BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CHUYÊN ĐỀ
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CÁC NỘI DUNG CẦN PHẢI HƯỚNG DẪN
TRONG NGHỊ ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Thuộc Dự án: Kinh nghiệm quản lý đất đai quốc tế và giải pháp để hoàn thiện hệ
thống pháp luật và công cụ quản lý đất đai nhằm phát triển thị trường bất động
sản tại Việt Nam.
Hà Nội, năm 2012
MỤC LỤC
vực đất đai 40
1.2. Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong công tác xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai 44
2
2. Quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai 45
3. Những nội dung cần quy định trong Nghị định để hướng dẫn quy định về xử phạt
vi phạm hành chính của Luật đất đai 47
3.1. Về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 47
3.2. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 47
3.3. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 47
3.4. Hình thức và mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất 47
3.5. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 48
3.6. Về thủ tục xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và
việc thi hành quyết định xử phạt 48
KẾT LUẬN 48 3
CHUYÊN ĐỀ 01
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CÁC NỘI DUNG CẦN PHẢI HƯỚNG DẪN
TRONG NGHỊ ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá; là tư liệu sản xuất đặc biệt
hành chính còn có hạn chế, bất cập, chưa đầy đủ, có quy định chưa hợp lý nên tính
khả thi chưa cao.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “nghiên cứu, đề xuất các nội dung cần phải
hướng dẫn trong Nghị định liên quan đến xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất
đai” là rất cần thiết và cấp bách nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai nói
chung và các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói
riêng, đặc biệt trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2003 đang được sửa đổi, bổ sung.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong
đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm
hình sự nhưngvi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
cho lợi ích của nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của
toàn thể cộng đồng; là nguyên nhân, tiền đề dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp
thời. Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm
này, đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tạo
cơ sở cần thiết để quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng chống một cách có
hiệu quả đối với các vi phạm hành chính, cần thiết phải đưa ra một định nghĩa
chính thức về vi phạm hành chính.
Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu chung là
“các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các
5
chế tài hành chính”
1
. Cụ thể:
Pháp lệnh của Hội đồng bangMilaca, Minnesota, Hoa Kỳ định nghĩa vi phạm
“Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ
chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi
phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là
tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Cũng có quan điểm hiện nay cho rằng nhiều vi phạm hành chính ngày nay có
lẽ còn nguy hiểm hơn nhiều lần một tội phạm nặng nhất như giết người, vì chúng
giết môi trường sống của con người, tức là gián tiếp, có khi là trực tiếp giết nhiều
người và hủy hoại môi trường sống của nhiều thế hệ mai sau. Vì vậy, “vi phạm
hành chính ở nước ta là loại hành vi gây bất ổn cho xã hội rất lớn, gây nguy hiểm
cho xã hội rất lớn so với nhiều nước”
2
.
Tuy nhiên về mặt lý luận chung, các nhà khoa học pháp lý đều thừa nhận:
“Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi
cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà
nước mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo
quy định của pháp luật”
3
.
1.1.2. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Là một lĩnh vực của quản lý hành chính Nhà nước, quản lý hành chính nhà
nước về đất đai đã và đang gặp phải nhiều vi phạm hành chính như không đăng ký
quyền sử dụng đất, thực hiện không đúng trình tự thủ tục hành chính do pháp luật
đất đai quy định, hủy hoại đất, lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái
phép…. Những hành vi này đã gây nên những bức xúc lâu dài, không chỉ ở những
đô thị lớn mà ở hầu hết mọi nơi trên lãnh thổ nước ta.
Việc xác định khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có ý
nghĩa rất quan trọng để phân biệt giữa nó với các loại vi phạm pháp luật khác, từ đó
giúp ta có thể xác định được khi nào một hành vi bị coi là vi phạm hành chính. Hơn
số 182/2004/NĐ-CP) đã sửa lại khái niệm trên như sau:
“Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định
này là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định
của pháp luật về đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt hành chính.”
Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi là Nghị định số
105/2009/NĐ-CP) đã sửa đổi, bổ sung thêm chủ thể vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai:
“Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định
này là hành vi cố ý hoặc vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có
liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của
4
Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
8
pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.”
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Để quản lý xã hội nhà nước ban hành pháp luật để điều chỉnh những mối
quan hệ nhất định; buộc các chủ thể phải tuân theo những khuôn mẫu, những quy
tắc cụ thể, nghĩa là phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật dưới hình thức xác
lập các quyền và nghĩa vụ. Nhưng trong quá trình thực hiện, không phải lúc nào các
chủ thể cũng tuân thủ, làm đúng theo những quy định đó, thậm chí còn làm trái,
làm ngược lại hoặc không làm theo những quy định do nhà nước đặt ra tức là có
hiện tượng vi phạm pháp luật. Trong các loại vi phạm pháp luật thì vi phạm hành
chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng là loại vi
phạm tương đối phổ biến. Để có thể xác định rõ các loại vi phạm này và đề ra biện
pháp xử lý đúng đắn chúng ta cần phải nắm được các dấu hiệu pháp lý của chúng
việc xác định vi phạm hành chính đối với các tổ chức và cá nhân.
Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách
quan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp
luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác. Những yếu
tố khác thông thường có thể là: thời gian thực hiện hành vi vi phạm; địa điểm thực
hiện hành vi vi phạm; công cụ phương tiện vi phạm; hậu quả và mối quan hệ nhân
quả.
Trong các trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
vi phạm hành chính với thiệt hại cụ thể đã xảy ra là cần thiết để bảo đảm nguyên
tắc cá nhân, tổ chức chỉ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do chính hành vi
của mình gây ra. Nhìn chung hậu quả của vi phạm hành chính không nhất thiết là
thiệt hại cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hành vi của tổ chức, cá nhân bị
coi là vi phạm hành chính chỉ khi hành vi đó đã gây ra những thiệt hại cụ thể trên
thực tế.
b) Dấu hiệu trong mặt chủ quan
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính là dấu hiệu
lỗi của chủ thể vi phạm. Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với
hành vi trái pháp luật của mình
6
. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi, thể
hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý, nói cách khác, người thực hiện hành vi này
phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình
nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được điều đó hoặc nhận
thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện vi phạm. Nếu xác định rằng chủ thể thực
6
Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, tr. 348, Nxb Tư pháp, Hà
Nội.
10
hiện hành vi khi không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính
11
trong trường hợp thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy khi xác định người ở độ tuổi này
có vi phạm hành chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của
họ. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi
cố ý hoặc vô ý trong vi phạm hành chính. Tuy nhiên trong thực tiễn thường quan
niệm người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi
trường hợp.
- Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: các cơ quan nhà nước, các
tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và
các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật.
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy
định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc tham gia có quy định khác.
d) Dấu hiệu về khách thể
Vi phạm hành chính cũng như các vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến
các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi
phạm hành chính là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính
nhà nước đã được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ. Nói cách khác vi phạm
hành chính là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trên các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy tắc về quản lý và sử dụng đất đai, an
toàn giao thông, quy tắc về an ninh trật tự, an toàn xã hội Điều đó đã được quy định
cụ thể trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Là một lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước, các dấu hiệu pháp lýcủa
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai cũng bao gồm các yếu
tố giống như các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính nói chung.
a) Dấu hiệu về mặt khách quan
.
Bởi vì, Luật Đất đai điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong
quá trình sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai, trong đó, Nhà nước là chủ thể duy
nhất có quyền đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý thống nhất đối với
toàn bộ đất đai. Vì thế mọi hành vi làm xâm hại đến quyền và ích của Nhà nước đều
7
C. Mác và Ph. Ăng ghen (1980), Tuyển tập, tập 1, tr.19, Nxb Sự thật, Hà Nội.
8
Trịnh Mai Huyền (2002), Một số vấn đề về vi phạm và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử
dụng đất đai, Luận Văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
13
là hành vi vi phạm pháp luật
9
. Hơn nữa, đất đai là một tài sản đặc biệt mang tính tự
nhiên.Thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra nhiều khi không biểu hiện rõ ràng nhưng
có thể để lại hậu quả rất nghiêm trọng và việc khắc phục hậu quả không chỉ thực
hiện trong những khoảng thời gian cụ thể.
b) Dấu hiệu về mặt khách thể
Khách thể của các vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là những quan hệ
đất đai được các quy phạm pháp luật đất đai bảo vệ. Khách thể là yếu tố quan trọng
quy định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật.
Trong các văn bản pháp luật đất đai có định nghĩa về vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai nhưng không chỉ rõ khách thể vi phạm
mà chỉ nêu tính chất trái pháp luật của hành vi như “vi phạm các quy định của pháp
luật về đất đai”. Tuy nhiên, từ các quy định của pháp luật đất đai có thể thấy rằng
các quan hệ pháp luật đất đai bị vi phạm hành chính xâm phạm bao gồm: “quyền
hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống
nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của
vực đất đai hoặc thậm chí có thể là các tổ chức khác có liên quan.
Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để
hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân
sự thuộc các lĩnh vực này (Điều 106 Bộ luật Dân sự 2005). Trên cơ sở đó, Luật Đất
đai coi hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Vì vậy, Hộ gia đình có thể là một
trong những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Theo quy định tại Điều 2 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11
năm 2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, cơ sở tôn giáo có
hành vi phạm vi phạm hành chính trong sử dụng đất đai sẽ là chủ thể của vi phạm
hành chính. Trước đó, cơ sở tôn giáo không phải là chủ thể của vi phạm hành
chính.
Ngoài ra, có một điểm đáng lưu ý đó là cộng đồng dân cư là chủ thể của quan
hệ pháp luật đất đai nhưng lại không phải là chủ thể của vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai. Có lẽ nhà làm luật cho rằng cộng đồng dân cư gồm rất nhiều người
nên khi họ vi phạm thì sẽ khó có thể áp dụng trách nhiệm xử phạt vi phạm hành
chính. Trong trường hợp đó, trách nhiệm xử phạt sẽ áp dụng đối với cá nhân có
hành vi vi phạm.
d) Dấu hiệu về mặt chủ quan
Cũng giống như vi phạm hành chính nói chung, pháp luật đất đai quy định
người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai bắt buộc phải có
lỗi mới phải chịu trách nhiệm. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP quy
15
định gián tiếp về lỗi của chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là
“hành vi cố ý hoặc vô ý”. Như vậy, Lỗi của người vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Mặc dù, pháp luật đất đai không định
nghĩa về lỗi nhưng trong khoa học pháp lý đã định nghĩa rất rõ các loại lỗi:
- Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây
ra và mong muốn điều đó xảy ra;
và mức độ của lỗi để có thể tìm ra điểm khác biệt trong hành vi vi phạm hành chính
và tội phạm. Chỉ khi đó, đối chiếu với các quy định tương ứng của pháp luật mới có
thể giải quyết được vấn đề tính chất của vi phạm pháp luật và áp dụng hình thức
trách nhiệm pháp lý phù hợp. Mặc dù vậy, căn cứ vào những dấu hiệu cơ bản nhận
biết vi phạm hành chính và tội phạm, chúng ta có thể phân biệt được 2 loại hành vi
này bởi các yếu tố sau đây:
Trước hết, cần thấy rằng, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và tội
phạm có những điểm rất giống nhau thể hiện ở chỗ chúng đều là những vi phạm
pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân, gây ảnh hưởng
xấu đến đời sống xã hội; là biểu hiện tiêu cực cần phải loại trừ.
Điều đáng lưu ý hơn nữa là vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và tội
phạm trong lĩnh vực này rất gần nhau, trong nhiều trường hợp giữa vi phạm hành
chính và tội phạm hình sự chỉ là một ranh giới mỏng manh mà vượt qua nó là vi
phạm hành chính có thể chuyển hóa thành tội phạm hình sự trong những điều kiện
nhất định. Những điều kiện đó là: tái phạm, vi phạm nhiều lần, vi phạm với số
lượng lớn hoặc diện tích lớn, có tổ chức, vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng
Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai đều có thể chuyển hóa thành tội phạm. Chỉ những hành vi được quy định tại
Điều 173 và 174 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mới là tội phạm trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng đất đai.
Bên cạnh những điểm giống nhau, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
và tội phạm trong lĩnh vực này có khá nhiều điểm khác biệt nhau thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất,vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có mức độ nguy hiểm cho
xã hội thấp hơn so với tội phạm và do đó các hình thức xử phạt hành chính cũng ít
nghiêm khắc hơn so với hình phạt áp dụng đối với tội phạm.
Như vậy, giữa tội phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai luôn có
17
một ranh giới - đó chính là mức độ nguy hiểm cho xã hội. Đây có thể coi là điểm
cơ bản, mấu chốt nhất để phân biệt giữa vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
18
đất đai
2.1. Trách nhiệm hành chính đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Khi một tổ chức hay cá nhân thực hiện hành vi vi phạm phạm pháp luật, về
nguyên tắc nhà nước sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định.
Việc làm này nhằm mục đích khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm, đồng
thời giáo dục tổ chức, cá nhân vi phạm cũng như của toàn thể cộng đồng ý thức
tuân thủ pháp luật. Thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” có thể được hiểu theo những
nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý thuật ngữ này được hiểu là hậu
quả pháp lý bất lợi mà nhà nước buộc tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể:
“Trách nhiệm pháp lý là trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp luật,
thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp
luật, được pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm
pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng
chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật”
11
.
Hậu quả pháp lý bất lợi mà tổ chức, cá nhân vi phạm phải gánh chịu thể hiện
ở việc họ bị buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài đã được quy định trong pháp
luật. Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách nhiệm pháp
lý nhất định. Trách nhiệm hành chính được đặt ra đối với tổ chức, cá nhân thực
hiện vi phạm hành chính. Vì vậy, nói khái quát, trách nhiệm hành chính là hậu quả
pháp lý bất lợi mà nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực
hiện vi phạm hành chính. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cũng là một
dạng vi phạm hành chính nói chung. Vì vậy, người có hành vi làm trái với các quy
định của pháp luật đất đai về chế độ quản lý, sử dụng đất, phá vỡ trật tự quản lý đất
đai sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính về hành vi của mình. Trách nhiệm hành
chính đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đây là hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với chủ thể vi
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và lý luận về lĩnh vực này
chỉ đề cập đến trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, theo quy
định của pháp luật đất đai trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai đặt ra đối
với cả cá nhân, tổ chức, hộ gia đình và cơ sở tôn giáo. Đây là điểm khác biệt giữa
trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai với các lĩnh vực khác và trách nhiệm
hình sự.
Thứ hai, trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai là trách nhiệm pháp
lý của chủ thể vi phạm hành chính trước Nhà nước
Chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã xâm hại đến trật tự
20
quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai do Nhà nước thiết lập. Nhà
nước buộc chủ thể này phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ trật
tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai đã được thiết lập ra. Do vậy,
việc phải thực hiện biện pháp chế tài của chủ thể vi phạm hành chính là trách
nhiệm của họ trước Nhà nước chứ không phải trước một tổ chức hay cá nhân cụ thể
nào trong xã hội. Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính nói chung và
trong lĩnh vực đất đai nói riêng đối với trách nhiệm dân sự. Trong trách nhiệm dân
sự, việc phải thực hiện các biện pháp chế tài của tổ chức, cá nhân bị truy cứu trách
nhiệm dân sự là nghĩa vụ của họ trước một tổ chức, cá nhân cụ thể có các quyền,
lợi ích dân sự bị xâm hại. Trong trường hợp này Nhà nước là người đảm bảo việc
thực hiện đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự của tổ chức, cá nhân vi phạm đối với
bên bị vi phạm.
Thứ ba,việc truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực đất đai được
thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính và pháp luật đất đai.
Đặc điểm này biểu hiện cụ thể ở những nội dung dưới đây:
Một là, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với người vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai pháp luật hành chính và pháp luật đất đai đã xác
định cụ thể những người có thẩm quyền thực hiện hoạt động này. Đáp ứng nhu cầu
xử lý nhanh chóng, khắc phục kịp thời hậu quả do hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai gây ra, thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính trong
Trên cơ sở các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, các
nhà khoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm xử phạt vi phạm hành chính như sau:
“Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm
quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm
hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các
biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo
quy định của pháp luật) đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành
chính.”
12
.
Trên cơ sở khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính nói chung trên tác giả
cho rằng:
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hoạt động của chủ
thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật về xử lý vi
12
Trường đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, tr. 314, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội.
22
phạm hành chính và pháp luật đất đai, quyết định áp dụng các biện pháp
xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực đất đai có đặc điểm sau:
Thứ nhất, xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ
chức, hộ gia đình, cơ sở tôn giáo vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
đất đai. Nói cách khác, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là cơ sở để tiến
hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
và Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt hành chính áp
dụng đối với người vi phạm hành chính là những cơ sở pháp lý quan trọng để tiến
hợp với lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, Điều 38 của Luật Đất đai năm
2003 có quy định mười hai (12) trường hợp thu hồi đất, trong đó có một số trường hợp
thu hồi đất mang tính chất chế tài để xử lý các vi phạm do người sử dụng đất gây ra đó
là:
- Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp: Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; Đất
không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 mà
người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng
liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền;
đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được
sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai
mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất
trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất,
cho thuê đất đó cho phép.
Theo chúng tôi việc nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp trên có thể coi
là biện pháp xử lý hành chính khác đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai. Bởi lẽ, các biện pháp này được thu hồi trên cơ sở kết luận thanh tra theo trình
tự thủ tục quy định tại Điều 132 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP. Mặt khác, Điều 28
24
của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP cũng quy định rõ trách nhiệm của người có thẩm
quyền xử phạt khi xử lý vi phạm hành chính mà vi phạm hành chính đó thuộc trường
hợp phải thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai:
- Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện đồng thời việc xử phạt vi
phạm hành chính và việc thu hồi đất;
- Người có thẩm quyền xử phạt nhưng không có quyền thu hồi đất thì thực