nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện tân sơn - tỉnh phú thọ, giai đoạn 2011 - 2020 - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT NỘI DUNG
CƠ BẢN QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN TÂN SƠN
TỈNH PHÚ THỌ, GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Sỹ Trung
THÁI NGUYÊN - 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp trong chương
trình đào tạo Thạc sỹ Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại Khoa đào tạo Sau đại
học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp
đỡ quý báu của các thầy, cô giáo, các cơ quan, đơn vị, các đồng nghiệp, bạn bè và
gia đình.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học và toàn thể giáo viên trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo.
- PGS. TS. Lê Sỹ Trung là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên
và Môi trường, Uỷ ban nhân dân huyện Tân Sơn, các phòng ban của huyện, Hạt
Kiểm lâm Tân Sơn, các lâm trường, trại, trung tâm, xí nghiệp giống lâm nghiệp
đóng trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã tạo mọi điều kiện để tôi thu thập
tài liệu, hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình
đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thiện luận văn. Chắc chắn
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong muốn nhận được những ý kiến
đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cám ơn !
Phú Thọ, ngày 20 tháng 8 năm 2011
Học viên
Nguyễn Anh Tuấn


5
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
6
1.1.2. Quy hoạch cảnh quan
7
1.1.3. Quy hoạch lâm nghiệp
8
1.2. Việt Nam
10
1.2.1. Quy hoạch cảnh quan, sinh thái
10
1.2.2. Quy hoạch vùng chuyên canh
12
1.2.3. Quy hoạch lâm nghiệp
13
1.2.3.1. Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
14
1.2.3.2. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
15
1.2.3.3. Quy hoạch ở Phú Thọ và huyện Tân Sơn
18
Chƣơng II: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
21
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
21
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
21
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
21
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.4.4. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
23
Chƣơng III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
26
3.1. Những căn cứ pháp lý quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện
26
3.2. Đánh giá điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên
27
3.3. §¸nh gi¸ thùc tr¹ng ph¸t triÓn kinh tÕ-x· héi
32
3.4. §¸nh gi¸ hiÖn tr¹ng sö dông ®Êt
38
3.5. Đánh giá hiện trạng rừng và kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp
41
3.6. Dự báo các yếu tố tác động đến công tác bảo vệ và phát triển rừng.
57
3.7. Đề xuất quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020.
62
3.8. Phân kỳ quy hoạch và tiến độ thực hiện
86
3.9. Các giải pháp thực hiện
86
3.10. Dự tính vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư
90
Chƣơng 4: KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ
95
4.1. Kết luận
95
4.2. Những tồn tại mà đề tài chưa giải quyết được trong quy hoạch
96

NN
: Nông nghiệp
NLN
: Nông lâm nghiệp
SXLN
: Sản xuất lâm nghiệp
QH
: Quy hoạch
PCCCR
: Phòng cháy chữa cháy rừng
SXNN
: Sản xuất nông nghiệp
VQG
: Vườn Quốc gia
DDNN
: Doanh nghiệp nhà nước
HGĐ
: Hộ gia đình
ĐD
: Đặc dụng
PH
: Phòng hộ
SX
: Sản xuất
BPKT
: Biện pháp kỹ thuật
NN & PTNT
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CNQSDĐ
: Chứng nhận quyền sử dụng đất

Bn quy hoch bo v v phỏt trin rng huyn Tõn Sn

S Venn - Mi quan h gia Lõm nghip vi cỏc ngnh khỏc
40
Hỡnh 1: Hin trng cỏc loi t
39
Hỡnh 2: Din tớch cỏc loi rng
41
Hỡnh 3: Din tớch t lõm nghip theo ch qun lý
45
Hỡnh 4: Din tớch t trng theo 3 loi rng
46
Hỡnh 5: Bin ng din tớch t lõm nghip giai on 2006-2010
49
Hỡnh 6: So sỏnh trc v sau quy hoch s dng t
67
Bảng 3.1. Diễn biến thời tiết qua các năm
28
Bảng 3.2. Các loại đất huyện Tân Sơn
29
Bảng 3.3. Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Tân
Sơn
30
Bảng 3.4. Cơ cấu kinh tế huyện qua một số năm
32
Bảng 3.5. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản 2008-2010
33
Bảng 3.6. Lao động huyện Tân Sơn 2008-2010
34

68
Bảng 3.20. Quy hoạch theo chủ quản lý huyện Tân Sơn
70
B¶ng 3.21: Qui hoạch các biện pháp quản lý rừng
71
B¶ng 3.22: Tính giá trị thương mại gỗ nguyên liệu Keo
78
B¶ng 3.23. Đề xuất tập đoàn cây trồng cho rừng sản xuất
79
Bảng 3.24: Đề xuất tập đoàn cây trồng phân tán
80
B¶ng 3.25: Diện tích, sản lượng khai thác rừng huyện Tân Sơn
81
B¶ng 3.26: Dự kiến hạng mục đầu tư phòng cháy chữa cháy rừng
82
B¶ng 3.27. Phân kỳ quy hoạch phát triển lâm nghiệp
huyện Tân Sơn
86
B¶ng 3.28. Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế
92

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

viii

tính bền vững trong quản lý rừng thấp, là một trong những nguyên nhân làm cho
rừng suy giảm cả về diện tích và chất lượng.
Huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ là huyện có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, với
quỹ đất lâm nghiệp lớn (chiếm 88,7% diện tích tự nhiên); có nguồn nhân lực dồi dào,
người dân có kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ chức quản lý, thâm canh rừng theo hướng
tập trung với quy mô lớn; đây cũng là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

2
tư; cơ chế quản lý ngày càng hoàn thiện; thông qua các chương trình, dự án đã có
những chính sách hỗ trợ cụ thể cho phát triển lâm nghiệp.
Trong những năm qua, bảo vệ và phát triển rừng là điều kiện quan trọng phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn miền núi, đóng góp vào sự phát triển kinh tế
chung của huyện và tỉnh; đã hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến;
năng suất, chất lượng và độ che phủ rừng không ngừng được nâng lên, năm 2010
đạt 73,2%. Rừng đã đóng góp tích cực vào phòng chống thiên tai, bảo vệ môi
trường sinh thái, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện và nâng cao đời
sống người dân. Do đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tân Sơn xác định: phát
triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển rừng là một trong những chương trình kinh tế
trọng điểm của huyện.
Thực hiện việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg
của Thủ tướng Chính Phủ, nhằm cân đối lại cơ cấu 3 loại rừng trong đất lâm nghiệp
để phát huy tối đa về hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp. Kết quả rà
soát đã làm thay đổi quy mô, vị trí, diện tích 3 loại rừng, dẫn đến việc thay đổi kế
hoạch hàng năm trong công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Những
thay đổi trên đòi hỏi phải xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch và triển khai phương án
quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học phù hợp với thực tế, góp phần tăng

Việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững nói chung
và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang được các nhà khoa học trong nước và trên
thế giới quan tâm.
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch lâm nghiệp sao cho hợp lý đã được
nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau. Việc đưa ra một khái
niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái niệm
cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền
vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng phải được xem xét một
cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững.
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệ
môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân văn. Quá trình
phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới luôn gắn liền với lịch
sử phát triển của xã hội loài người. Quy hoạch lâm nghiệp luôn phụ thuộc vào Quy
hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch
1.1.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển
lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

4
- Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của
một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó được
phát triển đến mức độ nào”
- Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh
tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”. Vì vậy,
nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho một vùng

đây rất ít.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can
thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng
có sự tác động của con người.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can
thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
+ Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
b. Nội dung của quy hoạch
Quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể thiện quy hoạch chi tiết các liên hiệp
nông - công nghiệp và giải quyết các vấn đề sau:
- Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo ngành dọc.
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất.
- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong
phạm vi hệ thống nông thôn.
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao động
ăn, ở, nghỉ ngơi.
1.1.1.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp
Trong mô hình quy hoạch vùng ở Pháp, người ta đã nghiên cứu hàm mục
tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ
với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch
tuyến tính có cấu trúc như sau:
a) Các hoạt động sản xuất
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt
công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển
(truyền thống).
- Hoạt động khai thác rừng.
phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương.
Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp
chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

7
xây dựng ở 2 vùng: Trung tâm và Đông Bắc. Trong 30 năm (1961 - 1988 và 1992 -
1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6
%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ
thuật, nông nghiệp, thị trường [24].
1.1.2. Quy hoạch cảnh quan
Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ một
quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó, chúng
mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất
đó. Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải theo 3 cách:
- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh”.
Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong cảnh)
- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật,
địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu. Khái niệm cảnh quan này rất gần
gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa.
- Cảnh quan sinh thái học. Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau
trong một không gian. Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ở
liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinh
đặc điểm nhất định trong một không gian.
Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnh
núi, hồ, biển hay đất liền. Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thôn
hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó.

khoa học gồm Simpson, Shannnon - Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về
chỉ số đa dạng sinh học. Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh giá đa dạng cảnh
quan sinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan.
1.1.3. Quy hoạch lâm nghiệp
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư
bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối
lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ
phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất
lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có
ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các
chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình
thành trong hoàn cảnh như vậy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

9
Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “
Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên
rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân
chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ cho phương thức
kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.
Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 Phương thức kinh doanh rừng
chồi được thay bằng Phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài. Và
phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia
đều” của Hartig. Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng
và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm 1816, xuất hiện Phương
thức luân kỳ lợi dụng của H. Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi
dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm.

chí “East African Journal for Agriculture Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy
hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi. Năm1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học
Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và
ứng dụng trong qui hoạch sử dụng đất.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Quy hoạch cảnh quan là một qúa trình xây dựng kế hoạch quản lý đất đai cho
một vùng đất trên cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan, nghiên cứu đến thế giới sinh
vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay trong Cảnh quan đó.
Con người là một thành phần của thiên nhiên, tác động của con người tới
thiên nhiên là một yếu tố then chốt ảnh hưởng tới các chức năng của Cảnh quan.
Sinh thái cảnh quan giúp xác định những khiếm khuyết của chúng ta trong quá khứ,
và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có thể đáp ứng nhu cầu
của con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững tới các hệ sinh thái tự
nhiên. Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ các thành phần chủ yếu của
hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển động sống và … Một mục tiêu
khác là hướng các hoạt động của con người khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái.
Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch cảnh
quan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau
Thành phần chính của cảnh quan có thể chia thành 2 loại là tự nhiên/sinh
thái, như rừng, sông hồ và nhân tạo như đất canh tác, thôn bản vv Các yếu tố cảnh
quan nhân tạo lại có thể chia thành các yếu tố sản xuất, văn hóa, lịch sử vv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

11
Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai thành
phần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến trúc luôn


12
Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu
Long)[10].
- Các mô hình quy hoạch cảnh quan trong lâm nghiệp có: Quy hoạch không
gian Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang - Hà Tĩnh. Quy hoạch không gian Vườn quốc
gia Bến En - Thanh Hóa Trong các phương án quy hoạch cho các khu rừng đặc dụng
này đã đề xuất và chấp nhận sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ ,
vì vậy đã nâng cao được nhận thức, hạn chế xung đột giữa hoạt động của con người với
nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học.
- Gần đây (tháng 10/2009), với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), tại
Thừa Thiên Huế đã tiến hành hội thảo quy hoạch cảnh quan cho 7 xã thuộc 3 huyện.
Các vấn đề nêu ra tại hội thảo đang còn là bước đi đầu tiên trong việc tiếp cận một
cách nhìn mới trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp (QHSDĐLN), thậm chí mới
dừng lại ở phương pháp QHSDĐLN có sự tham gia của cộng đồng dân cư và cấp
chính quyền sở tại
Vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy hoạch cảnh quan vào
trong QHSDĐLN là vấn đề tương đối mới lạ, mặc dù công tác quy hoạch SDĐLN
đã và đang thực hiện đều trên cơ sở đề cập và phân tích đầy đủ các yếu tố tự nhiên,
kinh tế- xã hội.

1.2.2. Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh
lúa nước ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long; các vùng cây công
nghiệp ngắn ngày: Vùng Mía đường (Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Nghệ An); Vùng
cây công nghiệp dài ngày: Vùng Cao su - Cà phê (Tây Nguyên ), Vùng Chè công
nghiệp (Thái Nguyên ) vv
a) Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và
những vùng có khả năng hợp tác kinh tế.

xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi. Điều chế rừng Thông theo
phương pháp hạt đều
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên
rừng. Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc. Mãi đến năm
1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng miền Bắc. Từ năm 1965
đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng.
Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

14
các Sở Lâm nghiệp (nay Sở Nông nghiệp & PTNT) không ngừng cải tiến phương
pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ
và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các
nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn
nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên
rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa
nghiên cứu áp dụng [21].
Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 một
trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác quy hoạch
nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy
hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi. Chưa
quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực
địa ”
[10
]. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra ngày càng phải được hoàn thiện đối với
ngành lâm nghiệp.
1.2.3.1. Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp

trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp khai thác lợi dụng rừng).
- Tính toán nhu cầu đầu tư: Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán
nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở
những bước tiếp theo.
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải
pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp về vốn, lao động )
- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng,
tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là
lập Dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi[21
].

1.2.3.2. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
1) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch tổng
công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy hoạch lâm
nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ; quy hoạch
các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho các
cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình). Các nội dung quy hoạch
lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

16
cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà
lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp [21].
2) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính:
Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố trực thuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status