BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
------------------------
NGUYỄN MẠNH HỒNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ XUẤT
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP
HUYỆN BÁT XÁT - TỈ NH LÀ O CAI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số : 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Trần Hữu Viên
Hà Nội - 2010
2
3
1
2
xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc
dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng
thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng là yêu cầu cấp thiết hiện
nay.
Bát Xát là huyện miền núi của tỉnh Lào Cai có diện tích rừng và đất lâm
nghiệp chiếm hơn 67% so với tổng diện tích đất tự nhiên. Nhưng trong sản
xuất lâm nghiệp còn nhiều tồn tại, bất cập, những tồn tại này làm cho công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, việc đề
xuất một quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở sẽ góp phần tăng thu nhập,
cải thiện đời sống của người dân địa phương, thực hiện xoá đói giảm nghèo
và đưa kinh tế - xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước.
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mục đích làm cơ sở cho huyện phát
triển rừng bền vững, sử dụng đất rừng hợp lý trong những năm tới. Chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất
những nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên Thế giới
1.1.1. Qui hoạch vùng
Qui hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát
triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ
- Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng
tỉnh và từng huyện.
- Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế
chi phí vận chuyển.
- Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện
nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tiềm năng thiên nhiên.
- Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế và quốc phòng bằng cách phân
bố hợp lý và phát triển đồng đều lực lượng sản xuất ở các vùng, huyện.
Trên cơ sở đó, tìm hiểu qui hoạch vùng ở một số nước trên thế giới như
sau:
1.1.1.1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây
a) Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
- Sử dụng một cách hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước.
- Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất
mở rộng.
- Xây dựng đồng bộ môi trường sống.
- Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ.
+ Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người
vào đây rất ít.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can
thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn
nhưng có sự tác động của con người.
5
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can
thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan
hệ với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là một bài toán
quy hoạch tuyến tính có cấu trúc.
a) Các hoạt động sản xuất
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng
trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ
điển (truyền thống).
- Hoạt động khai thác rừng.
- Hoạt động đô thị: chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ thương mại..
b) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp,
lâm nghiệp.
c) Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện
tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực ...
Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng
thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều
kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan
Công tác qui hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm 1970.
Về hệ thống phân vị, qui hoạch tiến hành theo ba cấp: Quốc gia, vùng, á
vùng hay địa phương.
Vùng (Region) được coi như là một á miền (Subdivision) của đất nước
đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành á miền theo các phương diện
khác nhau như: Phân bố dân cư, khí hậu, địa hình,... đồng thời vì lý do quản
lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: Đơn vị hành chính
hay đơn vị bầu cử.
Qui mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích
của đất nước. Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị
7
8
dựng các tiền đề tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý các của cải tự nhiên,
các thành tựu khoa học kỹ thuật, các nguồn lao động nhằm phát triển với tốc
độ nhanh kinh tế của tất cả các xí nghiệp đồng thời cải thiện đời sống vật chất
và văn hoá của nhân dân trong vùng lao động nông nghiệp đó.
Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp. Đồng thời
các vùng hành chính cũng là các vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh
tế và tổ chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển có kết quả tất cả các ngành
kinh tế quốc dân, như vậy trong quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành
chính nông nghiệp làm đối tượng quy hoạch.
Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ với việc
lập các sơ đồ quy hoạch vùng là một trong những nội dung của quy hoạch
vùng nông nghiệp (hay quy hoạch huyện nông nghiệp).
1.1.3. Quy hoạch lâm nghiệp trên thế giới
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
tư bản chủ nghĩa. Từ thế kỷ thứ XIX, khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu
phát triển với tốc độ nhanh chóng theo các ngành kinh tế thì nhu cầu về gỗ
bao gồm cả về khối lương và chất lượng ngày càng tăng. Vì vậy sản xuất gỗ
đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời
đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Thực tế này đòi hỏi sản xuất lâm
nghiệp không thể bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có
ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho các chủ
rừng đồng thời bảo vệ môi trường hướng nền lâm nghiệp phát triển theo
hướng bền vững. Vì những yêu cầu khách quan đó mà những lý luận về quy
hoạch lâm nghiệp đã được hình thành và phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu
thực tế khách quan của xã hội loài người. Thời kỳ này đã có những công trình
nghiên cứu về quy hoạch lâm nghiệp nói chung và quy hoạch sử dụng đất lâm
nghiệp nói riêng.
không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần
tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ
10
phương pháp này, còn phát triển thành “phương pháp kinh doanh lô” và
“phương pháp kiểm tra”.
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai
trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm
1946, Jack G.V. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với
tên “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây cũng là tài liệu đầu
tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại
vùng Rhodesia trước đây, nay là cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã
xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch
cơ sở hạ tầng cho trồng rừng. Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, tạp chí
“East African Journal for Agriculture Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về
quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi. Năm1966, hội Đất học của Mỹ và
hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá
khả năng của đất và ứng dụng trong qui hoạch sử dụng đất.
Năm 1994 đã có hai cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại Ấn Độ, đến nay
có hơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào việc phát triển các lĩnh vực:
- Quản lý tài nguyên thiên nhiên
- Nông nghiệp
- Các chương trình xã hội và xóa đói gảm nghèo
- Y tế và an toàn lương thực …
Ở chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998) cũng đã đề cập một
cách chi tiết khái niệm về sự tham gia và đề xuất các chiến lược QHSDĐ
cũng như giao đất.
Ngày nay, PRA và RRA đã dần dần được hoàn thiện, thể hiện được vai
hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản
lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu
12
nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch,
kế hoạch sản xuất cho các cơ sở sản xuất.
b. Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định quy mô, ranh giới vùng.
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất.
- Bố trí sử dụng đất đai.
- Xác định quy mô, ranh giới, nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong
vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp.
- Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống.
- Tổ chức và sử dụng lao động.
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế.
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch.
1.2.2. Quy hoạch nông nghiệp huyện
Quy hoạch nông nghiệp huyện được tiến hành ở hầu hết các huyện, là
một quy hoạch ngành bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủ
công nghiệp và công nghiệp chế biến.
a. Nhiệm vụ của quy hoạch nông nghiệp huyện
- Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào dự
án phát triển và phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng nông nghiệp tỉnh
hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục
tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được
các mục tiêu đó theo hướng chuyên môn hoá, tập trung hoá kết hợp phát triển
tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực,
thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định.
- Bảo vệ môi trường.
- Vốn đầu tư cơ bản.
- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch.
Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh
giới hành chính huyện.
14
1.2.3. Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc,
như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi. Điều chế rừng
thông theo phương pháp hạt đều...
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám và mô tả để ước lượng tài
nguyên rừng. Năm 1958- 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc.
Đến năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch mới áp dụng ở miền Bắc. Từ năm
1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và
mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra
quy hoạch ở các sở Nông nghiệp và PTNT không ngừng cải tiến phương pháp
điều tra, quy hoạch của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện
tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước
khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn
nhiều. Vì vậy những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài
nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chưa được giải
quyết, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa
nghiên cứu áp dụng.
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020,
một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá là “công tác
quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp
chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và
lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia
làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội); trong đó có một
bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào
kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp.
Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi
cơ cấu nông nghiệp nông thôn.
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ
trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và
16
chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể. Với mỗi phương án quy hoạch
lâm nghiệp phải đạt được.
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do các
ngành khác sử dụng; trong đó đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm
hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai.
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3
loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất). Từ đó xác định các giải pháp lâm
sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, trồng rừng mới, khoanh
nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung, nông lâm
kết hợp, khai thác lợi dụng rừng…).
- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vốn và vật tư thiết
bị). Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang
tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp
theo.
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy
hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp
về vốn, lao động).
- Đối mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc,
- Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm
nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản,
bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp
toàn quốc. Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất,
phòng hộ và đặc dụng). Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài
nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và
trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến
lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển
nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng,
giao thông vận tải, xác định tiến độ thực hiện.
18
Do đặc thù khác với ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm
nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy
hoạch được thực hiện tùy theo các vùng kinh tế lâm nghiệp.
- Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định
phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh căn cứ vào
phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch
lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
của tỉnh. Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức
năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương
hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất
đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu
đặc biệt khác. Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng
hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng),
thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn
Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm. Các nội
dung quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát
triển kinh tế - xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện.
- Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức
sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân. Quy
hoạch lâm nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết cụ thể hơn và được tiến hành
trong thời gian 10 năm. Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội
dung sau: Điều tra các điều kiện cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất
lâm nghiệp như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài
nguyên rừng. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ
vào quy hoạch cấp huyện và các điều kiện cơ bản của xã, xác định phương
hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn xã. Quy hoạh đất đai trong
xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng. Xác định rõ mối quan hệ giữa các
20
ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã. Căn cứ phương hướng pháp triển, các
điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân
chia đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ, đặc
dụng. Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí
không gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: Bảo vệ và nuôi
dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp,
khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương
và thị trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ. Quy hoạch tổ chức sản
xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm
nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công
trình phục vụ sản xuất và đời sống. Ước tính đầu tư và hiệu quả: Ước tính đầu
tư lao động tiền vốn, vật tư thiết bị. Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ
huyện bền vững, do vậy chúng tôi đi sâu tìm hiểu và đề xuất những nội dung
cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện Bát Xát giai đoạn 2011 – 2020.
1.2.5. Các văn bản chính sách Nhà nước liên quan đến quy hoạch lâm
nghiệp
- Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
nêu tại điều 18 chương II của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã quy
định “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý
theo pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đính, đạt hiệu quả cao. Nhà nước
giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”.
- Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất
đai năm 1998, năm 2001; Luật đất đai năm 2003.
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Luật Bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004.
Sau khi có Luật đất đai và Luật bảo vệ phát triển rừng, một số các chính
sách được ban hành:
+ Quyết định số 264/CT ngày 22/07/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng về chính sách đầu tư phát triển rừng.
22
+ Quyết định 264/CP (năm 1992) của Chính phủ về tín dụng vay vốn ưu
đãi để trồng rừng sản xuất.
+ Quyết định 327/QĐ/CT ngày 15/09/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành một số chủ trương, chính sách
sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước.
+ Nghị định 170/HĐBT (năm 1993) của Hội đồng Bộ trưởng nay là
Chính phủ về chính sách đối với kinh tế cá thể, xí nghiệp tư nhân trong nông
lâm nghiệp.
+ Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về giao đất nông