tươi được đề cập thường xuyên. Baur G.N (1952,
1964) [1] cho rằng, trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của cây con, sự nảy mầm và phát triển của cây nảy mầm thì
ảnh hưởng là không rõ ràng. Ngoài ra các tác giả nhận định: Thảm cỏ và cây
bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh. Mặc dù ở
9
những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn
ảnh hưởng đến cây tái sinh. Đối với rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một
đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Số lượng loài cây có giá trị
về kinh tế không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế
thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng. Vì vậy
khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy đủ tất cả các
loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để có những đánh giá chính xác tình
hình tái sinh rừng và có biện pháp tác động thích hợp.
1.1.3. Lâm sản ngoài gỗ.
Lâm sản ngoài gỗ là một thuật ngữ để chỉ tất cả các sản phẩm có nguồn
gốc sinh vật khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên hay rừng trồng nhằm
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người.
Nghiên cứu của Peter (1989) chỉ ra rằng việc khai thác nhựa của rừng
nguyên sinh ở Peru đã cho kết quả là thu nhập cao hơn so với bất kỳ kiểu sử
dụng đất nào. Nghiên cứu bổ sung của Heinzman (1990) cho biết việc khai
thác họ cau dừa vùng Penten của Guatemana cũng cho thu hoạch quan trọng.
trước khai thác, xử lý sau thu hoạch và những đòi hỏi của chế biến trung gian.
Do chưa quan tâm đến công nghệ sau thu hoạch nên thường gây lãng phí cả
về số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái và cất trữ sản phầm (FAO,
1995).
Về chế biến những nghiên cứu về LSNG nhìn chung ít xem xét các sản
phẩm có giá trị thương mại, mà lại tập trung vào việc thay thế các sản phẩm
mới, chúng đòi hỏi kinh phí nghiên cứu lớn, các phương tiện phức tạp.
Do tính chất đặc thù và đa dạng của LSNG nên những nghiên cứu về thị
trường LSNG còn rất ít ỏi. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, mặc dù
LSNG có giá trị to lớn, nhưng những người sản xuất ra LSNG thì lại thu được
hiệu quả rất thấp do sự hạn chế tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ
11
chức hoặc thiếu các giải pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao chất lượng sản
phẩm theo đòi hỏi của thị trường.
Nhìn chung những nghiên cứu về LSNG trên thế giới đã và đang được phát triển
nhanh chóng đề cập khá rõ nét về nhiều khía cạnh cho việc phát triển LSNG. Vai
trò quan trọng của LSNG đã được khẳng định trong đời sống kinh tế - xã hội
của cả người dân ở đồng bằng và miền núi. Tuy nhiên, nhiều nơi trên thế giới
việc bảo tồn LSNG có khai thác lại chưa được chú ý đúng mức, chưa thực
hiện đúng quy trình kỹ thuật thu hoạch, công nghệ sau thu hoạch cũng lạc
hậu.
1.2. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Vấn đề nghiên cứu cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan
trọng nhằm đề suất một số giải pháp kỹ thuật phù hợp cho rừng, tạo điều kiện
cho rừng sinh trưởng phát triển. Trong những năm gần đây vấn đề nghiên cứu
về cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả đề cập:
phân bố thực nghiệm như phân bố N/D1.3 ở các ô tiêu chuẩn cho kết quả tốt.
Nguyễn Ngọc Lung (1999) đã thử nghiệm 3 hàm phân bố: Poisson,
Charlier, Weibull khi nghiên cứu số cây theo cỡ đường kính cho rừng Thông
ba lá ở Việt Nam đã rút ra kết luận: Hàm Charlier là hàm phù hợp nhất và có
cách tính toán đơn giản.
1.2.1.2. Về phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H)
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đồng Sỹ Hiển (1974) [5] cho thấy, phân
bố số cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài
cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn. Thái
Văn Trừng (1978) trong nghiên cứu của mình đã đưa ra kết quả nghiên cứu
cấu trúc của tầng cây gỗ rừng loại IV.
Bảo Huy (1993) [4], Đào Công Khanh (1996) [6], Lê Sáu (1996) [12],
Trần Cẩm Tú (1999) [17] đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán
13
cây. Các tác giả đã đi đến nhận xét chung là phân bố N/H có dạng một đỉnh,
nhiều đỉnh phụ răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull.
1.2.1.3. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính
Đã có rất nhiều tác giả đề cập mối quan hệ tương quan giữa chiều cao
vút ngọn với đường kính ngang ngực, tiêu biểu có các công trình nghiên cứu
sau:
Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] đã sử dụng phương trình logarit hai chiều
hoặc hàm mũ để mô tả H/D đồng thời cho thấy khả năng sử dụng một phương
trình chung cho cả nhóm loài cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau.
Vũ Đình Phương (1975, 1987) cho rằng có thể lập biểu cấp chiều cao
lâm phần Bồ đề tự nhiên từ phương trình Parabol bậc 2 mà không cần phân
biệt cấp đất và tuổi.
Phạm Ngọc Giao (1995) [3] sử dụng phương trình logarit một chiều để
14
chọn hàm khoảng cách để mô phỏng, vì hàm này khi kiểm tra cho tỷ lệ chấp
nhận cao nhất.
Nguyễn Thị Hải Yến (2002) nghiên cứu các lâm phần Cao su ở các tuổi
khác nhau, đã thử nghiệm ba dạng phương trình:
h = a + b*logd
(1.14)
h = ao + a1*d + a2*d2
(1.15)
h = k*db
(1.16)
Phương trình được chọn là phương trình được sử dụng đơn giản, hệ số
tương quan cao nhất, sai số nhỏ nhất. Cuối cùng tác giả chọn hàm (1.14) để
thể hiện quan hệ giưa H/D cho các lâm phần Cao su.
1.2.1.4. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa đường kính tán và đường kính
ngang ngực (DT /D1.3)
Phạm Ngọc Giao (1995) [3] đã xây dựng mô hình động thái tương quan
giữa Dt và D1.3 để xác lập phương trình DT=a + b*D1.3, tại một thời điểm nào
đấy với tham số b của phương trình là một hàm của chiều cao tầng trội với
lâm phần Thông đuôi ngựa khu Đông Bắc.
Vũ Đình Phương (1985) (theo Nguyễn Trọng Bình, Phùng Nhuệ Giang,
2003), đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa đường kính tán và đường
Khi nghiên cứu về tái sinh rừng không thể không nhắc tới hiện tượng
tái sinh lỗ trống. Theo Phạm Đình Tam (1987): Số lượng cây tái sinh xuất
hiện khá nhiều dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh
càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán. Đây là một trong những đặc điểm
tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới.
Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng
tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của
rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên
già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế. Trường hợp chỉ có 1
16
tầng trong khi nó già cỗi 1 lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau
khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện
thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một
lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật
trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”. Tuy nhiên, sau một
thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật của loại hình rừng tự nhiên, xây dựng
bản cân đối giữa một bên là mặt thoái hóa với một bên là mặt phục hồi tự
nhiên, tác giả này và các cộng tác viên đã kết luận: “Mặt phục hồi tự nhiên
không bao giờ cân đối được với mặt thoái hóa về số lượng cũng như chất
lượng, nên muốn đảm bảo cho đất nước một độ che phủ thích hợp, chúng ta
không thể trồng cây vào quy luật tái sinh tự nhiên mà chỉ có thể đi theo con
đường tái sinh nhân tạo và phương thức chặt tỉa kết hợp với tái sinh tự nhiên
hiện nay phải bị lên án”.
1.2.3. Lâm sản ngoài gỗ.
Việt Nam là đất nước với 3/4 diện tích là đồi núi, cùng với điều kiện đất
đai khí hậu thuận lợi đã hình thành nên thảm thực vật rất phong phú, đa dạng
và thực vật cho LSNG cũng đa dạng.
ở xã Cam Mỹ trong vùng đệm ở khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cho thấy
trong tổng thu nhập của hộ gia đình thì thu nhập từ LSNG chiếm đến 59%
(John B. Raintree, Nguyễn Văn Dưỡng,LêThị Phi).
Năm 2001, Cục khuyến nông và khuyến lâm đã xuất bản tài liệu “Trồng
cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng” do Nguyễn Ngọc Bình và
Phạm Đức Tuấn biên soạn. Các tác giả đã nói lên tầm quan trọng của phương thức
canh tác trồng xen dưới tán rừng và những nguyên tắc chung về kỹ thuật trồng xen
cây dược liệu, cây ăn quả, cây đặc sản chịu bóng hoặc ưa bóng dưới tán rừng.
1.3. Một số cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ lẫn nhau giữa các loài.
Khi chung sống cùng nhau trong một môi trường, các loài cây và các
sinh vật khác cũng có quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng nhau tạo nên môi
18
trường thực vật đặc biệt. Những tác động qua lại giữa các loài cây biểu hiện ở
nhiều mặt: cạnh tranh, ký sinh, cộng sinh, hỗ sinh…
1.3.1. Sự cạnh tranh
Quan hệ này xảy ra khi hai vật sống đều cần một nguồn lợi nhưng
nguồn lợi ấy không đủ thỏa mãn cho nhu cầu của chúng. Quan hệ cạnh tranh
giữa các loài cây chủ yếu về ánh sáng, ẩm độ và nguồn dinh dưỡng khoáng
trong đất và nước. Mối liên hệ này có ảnh hưởng đến sự biến động số lượng
cá thể trong các quần thể, đến sự phân bố lại về mặt địa lý và nơi ở, đến sự
phân hóa về hình thái, sức sinh trưởng và sinh sản của các loài cây…Có hai
loại cạnh tranh là: cạnh tranh trong loài và cạnh tranh khác loài. Sự cạnh
tranh trong loài là một nhân tố hết sức quan trọng quần thể khiến cho quần
thể tự điều chỉnh để tránh sự quá đông. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở
đường cong phân bố mật độ quần thể cây rưng đồng tuổi thuần loài. Ở thời
kỳ đầu, rừng non có thể có hàng ngàn cây, nhưng đến khi thành thục, số
lượng của chúng chỉ còn lại vài chục đến vài trăm cây/ha. Sự cạnh tranh giữa
dịch và tiêu diệt vật chủ.
1.3.3. Cộng sinh.
Cộng sinh là mối quan hệ hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình
cùng chung sống giữa hai loài trên cùng một lãnh thổ. Trong trường hợp này,
hai loài không có cùng nhu cầu dinh dưỡng như nhau. Trong hệ sinh thái
rừng, hiện tượng vi sinh vật cố định đạm và rễ nấm là sự biểu hiện rõ nét nhất
của quan hệ cộng sinh.
Vi khuẩn nốt sần cộng sinh ở rễ của nhiều cây bộ Đậu có khả năng cố
định đạm từ không khí, nhờ đó cây trồng có thể thêm đạm. Nấm rễ giúp cây
trồng hút dinh dưỡng của đất, nhất là ở đất cằn cỗi. Trong lâm nghiệp, quan
hệ cộng sinh nêu trên được hết sức coi trọng. Trồng rừng hỗn giao giữa Sao
20
đen (hoặc Dầu con rái) với Keo là tràm là kết quả ứng dụng mối quan hệ cộng
sinh của Keo lá tràm và vi sinh vật cố định đạm. Nhờ có mối quan hệ này mà
hàm lượng trong đất được tăng cường; điều đó tạo điều kiện sống tốt cho Sao
đen và Dầu rái.
Ngoài những mối quan hệ kể trên còn có quan hệ hội sinh (phụ sinh) –
đó là sự hợp tác giữa hai vật chủ, một bên có lợi cần thiết, bên kia không có
lợi cũng không có hại. Nhiều loài cây sống hội sinh trên thân cành cây gỗ, coi
cây gỗ là chỗ dựa để giữ mình trong quá trình sống mà không lấy chất dinh
dưỡng từ cây gỗ. Các loài phong lan là một ví dụ điển hình về kiểu sống phụ
sinh. Nhưng cũng có quan hệ hội sinh dẫn đến tiêu diệt dần loài thứ hai, như
hiện tượng các loài đa, si bóp nghẹt cây gỗ. Trong trường hợp này, việc xử lý
cây bóp nghẹt là cần thiết. Nói chung, các mối quan hệ sinh học hết sức phức
tạp và đa dạng, và không phải bất kỳ lúc nào chúng ta cũng phân biệt rõ các
quan hệ ấy với nhau.
1.3.4. Quan điểm hệ thống của hệ sinh thái.