đặt vấn đề
Quy hoạch lâm nghiệp là một trong những hoạt động rất quan trọng,
đặc biệt đối với sản xuất lâm - nông nghiệp. Do đặc điểm Việt Nam có địa
hình đa dạng phức tạp, phân hoá mạnh, cùng với nền kinh tế xã hội và nhu cầu
của ngời dân trong nền kinh tế thị trờng cũng hết sức phong phú, nên việc quy
hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý, các đơn vị sản xuất kinh doanh
Ngày càng trở thành một đòi hỏi thực tế khách quan.
Quy hoạch Lâm nghiệp là tiền đề vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào
nhằm phát huy đồng thời những tiềm năng to lớn, cực kỳ đa dạng tài nguyên
rừng và các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác, góp phần vào sự nghiệp
phát triển bền vững ở địa phơng và quốc gia. Điều đó chứng tỏ rằng, để việc
sản xuất kinh doanh rừng có hiệu quả hay sử dụng nguồn tài nguyên thiên
nhiên theo hớng bền vững, nhất thiết cần phải có công tác quy hoạch lâm
nghiệp và công tác quy hoạch lâm nghiệp cần phải đợc đi trớc một bớc, làm cơ
sở việc lập kế hoạch, định hớng trớc khi các hoạt động SXKD lâm nghiệp
khác diễn ra.
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
với nhiều lĩnh vực hoạt động, muốn kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp
và sử dụng bền vững tài nguyên rừng phải có công tác quy hoạch và lập kế
hoạch sản xuất lâm nghiệp.
Một số chủ trơng chính sách đổi mới của Nhà nớc gần đây nh Nghị
định 01/CP ngày 04/01/1995; Chơng trình 327; Quyết định 661/QĐ - TTg
ngày 29/07/1998; Quyết định số 245/1998/QĐ - TTg; Nghị định 163/CP ngày
16/11/1999; Quyết định 245/1998/ QĐ - TTg ngày 21/12/1998; Luật Đất đai
(năm 2003); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 2004); Chỉ thị 38/2005/CT -
TTg ngày 05/12/2005; Quyết định số 61/2005/ QĐ - BNN ngày 12/10/2005;
Quyết định số 62/2005/ QĐ - BNN ngày 12/10/2005; Quyết định số186/2006/
QĐ - TTg ngày 14/8/2006 Đã tác động một cách sâu sắc đến công tác quy
hoạch lâm nghiệp.
1
bộ giáo dục và đào
ban ngành chức năng và huyện Quỳnh Lu nghiên cứu, quy hoạch lại đất lâm
nghiệp cho phù hợp nhằm quản lý sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng.
Để có những cơ sở khoa học góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp
huyện, trên cơ sở tiềm năng đất đai, có tính đến yếu tố lịch sử và yêu cầu phát
triển ở thời kỳ mới trong công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng, xác định
lại mô hình rừng trồng phù hợp là cần thiết và cũng là yêu cầu cấp bách của
địa phơng. Đó là lý do hình thành đề tài:
Nghiên cứu đề xuất những nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp
Huyện Quỳnh Lu - Tỉnh Nghệ An"
2
chơng 1
lợc sử nghiên cứu
1.1. Trên thế giới:
Chúng ta biết rằng việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo h-
ớng bền vững nói chung và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang đợc các nhà
khoa học trong nớc và trên thế giới quan tâm.
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch lâm nghiệp sao cho hợp lý đã đ-
ợc nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau. Việc đa ra
một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua
các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm
về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng
3
phải đợc xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo h-
ớng lâu dài và bền vững.
Những nội dung chủ yếu thờng đợc chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế,
bảo vệ môi trờng, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân
văn. Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên thế
giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài ngời.
1.1.1. Quy hoạch vùng:
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố phát
địa phơng.
+ Đa các công ty chế biến đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế chi
phí vận chuyển.
+ Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện
nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
+ Tăng cờng toàn diện tiềm lực kinh tế và quốc phòng bằng cách phân
bố hợp lý và phát triển đồng đều lực lợng sản xuất ở các vùng, huyện.
Trên cơ sở đó, tôi tìm hiểu quy hoạch vùng ở một số nớc trên thế giới nh
sau:
1.1.1.1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trớc đây:
a) Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari:
+ Sử dụng có hiệu quả nhất lãnh thổ của quốc gia.
+ Bố trí hợp lý các hoạt động của con ngời nhằm bảo đảm tái sản xuất
mở rộng.
+ Xây dung một môi trờng sống đồng bộ.
b) Quy hoạch lãnh thổ quốc gia đợc phân thành các vùng:
+ Lãnh thổ là môi trờng thiên nhiên phải bảo vệ.
+ Lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con
ngời vào đây rất ít.
+ Lãnh thổ thiên nhiên có mạng lới nông thôn, có sự tác động vừa phải
của con ngời thuận lợi cho việc nghỉ ngơi, an dỡng.
5
+ Lãnh thổ là môi trờng nông nghiệp không có mạng lới nông thôn,
nhng có sự tác động của con ngời.
+ Lãnh thổ là môi trờng nông nghiệp có mạng lới nông thôn, có sự can
thiệp vừa phải của con ngời, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
+ Lãnh thổ là môi trờng công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con
ngời.
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nớc, tiến hành quy hoạch lãnh
thổ vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phơng. Đồ án quy hoạch lãnh thổ vùng
bình và cổ điển (truyền thống).
+ Hoạt động khai thác tài nguyên rừng.
+ Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ thơng
mại
b) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông - lâm
nghiệp.
c) Cân đối xuất nhập khẩu, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về
diện tích đất, nhân lực, tiêu thụ sản phẩm :
Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hớng tăng
thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phơng pháp mô hình hoá trong điều
kiện thực tiễn của vùng, so sánh với các vùng xung quanh và nớc ngoài.
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan:
Công tác quy hoạch phát triển vùng đợc chú ý từ những năm 70 của thế
kỷ trớc. Về hệ thống phân vị, quy hoạch đợc tiến hành theo 3 cấp: Quốc gia,
Vùng, á vùng hay Địa phơng.
Vùng (Region) đợc coi nh là một
á
miền (Subdivision) của đất nớc. Đó
là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành các
á
miền theo các phơng diện
khác nhau nh bố trí dân c, khí hậu, địa hình Đồng thời vì lý do quản lý nhà
nớc hay chính trị, đất nớc đợc chia thành các miền nh đơn vị hành chính hay
đơn vị bầu cử.
Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào kích thớc, diện tích của đất
nớc.
7
Thông thờng vùng có diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất. Sự
phân chia các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ.
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền đợc xây dựng theo
động nông nghiệp đó.
Vùng hành chính là đối tợng quy hoạch vùng nông nghiệp. Đồng thời
các vùng hành chính cũng là các vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh
tế và tổ chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển có kết quả tất cả các ngành
kinh tế quốc dân, nh vậy trong quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành
chính nông nghiệp làm đối tợng quy hoạch.
Quy hoạch vùng nông nghiệp có các nội dung nh sau:
+ Lập kế hoạch phát triển tơng lai của nền kinh tế quốc dân trong vùng
hành chính nông nghiệp.
+ Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hớng bền vững.
+ Tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đồ quy hoạch vùng.
+ Phân bố hợp lý các công ty chế biến nông - lâm sản.
+ Xác định cân đối lao động trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
+ Lập kế hoạch phân bổ nhân khẩu.
+ Phân bổ các công ty sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa cơ khí, th-
ơng nghiệp dịch vụ.
+ Phân bổ cơ sở hạ tầng nh : Đờng giao thông, điện, nớc, thông tin liên
lạc, và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác
+ Lập kế hoạch thực hiện tất cả các biện pháp đề ra trong sơ đồ quy
hoạch vùng trong thời gian chuyển tiếp.
Nh vậy, lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ
với việc lập sơ đồ quy hoạch vùng là những nội dung quy hoạch vùng nông
nghiệp (hay quy hoạch nông nghiệp huyện) [22].
1.1.3. Quy hoạch sản xuất lâm nghiệp:
Sự phát sinh của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
t bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên yêu cầu
khối lợng gỗ khai thác ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế
địa phơng của chế độ Phong kiến và bớc vào thời đại kinh tế hàng hoá t bản
9
chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản
10
pháp "Lâm phần kinh tế" và hiện nay là phơng pháp "lâm phần" không căn cứ
vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân
tích, xác định sản lợng và biện pháp kinh doanh, phơng thức điều chế rừng.
Cũng từ phơng pháp này, còn phát triển thành "Phơng pháp kinh doanh lô" và
"Phơng pháp kiểm tra" [21].
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và thập kỷ 40 của thế kỷ 20, quy hoạch
ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng đợc xây dựng vào đầu thế
kỷ. Năm 1946, Jack.G.V. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất
đai với tên " Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất". Đây cũng là tài
liệu đầu tiên, đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng
đất. Tại vùng Rhodesia trớc đây (nay là Cộng hoà Zimbabwe), Bộ Nông
nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hớng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho
quy hoạch cơ sở hạ tầng cho công tác trồng rừng. Vào đầu những năm 60 của
thế kỷ 20, Tạp chí "East African Journal for Agriculture and Forestry" đã
xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi. Năm
1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về h-
ớng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong quy hoạch
sử dụng đất [13].
1.2. ở Việt Nam:
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng:
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên
canh lúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long; các vùng cây
công nghiệp ngắn ngày nh: Vùng Mía đờng Quảng Ngãi, Phủ Quỳ - Nghệ
An Các vùng cây công nghiệp dài ngày: Vùng cao su - cà phê Bình Dơng,
Đồng Nai, Tây Nguyên; Vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng
1.2.1.1. Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh:
+ Xác định phơng hớng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và
những vùng có khả năng hợp tác kinh tế.
+ Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp Nhà nớc tập trung đầu
+ Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, căn cứ vào
dự án phát triển, phân bố lực lợng sản xuất và phân bố vùng nông nghiệp tỉnh
hoặc thành phố, xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện đợc các mục tiêu đó
theo hớng chuyên môn hoá, tập trung hoá kết hợp phát triển tổng hợp nhằm
thực hiện 3 mục tiêu của sản xuất nông nghiệp là: Giải quyết lơng thực, thực
phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định.
+ Hoàn thiện phân bố sử dụng đất đai cho các đối tợng sử dụng đất
nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao độ phì
của đất canh tác nông nghiệp.
+ Tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
nông nghiệp.
+ Tính vốn đầu t cơ bản và hiệu quả đầu t của sản xuất nông nghiệp
theo quy hoạch.
b) Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện:
+ Xác định phơng hớng và mục tiêu phát triển nông nghiệp.
+ Bố trí sử dụng đất đai hợp lý.
+ Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính
toán quy mô các vùng sản xuất chuyên canh, xác định vùng sản xuất thâm
canh, các tổ chức liên kết nông - công nghiệp, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp,
bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi).
+ Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp.
+ Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong
nông nghiệp.
+ Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong
và ngoài ngành nông nghiệp.
+ Bố trí cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp (thuỷ
lợi, giao thông, cơ khí, điện, cơ sở dịch vụ thơng nghiệp).
+ Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân c nông
thôn.
13
14
thi. Cha quy hoạch 3 loại hợp lý và cha thiết lập đợc lâm phần ổn định trên
thực địa . Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành lâm
nghiệp của nớc ta hiện nay.
Các văn ban, chính sách của Nhà nớc đề cập đến quy hoạch phát triển
lâm nghiệp thể hiện qua:
+ Hiến pháp nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992)
khẳng định ''Nhà nớc thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và
pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nớc giao đất
cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài''.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 199 (năm 2004) phân định rõ 3 loại
rừng (Đặc dụng, Phòng hộ, Sản xuất) làm cơ sở cho công tác QHLN.
Luật đất đai năm 1993 (năm 2003) quy định rõ 3 nhóm đất với 6 quyền
sử dụng, tuỳ theo từng nhóm đất và mục đích sử dụng mà giao cho các tổ chức
cá nhân quản lý và sử dụng.
Theo biên bản hội thảo quốc gia về "Quy hoạch sử dụng đất và giao
đất lâm nghiệp'' năm 1997, có nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu tính
thống nhất giữa hai luật: Luật đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong
quy hoạch và giao đất nông nghiệp và lâm nghiệp, xác định rõ vai trò của địa
phơng trong QHLN và giao đất, giao rừng [13].
Năm 1997, ngành lâm nghiệp thực hiện tổng kiểm kê rừng toàn quốc,
theo Chỉ thị 286/TTg ngày 02/5/1997 của Thủ tớng chính phủ, nhằm chuẩn bị
thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp,
nhiều địa phơng đã tiến hành lập dự án quy hoạch lâm nghiệp. Kể từ đó công
tác QHLN đợc các địa phơng hết sức quan tâm.
Song song với việc tiến hành áp dụng công tác QHLN vào thực tiễn sản
xuất, môn học QHLN đợc đa vào chơng trình giảng dạy ở các trờng đại học
chuyên ngành ở nớc ta.
Những năm vừa qua, có nhiều chơng trình, dự án đã và đang triển khai
tại huyện Quỳnh Lu nh : PAM 2780, PAM 4304, CT 327, 661, Dự án trồng
Vĩ độ Bắc.
+ Từ 105
o
26
10
đến 105
o
49
00
Kinh độ Đông.
b) Ranh giới:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá.
+ Phía Đông giáp biển Đông.
+ Phía Nam giáp huyện Diễn Châu và Yên Thành.
+ Phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn.
2.1.1.2. Địa hình, địa thế:
Nhìn chung nghiêng từ Tây sang Đông, cụ thể địa hình huyện Quỳnh L-
u chia thành các vùng(kết hợp phân vùng kinh tế - sinh thái) nh sau:
a) Vùng núi và bán sơn địa:
Gồm các xã phía Tây, Tây Bắc và phía Nam. Chiếm 61% diện tích tự
nhiên huyện, là vùng có nhiều đồi núi và thung lũng nh các dãy núi Bồ Bồ,
Chóp Đình, thung lũng Lòng Thuyền, Căn Bòng Ngoài ra còn nhiều đồi
thấp, núi đá vôi nằm rải rác ở các xã đồng bằng.
Đỉnh cao nhất: 435 m (Đỉnh Bồ Bồ) thuộc địa bàn xã Tân Sơn.
Độ dốc trung bình 23
o
mét Đồng thời tạo cảnh quan cho khu vực.
2.1.1.3. Khí hậu thuỷ văn:
Huyện Quỳnh Lu chịu ảnh hởng chung của khí hậu miền Bắc Trung
Bộ: Nóng ẩm, ma mùa nhiệt đới, và chịu ảnh hởng của khí hậu Hải Dơng.
Theo số liệu của Trạm Khí tợng - Thuỷ văn huyện Quỳnh Lu thống kê
trong mời năm (1996 - 2006) nh sau:
a) Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ không khí bình quân nhiều năm: 23,7
o
C.
Trung bình cao nhất: 29,3
o
C.
Trung bình thấp nhất: 17,3
o
C.
Số giờ nắng trung bình hằng năm là: 1.600 - 1.700 giờ.
b) Chế độ gió:
Có 2 chế độ gió mùa:
+ Mùa Hè: Có gió mùa Tây Nam khô nóng (gió Lào) từ tháng 4 đến
tháng 8.
+ Mùa Đông: Có gió mùa Đông Bắc, mang theo ma phùn, từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau.
Ngoài ra, Quỳnh Lu bị ảnh hởng trực tiếp bởi triều cờng, gió bão từ biển
Đông đổ bộ vào đất liền, gây ảnh hởng lớn đến sản xuất, đời sống và các công
trình xây dựng. Bình quân hàng năm trên địa bàn chịu 2 đến 3 cơn bão, nên
phải có đai rừng PHCS, PHCG ven biển.
18
c) Chế độ ma:
Lợng ma bình quân hàng năm: 1.605,5 mm. Lợng ma năm cao nhất:
19
Từ kết kết quả điều tra, xây dựng bản đồ lập địa của Đoàn Quy hoạch
Nông nghiệp Nghệ An (Năm 2000 - 2005), có thể đa ra các chỉ tiêu cơ bản
đánh giá dạng đất của huyện Quỳnh Lu nh sau:
a) Đá mẹ:
Các loại đá mẹ chính gồm: Đá trầm tích (Sa thạch, Đá sét, Đá vôi), Đá
biến chất (Phiến thạch sét, Cuội kết), Đá Macma (Macma axit).
Đặc điểm chính các loại đất phong hoá từ các loại đá mẹ này là: Thành
phần cơ giới trung bình, tính liên kết các hạt đất kém, dễ bị xói mòn rửa trôi
trong trờng hợp không có lớp thực bì che phủ. Quá trình Feralit hoá xảy ra
mạnh, hiện tợng kết von và đá ong hoá tơng đối điển hình.
b) Các nhóm đất chính:
Huyện Quỳnh Lu có các nhóm đất chủ yếu nh sau:
+ Đất cát ven biển: 2.278,0 ha chiếm 3,75% diện tích tự nhiên. Phù hợp
trồng rừng Phi lao phòng hộ chắn gió, chắn cát bay kết hợp cung cấp gỗ, củi.
+ Đất mặn và ảnh hởng mặn: 3.780,0 ha, chiếm 6,23% diện tích tự
nhiên. Phù hợp trồng các dải rừng ngập mặn chắn sóng, chống xói lở bờ
biển, đê biển, bảo vệ đồng ruộng, dân c
+ Đất phù sa cổ: 14.026,0 ha, chiếm 23,11% diện tích tự nhiên. Là vùng
trọng điểm lúa của huyện.
+ Đất dốc tụ phù sa cổ: 6.744,0 ha, chiếm 11,11% diện tích tự nhiên,
phân bố vùng chân đồi, thích hợp với cây công nghiệp: Dứa, Mía, Sắn
+ Đất Feralít vùng đồi núi thấp: 23.222,0 ha, chiếm 38,25% diện tích tự
nhiên. Độ dày tầng đất trung bình (tầng A+B từ 50 - 80 cm), tỷ lệ đá lẫn chiếm
5 - 15% thành phần cơ giới thịt trung bình, thích hợp với trồng cây lâm
nghiệp: Thông nhựa, Keo, Bạch đàn, các loài cây bản địa, Tre mét
+ Sông suối, núi đá và các loại đất khác: 10.656,0 ha chiếm 17,55 %
diện tích tự nhiên.
Nhìn chung, các loại đất nghèo NPK, thành phần cơ giới thịt trung bình.
Đất trống có hiện tợng xói mòn rửa trôi mạnh, nhiều nơi trơ sỏi đá, nên việc
Do vị trí địa lý và điều kiện địa hình, tác động của con ngời, rừng tự
nhiên trên địa bàn nghiên cứu có một kiểu rừng là kiểu rừng kín thờng xanh
ma ẩm nhiệt đới (kiểu rừng phụ thứ sinh), ở độ cao dới 700 m so với mực nớc
biển. Với 1.135,4 ha rừng, phân bố chủ yếu xung quanh hồ Vực Mấu. Kiểu
rừng này mới đợc thay thế cho rừng nguyên sinh qua quá trình khai thác kiệt,
phát nơng làm rẫy. Có trữ lợng thấp nhng thành phần loài khá đa dạng về
thành phần loài, trong đó có nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao, nguồn gen
quý hiếm, gồm có các loài cây nh: Giẻ xanh (họ Giẻ); Giổi xanh (họ Ngọc lan
- Mangnoliaceae); Săng lẻ (họ Săng lẻ - Lythaceae); Máu chó lá to (họ Máu
21
chó - Myristicaceae); Trám (họ Trám - Burseraceae); Lim xanh, Lim xẹt (họ
Vang - Caesalpiniaceae); Trai lý ( họ Măng cụt- Clusiaceae) Chò chỉ (họ Dầu -
Dipterocarpaceae); Màng tang (họ Re - Lauraceae); Kim giao (họ Kim giao -
Podocarpaceae); Ràng ràng mít (họ Đậu - Fabaceae); Lát hoa, Gội tía (họ
Xoan - Meliaceae)
Tổ thành loài trong kiểu rừng này khá phức tạp chịu ảnh hởng của :
+ Thành phần loài trong khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam
Trung Hoa: Tiêu biểu là các loài thuộc họ Dẻ (Fabaceae), họ Re(Lauraceae),
họ Ngọc lan (Mangnoliaceae), Kim giao (họ kim giao - Podocarpaceae).
+ Thành phần loài trong khu hệ thực vật Malaysia - Indonesia tiêu biểu
là các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae).
+ Khu hệ thứ 3 gồm một số đại diện vùng khô ấn Độ - Miến Điện mà
tiêu biểu là các loài cây thuộc họ Bàng (Combretaceae), họ Bông gạo
(Bombacaceae).
Theo kết quả điều tra của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung
Bộ thì rừng tự nhiên của huyện Quỳnh Lu có 72 họ, 202 chi với 403 loài thực
vật bậc cao thuộc hai ngành hạt trần và hạt kín, đợc phân bố nh sau:
- Ngành Thông (Pynopyta): Có 2 họ, 2 chi, 2 loài chiếm 1%.
- Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): Có 70 họ, 200 chi, 401 loài
chiếm 99%.
biểu nh: Hổ mang chúa, Hổ mang, Cạp nong, Cạp nia, Rắn ráo, Trăn đất, Tắc
kè, Ba ba trơn,
+ Lớp Lỡng thê (Amphibia): có 7 loài thuộc Bộ không đuôi (Anura).
Các loài ở đây tiêu biểu nh: ếch đồng, ếch xanh, Chẫu chàng, Cóc tía
Ngoài ra, còn có khu hệ cá nớc ngọt ở các sông suối thuộc phân lớp cá
vây tia (Actinopterygii) nh Bộ cá chép (Cypriniformes) Và một số loài động
vật thuộc ngành không xơng sống, Chim di c, Bò sát, Cá Sống trong các dải
rừng ngập mặn ven biển [14] [16], [19].
2.1.3. Đặc điểm dân sinh - kinh tế - xã hội và nhân văn:
23
2.1.3.1. Dân số và lao động:
Tính đến ngày 31/12/2006, dân số huyện Quỳnh Lu có 75.038 hộ gồm
368.407 nhân khẩu, trong độ tuổi lao động có: 209.770 ngời (nam: 104.445
ngời, nữ :105.325 ngời) chiếm 56,93% dân số.
+ Thành phần dân tộc: Dân tộc kinh chiếm 99,6%, dân tộc Thổ chiếm
0,4% (chỉ có 3 bản dân tộc Thổ ở xã Tân Thắng, 1 bản ở xã Quỳnh Thắng)
+ Mật độ dân số bình quân: 606,87 ngời/ km
2
.
+ Mật độ dân số xã cao nhất: 8.500 ngời/km
2
(xã Quỳnh Long).
+ Mật độ dân số xã thấp nhất: 90 ngời/km
2
(xã Tân Thắng).
Nhìn chung, phân bố dân c trên địa bàn huyện Quỳnh Lu đảm bảo
nguồn nhân lực tại chỗ cho việc phát triển sản xuất lâm nghiệp, và có lợng quỹ
đất để xây dựng rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất, lập các trang trại sản
xuất nông - lâm kết hợp, tạo nguồn thu nhập, việc làm cho ngời dân trong khu
vực, góp phần bảo vệ môi trờng sinh thái cho khu vực [3].
quân từ 700.000đ - 1.000.000 đồng/ngời/tháng. Sản phẩm của các làng nghề
sản xuất ra đa dạng, phong phú, có sức cạnh tranh cao, bớc đầu đã chiếm lĩnh
thị trờng trong và ngoài tỉnh, giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, góp
phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đang dần trở thành nghề chính, đem lại thu
nhập cao cho ngời lao động.
+ Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghịêp theo giá hiện hành
năm 2006 đạt 1.151.063,0 triệu đồng.
c) Cơ sở hạ tầng chủ yếu:
+ Giao thông:
Quỳnh Lu có tuyến đờng sắt nội tỉnh (Cầu Giát - Nghĩa Đàn) chuyên
vận chuyển khoáng sản, NLG Đợc đấu nối vào tuyến đờng sắt xuyên Việt đi
qua với 2 ga Hoàng Mai và Cầu Giát. Đờng bộ có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 48.
Hệ thống đờng giao thông nội vùng, đợc xây dựng và phân bố tơng đối đều,
rất thuận tiện trong việc vận chuyển, trung chuyển hàng hóa giữa đờng sắt với
đờng bộ. Ngoài ra còn có đờng biển, đờng sông dễ dàng lu thông hàng hóa với
bên ngoài. Nh vậy, giao thông của huyện Quỳnh Lu cơ bản đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của địa phơng.
25