Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ nông nghiệp và PTNT
Tr-ờng đại học lâm nghiệp
--------------------------------------------
Hoàng văn thắng
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng
hỗn loài cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở
Ngọc Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú thọ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
TS. Võ Đại Hải
Hà Tây - Năm 2007
3
Chương 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Trên thế giới
Kinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới cho
thấy do rừng trồng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nước trên
thế giới đã quan tâm nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài
giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ chế
cạnh tranh sinh học của thực vật [39]. Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn loài
giữa Quercus và Fraxinus, tác giả JB. Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh
trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài. Ngoài ra,
khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng)
hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng của Quercus tốt hơn [36].
Kết quả nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài các tác giả trên đều cho rằng
việc bố trí các loài cây trong mô hình rừng trồng hỗn loài thường có ảnh
hưởng tới sinh trưởng của chúng tùy theo số cá thể và cự ly trồng từng loài.
Kolexnitsenko (1977) khi nghiên cứu về sự phối hợp giữa các loài cây gỗ
trong trồng rừng hỗn loài đã đúc kết được 5 nguyên tắc lựa chọn loài cây
trồng, đó là:
Nguyên tắc kinh nghiệm.
Nguyên tắc kiểu lâm hình học.
Nguyên tắc lý sinh.
Nguyên tắc sinh vật dinh dưỡng.
Nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ.
Có thể nói đây là những nguyên tắc rất cơ bản và tương đối toàn diện về
các lĩnh vực của rừng trồng hỗn loài. Để xây dựng thành công các mô hình
rừng trồng hỗn loài cần phải dựa vào 5 nguyên tắc trên. Trong đó nguyên tắc
cảm nhiễm tương hỗ là rất quan trọng và phải cần có thời gian dài nghiên cứu.
Nhìn chung, các nguyên tắc này phản ánh được mối quan hệ bên trong và có
tính chi phối tới sự tồn tại và sinh trưởng của các loài. Sự phân loại theo đặc
5
điểm hoạt hóa của chúng như kích thích, ức chế hoặc kìm hãm quá trình sống
thông qua ảnh hưởng của phitonxits là căn cứ để quyết định tỷ lệ tổ thành các
loài cây trong lâm phần hỗn loài. Nghiên cứu về vấn đề này tác giả
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán. Vì thế
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nước trên thế giới
quan tâm. Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài tác giả
Bernar Dupuy (1995) thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ
thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâm
phần [35]. Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có
cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa
vào đặc tính sinh trưởng cũng như phải quan tân đến mối quan hệ qua lại giữa
các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là những cơ sở
quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng
trồng hỗn loài.
Dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạo
rừng hỗn loài nhiều tầng bằng nhiều phương thức khác nhau. Tuỳ theo các đối
tượng khác nhau là rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng 10-15 tuổi hay rừng Keo
tai tượng 2-3 tuổi mà mở các băng chặt và chừa khác nhau. Chiều rộng băng
chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng). Thời gian đưa các
loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt cũng rất khác nhau, từ
1-7 năm sau khi mở băng chặt. Các loài cây bản địa đưa vào trồng trong các
băng chặt tương đối phong phú, từ 14-23 loài cây khác nhau với số hàng từ 3
đến 16 hàng. Kết quả cho thấy trong các loài cây bản địa được trồng trong các
băng có 3 loài cây có sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất là S.
roxburrghii; S. ovalis; S. leprosula. Sinh trưởng chiều cao của các loài cây
trồng trong băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m. Khu trồng theo hàng có sinh
trưởng chiều cao tốt nhất ở công thức trồng 1 hàng Keo xen 1 hàng cây bản
địa. Dự án còn đưa ra kế hoạch điều chỉnh quá trình sinh trưởng của các mô
hình thí nghiệm theo 8 thời điểm từ 2 - 47 năm sau khi trồng [41]. Như vậy,
7
8
họ Dầu. Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các
loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả về loài cây và diện tích trồng
rừng. Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn để
nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước. Các loài cây lá rộng bản địa
được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị
kinh tế cao. Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây Nguyên và
Nam Bộ là Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe, Xà cừ, Tếch,... và được trồng chủ yếu tại
các trạm thực nghiệm Trảng Bom, Lang Lanh, Ekmat, Măng Linh, Tân Tạo. ở
Miền Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là Lim
xanh, Lim xẹt, Giổi xanh, Re gừng, Mỡ, Bồ đề, Lát hoa, Ràng ràng mít, Lim
xẹt, Xoan đào, Vạng trứng,... và được trồng chủ yếu ở Cầu Hai (Phú Thọ),
Hữu Lũng (Lạng Sơn), Tân Lạc (Hoà Bình).
Tổng kết các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay Bộ NN&PTNT
(2005) đã đưa ra được danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất
theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp, bao gồm cả các loài cây bản địa và cây nhập
nội, trong đó có nhiều loài cây có thể trồng hỗn loài với nhau [3]. Chương
trình 327 và 661 đã đưa ra một bảng danh mục với hơn 60 loài cây phục vụ
cho việc tạo lập các lâm phần rừng trồng trong cả nước. Trần Quang Việt và
cộng sự (1997) đã đánh giá tập đoàn cây trồng trong chương trình 327 trên các
vùng sinh thái trong cả nước và thống kê được 70 loài cây đã được sử dụng
trồng rừng trong Chương trình 327. Theo tác giả Hoàng Hoè và Trần Xuân
Thiệp (1999) thì ở nước ta có khoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội đã và
đang được sử dụng để trồng rừng (dẫn theo Trần Văn Con, 2005) [10]. Như
vậy, việc tạo lập các lâm phần rừng trồng nói chung và các lâm phần rừng
trồng hỗn loài nói riêng ở nước ta đã chọn ra được nhiều loài cây trồng phù
hợp cho các vùng sinh thái trong cả nước. Đó là cơ sở khoa học quan trọng
cho việc xây dựng và nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng ở nước ta.
10
- Năm 1985 các tác giả Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm đã sử
dụng các loài cây Muồng đen, Keo lá tràm, Đậu triều và Keo dậu làm cây phù
trợ để xây dựng rừng trồng hỗn loài Sao đen, Dầu rái, Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe
cung cấp gỗ lớn ở lâm trường La Ngà (Đồng Nai). Các công thức được trồng
hỗn loài theo hàng và theo băng với kích thước các băng chặt, chừa là 10m và
20m. Xen giữa 2 hàng cây trồng chính là các hàng cây phù trợ. Sau một năm
trồng cho thấy cây phù trợ mới chỉ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của các loài
cây trồng chính [13]. Nhìn chung, các thí nghiệm trồng Dầu rái, Sao đen, Gõ
đỏ trên các loại đất xám phù xa cổ thoái hoá ở Trảng Bom, đất ba gian nông
màu đen ở Bàu Cạn, trên đất phiến thạch sét ở Mã Đà (Đồng Nai), đất phù sa
cổ sâu ẩm ở Dương Minh Châu cũng chỉ có nhận xét tương tự.
- Năm 1995 tác giả Phạm Đình Tam đã sử cây Keo lai làm cây phù trợ
để tạo rừng trồng hỗn loài giữa Trám trắng và Lim xẹt ở Bình Thanh - Hoà
Bình [27]. Đến năm thứ 4 Keo lai sinh trưởng nhanh đã bắt đầu che bóng Lim
xẹt và Trám trắng. Hiện tại mô hình đang có sự cạnh tranh mạnh, các loài
Trám trắng và Lim xẹt đang bị Keo lai lấn át nên các loài cây trồng chính
trong lâm phần đều không sinh trưởng phát triển tốt.
- Giai đoạn 1994-1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừng
trồng hỗn loài ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng. Trên đối tượng đất trống,
đồi trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm áo che phủ. Khi
rừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10 loài cây lá
rộng bản địa khác nhau. Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phương pháp
trồng rừng ẩm dưới tàn che nhìn chung là thích hợp cho cả các loài trung sinh
trong giai đoạn 1- 2 năm đầu. Biện pháp lột tán theo định kỳ thích hợp cho
loài chịu bóng mọc chậm như Gội trắng, Giổi xanh, Re gừng nhưng lại cản trở
cây ưa sáng mọc nhanh như: Lát hoa, Sấu, Nhội và Muồng đỏ. Kết quả cũng
Thọ (1962) [15]; nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây trồng
chính, rụng lá mùa khô là Tếch với cây bạn thường xanh là Muồng đen và cây
phù trợ là Đậu tràm ở Tây Nguyên của Nguyễn Xuân Quát (1985-1990) [26];
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa cây lá kim (Thông đuôi ngựa) và cây lá
12
rộng (Keo lá tràm và Bạch đàn trắng) ở Núi Luốt Xuân Mai, Hà Tây của
Phùng Ngọc Lan (1986) [18]; nghiên cứu phương thức trồng hỗn loài Mỡ và
Bồ đề của Ngô Quang Đê (1991); nghiên cứu thiết lập rừng trồng hỗn loài
giữa các loài cây ưa sáng Bạch đàn trắng và Keo lá tràm của Nguyễn Hữu
Vĩnh và các cộng tác viên (1991-1993) [34], Hầu hết các công trình nghiên
cứu này đều áp dụng phương pháp trồng hỗn loài theo hàng hoặc theo băng.
Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy dù được xây dựng
theo phương thức và phương pháp nào thì rừng trồng hỗn loài đều cho năng
suất, chất lượng cao hơn và cải thiện tốt hơn điều kiện đất đai so với rừng
trồng thuần loài.
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng thông qua tạo lập các lâm
phần rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa đã được nhiều tác
giả quan tâm nghiên cứu. Nổi bật là công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùng
Sông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loài
cây khác của Nguyễn Bá Chất (1981-1985). Tác giả đã trồng hỗn loài cây Lát
hoa với các loài cây lá rộng bản địa như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi
thọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý. Mô hình này được
theo dõi đến năm thứ 10 và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài
tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài. Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sử
dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng của các loài
cây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất tốt hơn [7].
Dự án RENFODA (Rehabilitation of Natural Forest in Degraded
thời điểm hỗn loài cũng đã được một số tác giả quan tâm. Tuy nhiên, việc xác
định thời điểm hỗn loài cho các loài cây mục đích chưa được quan tâm nhiều.
Trên thực tế các công trình nghiên cứu xác định thời điểm hỗn loài chủ yếu
vẫn là giữa loài cây phù trợ và các loài cây trồng chính. Thông thường trong
các mô hình trồng rừng hỗn loài trên đối tượng đất thoái hoá thì cây phù trợ
được trồng trước một thời gian tuỳ theo đối tượng đất, sau đó mới đưa các loài
cây mục đích vào trồng.
14
Hiện nay nhiều đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta đã và
đang được nghiên cứu để chuyển hoá thành rừng hỗn loài khác tuổi, có cấu
trúc ổn định và bền vững hơn thông qua việc đưa thêm một số loài cây mục
đích vào trồng theo các thời điểm khác nhau. Điển hình của kiểu làm này là
dự án trồng rừng Việt Đức ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh.
Ban đầu rừng trồng của dự án ở các tỉnh này là rừng thuần loài Thông mã vĩ
hoặc Keo tai tượng, sau 7 năm dự án đã thí nghiệm chuyển hoá thành rừng
hỗn loài Thông mã vĩ hoặc Keo tai tượng với một số loài cây lá rộng bản địa
khác bằng cách chặt tỉa Thông mã vĩ và Keo tai tượng, mở thành các rạch rộng
3m sau đó đưa các loài cây lá rộng bản địa vào trồng xen giữa hai hàng Thông
mã vĩ và Keo tai tượng. Như vậy, xét về thời điểm hỗn loài thì đây có thể coi
là một trong những thí nghiệm điển hình và có tính thực tiễn cao vì phần lớn
diện tích rừng trồng của nước ta hiện nay đều là rừng trồng thuần loài, một đối
tượng cần được chuyển hoá thành rừng hỗn loài nhằm kinh doanh rừng theo
hướng ổn định, bền vững hơn.
Dự án trồng rừng hỗn loài các loài cây gỗ giá trị cao để cung cấp gỗ và
tăng cường các dịch vụ cộng đồng ở Việt Nam và Australia (2002-2006) đã
thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây nhập nội và cây bản địa với các
thời điểm hỗn loài khác nhau tại 3 địa điểm: i) Tại Đoan Hùng - Phú Thọ:
- Các công trình nghiên cứu trên thế giới về rừng trồng hỗn loài tương
đối phong phú và toàn diện về tất cả các mặt nhưng tập trung nhiều vào chọn
loài cây trồng và các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài theo
quá trình sinh trưởng. Các thí nghiệm đã được bố trí định vị lâu dài tới vài
chục năm, đặc biệt đã có một số công trình đi sâu nghiên cứu mối quan hệ qua
lại giữa các loài cây trong lâm phần hỗn loài thông qua hoạt chất phitônxit,
làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc xây dựng rừng trồng hỗn loài. Đây là
những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm có giá trị cho việc thiết lập
các lâm phần rừng trồng hỗn loài trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng.
16
- Các nghiên cứu, thực nghiệm về trồng rừng hỗn loài ở Việt Nam đã
được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm và được đẩy mạnh vào những năm 1990
khi Nước ta bước vào thực hiện Chương trình 327 và Dự án 661. Vấn đề
nghiên cứu trọng tâm là xác định loài cây trồng, tạo cây phù trợ, phương thức
và phương pháp trồng rừng, Phần lớn các nghiên cứu đều quan tâm đến tạo
rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa, một vài nghiên cứu khác
đã chú ý đến đối tượng cây nhập nội hoặc cây có chu kỳ kinh doanh ngắn,...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chỉ thực hiện trong
thời gian ngắn nên những diễn biến về đất đai, hoàn cảnh rừng, sự sai khác về
năng suất chưa có đủ thời gian đánh giá và khẳng định sự thành công hay thất
bại của mô hình; các mô hình chủ yếu được thiết lập trên đối tượng đất còn
tốt, đất rừng thoái hoá chưa được chú ý nhiều; vấn đề quan trọng nhưng còn
nhiều tồn tại ở nước ta nằm ở khâu nuôi dưỡng rừng, đặc biệt là việc xử lý và
điều chỉnh cây phù trợ như thế nào cho cây bản địa sinh trưởng và phát triển
tốt.
Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại nêu trên, đề tài:
Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.
- Về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài cây bản địa lá rộng cung cấp
gỗ lớn, trong phạm vi đề tài giới hạn nghiên cứu 5 loài cây: Re gừng
(Cinnamomum obtusifolium), Lim xanh (Erythrofloeum fordii), Trám trắng
18
(Canarium album), Sồi phảng (Lithocarpus fissus) và Vạng trứng
(Endospermum chinensis).
- Về nội dung nghiên cứu:
Tổng kết, đánh giá các mô hình trồng rừng hỗn loài: giới hạn ở 7 tỉnh
phía Bắc là Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Tây, Hải Phòng, Thanh
Hoá và Nghệ An.
Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng: giới hạn trong nghiên cứu cây phù
trợ và phương pháp hỗn loài.
Kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng: giới hạn trong nghiên cứu biện pháp
kỹ thuật tỉa cành và tỉa thưa cây phù trợ trong mô hình thí nghiệm ở Cầu
Hai - Phú Thọ.
Hướng dẫn kỹ thuật: giới hạn trong các khâu trồng, chăm sóc và nuôi
dưỡng rừng, không bao gồm nội dung tạo cây con.
2.4. Nội dung nghiên cứu:
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau
đây.
- Tổng kết, đánh giá các mô hình rừng trồng hỗn loài cây lá rộng bản
địa đã có ở một số tỉnh phía Bắc.
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng
bản địa cung cấp gỗ lớn.
- Nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài cây lá rộng bản
các yếu tố:
Tạo lập được tiểu hoàn cảnh rừng thích hợp để đưa các loài cây bản địa
vào trồng: Yếu tố môi trường đầu tiên cần được tạo lập cho các loài cây
bản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng chính là tạo được
áo che nhằm tạo ra một độ tàn che nhất định hỗ trợ cho cây bản địa
trong giai đoạn còn nhỏ. Để tạo được áo che có thể sử dụng nhiều loài
cây khác nhau, trong đó các loài cây họ đậu được sử dụng nhiều nhất vì
ngoài tác dụng che bóng chúng còn có khả năng cải tạo đất, tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho các loài cây trồng chính sinh trưởng, phát triển.
20
Xác định được loài cây có thể trồng hỗn loài với nhau: Trong quá trình
sinh trưởng và phát triển các loài cây đều có mối quan hệ mật thiết với
nhau, mối quan hệ này có thể là hỗ trợ nhau cùng phát triển hoặc có thể
đối kháng, cạnh tranh nhau. Do đó để mô hình sinh trưởng, phát triển
ổn định thì việc xác định được các loài cây bạn với cây trồng chính là
rất cần thiết. Đề tài kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có về nhóm loài
sinh thái để lựa chọn các loài cây trồng kết hợp với nhau trong mô hình
hỗn loài.
Xác định được thời điểm và phương thức trồng rừng hỗn loài: Trong
rừng trồng hỗn loài vì có nhiều loài cây cùng sinh trưởng phát triển, mỗi
loài cây lại có một đặc tính sinh vật học riêng, đặc biệt là rừng trồng có
các loài cây phù trợ đi kèm. Do đó để rừng trồng sinh trưởng phát triển
ổn định cần xác định được thời điểm đưa các loài cây trồng hợp lý.
Trên quan điểm đó, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố đã được đề
cập ở trên làm cơ sở cho việc xây dựng các lâm phần rừng trồng hỗn các loài
cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn và tăng khả năng phòng hộ của rừng.
2.5.2. Phương hướng giải quyết vấn đề
Thí nghiệm phương
pháp hỗn loài
Thí nghiệm kỹ thuật
nuôi dưỡng
Đánh giá kết quả
thí nghiệm
Xây dựng hướng
dẫn kỹ thuật
Hình 2.1: Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
2.5.3. Phương pháp nghiên cứu chung
Đề tài áp dụng phương pháp kế thừa số liệu, phương pháp điều tra, đánh
giá các mô hình rừng trồng hỗn loài đã có kết hợp với bố trí thí nghiệm định vị
ngoài thực địa, phân tích trong phòng, sử dụng phương pháp toán thống kê
trong sinh học để xử lý các số liệu trên máy vi tính bằng phần mềm SPSS.
22
2.5.4. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.5.4.1. Tổng kết đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật trồng rừng
hỗn loài đã có ở một số tỉnh phía Bắc.
áp dụng phương pháp kế thừa tài liệu và điều tra thu thập số liệu trên các ô
tiêu chuẩn điển hình, tạm thời.
- Những tài liệu được đề tài kế thừa gồm:
Các công trình nghiên cứu, đánh giá đã có về rừng trồng hỗn loài cũng
như các biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng trong các mô hình rừng
nhiên, đầy đủ và lặp lại 3 lần.
a). Nghiên cứu lựa chọn loài cây phù trợ thích hợp
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Các thí nghiệm nghiên cứu được bố trí theo phương pháp hỗn loài theo
cây trên hàng tại 2 địa điểm là Ngọc Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ.
- Tại Ngọc Lặc- Thanh Hoá
Cây phù trợ là rừng Keo tai tượng trồng 1994, được chặt theo băng rộng
10m và chừa 10m; chặt 20m và chừa 20m để trồng các loài cây bản địa. Loài
cây bản địa trồng trong các CTTN là Lim xanh và Re gừng được trồng vào các
băng chặt tháng 8/2001. Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 0,7 ha. Các
công thức thí nghiệm về cây phù trợ gồm:
CT1: Cây phù trợ Keo tai tượng băng chặt - chừa 10m.
CT2: Cây phù trợ Keo tai tượng băng chặt - chừa 20m.
CT3: Cây phù trợ là thảm che tự nhiên.
CT4: Đối chứng trồng thuần loài Linh xanh, Re gừng không có cây phù
trợ.
- Tại Cầu Hai - Phú Thọ:
Cây phù trợ Keo tai tượng được trồng vào tháng 7/2000, Cốt khí gieo
tháng 1/2001. Loài cây bản địa gồm Trám trắng, Re gừng, Sồi phảng và Vạng
trứng được trồng tháng 7/2001. Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 1 ha.
Các công thức thí nghiệm về cây phù trợ gồm:
24
CT1: Cây phù trợ Keo tai tượng.
CT2: Cây phù trợ Cốt khí.
CT3: Các ô đối chứng, trồng thuần loài, không có cây phù trợ.
+ Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Số liệu được thu thập trên các ô định vị, mỗi công thức thí nghiệm lập 3 ô
CT2: Hỗn loài theo cây trên hàng (trên mỗi hàng trồng 2 loài cây, các
loài cây trồng xen kẽ nhau).
CT3: Trồng thuần loài (đối chứng).
+ Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Số liệu được thu thập trên các ô định vị, mỗi công thức thí nghiệm lập 3
ô tiêu chuẩn, 1 ô/lặp, diện tích mỗi ô là 500 m2 (20mx25 m). Số liệu được thu
thập trong 4 năm 2002, 2003, 2004 và 2007, mỗi năm đo 1 lần. Trong mỗi ô
tiêu chuẩn đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng: D1,3; Hvn; Dt; chất lượng cây trồng;
tỉ lệ sống; tình hình sâu bệnh hại của tất cả các cây. áp dụng phương pháp
phân tích phương sai 1 nhân tố bằng phần mềm SPSS 13.0 trên máy vi tính để
đánh giá kết quả nghiên cứu.
2.5.4.3. Nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài cây lá rộng
bản địa.
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài được
bố trí tại Cầu Hai - Phú Thọ, gồm các thí nghiệm về kỹ thuật tỉa cành và tỉa
thưa cây phù trợ (Keo tai tượng). Thí nghiệm tỉa cành cây phù trợ được thực
hiện ở tuổi 3 (năm 2004), thí nghiệm tỉa thưa cây phù trợ được tiến hành ở tuổi
4 (2005). Diện tích mỗi CTTN là 0,42 ha. Các CTTN được bố trí như sau:
- Thí nghiệm tỉa cành cây phù trợ, tỉa từ dưới lên trên, gồm các công thức:
Tỉa 1/4 số cành cây phù trợ.
Tỉa 1/3 số cành cây phù trợ.
Không tỉa (đối chứng).
26
- Thí nghiệm tỉa thưa cây phù trợ, gồm các công thức:
Tỉa thưa cây phù trợ với cường độ tỉa là 25%, cách 3 cây tỉa 1 cây.
Tỉa thưa cây phù trợ với cường độ tỉa là 50%, cách 1 cây tỉa 1 cây.