Điều tra, khảo sát, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng chiến lược giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam - Pdf 26



i
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………
1 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC
GIẢM NHIỂU,TÁI SỬ DỤNG,TÁI CHẾ CHẤT
THẢI

4
1.1.Cơ sở lý luận về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải………………
4
1.1.1. Khái niệm……………………………………………………………
4
1.1.2.Giới thiệu về Sáng kiến 3R
12
1.1.3. Các nội dung chính của 3R
15
1.1.4.Các giải pháp chiến lược để thực hiện 3R
20
1.2. Các biện pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải………………
23
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải và
bài học rút ra cho Việt Nam……………………………………………

30
1.3.1.Một số nước phát triển

80
2.4. Cơ sở pháp lý cho việc xây dựng Chiến lƣợc về giảm thiểu, tái sử
dụng, tái chế chất thải rắn……………………………………….……

81 ii
2.4.1. Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Nghị định 80/2006/NĐ-
CP
81
2.4.2. Chiến lược Bảo vệ môi trường đến 2010 và định hướng đến
2020….
83
2.4.3. Nghị quyết 41/NQ-TW
84
2.4.4. Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn
84
2.5. KÕt luËn Ch-¬ng 2
87 CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC VỀ GIẢM THIỂU, TÁI
SỬDỤNG,TÁICHẾCHẤTTHẢIRẮNỞVIỆTNAM

88
3.1.Đề xuất các lĩnh vực trọng tâm, định hƣớng ƣu tiên
88
3.1.1. Chất thải rắn, lĩnh vực trọng tâm của 3R
88
KẾT LUẬN……………………………………………………………………
110
TÀILIỆUTHAM KHẢO
112 1
MỞ ĐẦU

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về
kinh tế và xã hội, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh
đang làm thay đổi diện mạo của đất nước. Đô thị hoá và công nghiệp hoá là động
lực thúc đẩy phát triển song cũng đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng. Một trong các vấn đề ô nhiễm chính là chất thải. Chất thải đang tăng lên từng
ngày bởi sự phát triển của các hoạt động sản xuất, dịch vụ cũng như đời sống của
nhân dân đang không ngừng được cải thiện.
Để kiểm soát chất thải, nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng các giải
pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải, hay còn gọi là 3R (reduce, reuse,
recycle) cho riêng mình. Chính sách này cũng đang được cộng đồng quốc tế quan
tâm, thể hiện bởi sự tham gia và cam kết của chính phủ các nước trên các diễn đàn
song phương và đa phương. Tại Hội nghị thượng đỉnh vào tháng 6/2004, lãnh đạo
các nước G8 đã đề ra sáng kiến 3R, sau đó Hội nghị Bộ trưởng Môi trường về thúc
đẩy 3R cũng đã được tổ chức vào tháng 3/2005. Tiếp theo, Hội nghị các quan chức
cao cấp đã được nhóm họp tại Nhật Bản tháng 3/2006 đã thảo luận và xây dựng kế
hoạch thực hiện sáng kiến 3R. Nước ta cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn
khu vực và thế giới về 3R với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường cũng như chuyên viên tại các hội nghị quốc tế.
Trên thực tế, hoạt động tái chế chất thải đã có từ lâu ở nước ta, các loại chất

Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam.
Để triển khai thực hiện, tác giả sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát
thực tế, thu thập số liệu thông tin, kế thừa kết quả của những dự án liên quan, sử
dụng các chuyên gia phân tích, tổng hợp, dự báo và tổ chức hội thảo, lấy ý kiến
chuyên gia, tham vấn cộng đồng.
Luận văn bao gồm những nội dung chính như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc giảm thiểu, tái sử
dụng, tái chế chất thải, đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về giảm thiểu, tái sử dụng,
tái chế chất thải, tìm hiểu các kinh nghiệm quốc tế và các bài học rút ra cho Việt
Nam. 3
Chương 2. Thực trạng và vấn đề quản lý chất thải rắn ở Việt Nam, đề cập tới
những vấn đề tổng quan về phát sinh và quản lý chất thải rắn, xác định thực trạng,
rào cản và cơ hội về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn, dự báo về tình
hình phát sinh chất thải rắn cũng như phân tích các cơ sở pháp lý cho việc xây dựng
chính sách về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam.
Chương 3. Đề xuất xây dựng Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế
chất thải rắn ở Việt Nam, bao gồm đề xuất những lĩnh vực trọng tâm, định hướng
xây dựng các cơ chế, chính sách ưu tiên về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải
rắn, đưa ra những phân tích về việc xây dựng Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng,
tái chế chất thải rắn.
Trong thời gian thực hiện luận văn này, tác giả đã luôn được sự hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình của PGS.TS. Trương Mạnh Tiến trong việc xây dựng và hoàn thiện
nội dung của luận văn. Tác giả cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều về mọi mặt
như các thông tin, số liệu, các phân tích, đánh giá và hỗ trợ kinh phí từ Vụ Môi
trường (trước đây) và Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường. Tác
giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Trương Mạnh Tiến và tập thể cán bộ Vụ Môi
trường, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường.


5

Hình 1.1. Hệ thống thứ bậc phân cấp về chất thải
a) Giảm thiểu
Giảm thiểu là nội dung hiệu quả nhất trong 3 giải pháp R cho sử dụng tài
nguyên và giảm thiểu chất thải. Về mặt nội dung, giảm thiểu có thể được coi là sự
tối ưu hóa quá trình với việc sản xuất ra lượng sản phẩm cao nhất mà thải ra lượng
thải thấp nhất. Quá trình này đòi hỏi phải vận dụng kỹ năng hiểu biết không chỉ về
sản phẩm, dòng thải như tái chế hay tái sử dụng, mà con phải nắm rõ về quá trình
sản xuất, loại nguyên nhiên liệu sử dụng, v.v
b) Tái sử dụng
Tái sử dụng có thể được coi là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến
hết tuổi thọ sản phẩm. Nếu như tái sử dụng theo nghĩa truyền thống để chỉ việc sản
phẩm được sử dụng nhiều lần theo cùng chức năng gốc thì ngày nay, có thể hiểu
thêm việc tái sử dụng còn là sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích
mới. Tái sử dụng có lợi cả về mặt kinh tế lẫn môi trường theo những ưu điểm sau:
- Tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu thô, đồng thời giảm lượng sản xuất
dẫn đến giảm tải lượng thải.
- Giảm lượng vật chất thải và qua đó, giảm được các chi phí thu gom, vận
chuyển và xử lý vật chất thải. 6
- Tạo cơ hội cho những nền kinh tế chậm phát triển thông qua việc tiếp cận
sản phẩm tái sử dụng với giá thành rẻ, tạo thêm việc làm cho những công việc phục
hồi, làm mới sản phẩm, v.v
Tuy nhiên, tái sử dụng cũng có một số nhược điểm như sau:
- Nhiều loại sản phẩm, khi tái sử dụng thường có hiệu suất kém, tiêu hao năng
lượng lớn, gây tác động đến môi trường đồng thời phải tốn chi phí làm mới và vận

Tài nguyên
Sản xuất
Phân phối, sử dụng
Thải
Thu gom, xử lý
Thải vào môi trƣờng

1. Tái sử dụng:
Sử dụng sản
phẩm đã dùng
rồi
2. Tái chế:
Sản xuất lại nguyên
liệu từ những sản
phẩm không thể tái
sử dụng
3. Giảm thiểu:
Giảm sử dụng tài
nguyên thiên nhiên,
kéo dài tuổi thọ và
chất lượng sản phẩm 8
- Tái chế nguyên liệu thường đòi hỏi quá trình loại bỏ tạp chất phức tạp, dẫn
đến tăng chi phí hoạt động, mặt khác, nếu quá trình loại bỏ tạp chất không được tiến
hành hợp lý thì sản phẩm tái chế sẽ có chất lượng thấp.

chn ti a s phỏt sinh cht thi trong mi hnh ng kinh t (sn xut, lu thụng,
phõn phi, tiờu dựng). Minh ho cho th bc qun lý ny c trỡnh by qua biu
hỡnh 1.4.

Môi tr-ờng
Công nghệ
Quản lý tổng hợp chất thải
Bền
vững
về
kinh
tế
Bền vững về môi tr-ờng
Bền
vững
về

hội10

Như đã nói ở trên, quản lý tổng hợp chất thải xét theo cách tiếp cận phối kết
hợp các chiến lược quản lý chất thải bao gồm các giải pháp mang tính chiến lược
giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng


Chôn lấp Chất thải
Khâu quản lý chất thải
Trình độ
quản lý
11

Hình 1.5. Mối quan hệ, liên kết trong các biện pháp giảm thiểu, tái sử dụng
và tái chế chất thải

Theo sơ đồ này, một chiến lược quản lý tổng hợp chất thải cần được chú ý
trước tiên vào các biện pháp giảm thiểu, nghĩa là theo nguyên tắc phòng ngừa. Trong
quá trình sản xuất và tiêu dùng càng giảm thiểu được phát thải thì càng giảm được
các chi phí cho các khâu tiếp theo để xử lý chất thải (tái sử dụng, tái chế, thu hồi,
chôn lấp, ). Còn một khi phát sinh chất thải trong sản xuất và tiêu dùng thì cần cố
gắng tái sử dụng và tái chế tối đa trước khi đem chôn lấp, trả chúng về môi trường.
Trên thế giới, các nhà khoa học đã đề xuất lý thuyết về nền kinh tế xoay vòng
(Circular Economy) và các giải pháp kinh tế và kỹ thuật (công nghệ) để chuyển từ
cách quản lý nền kinh tế truyền thống theo kiểu tuyến tính (Linear Economy), hay
nói cách khác là theo kiểu từ “chiếc nôi” (khai thác, sản xuất, tiêu dùng) thẳng tới
“nấm mồ” (chôn lấp) sang cách quản lý nền kinh tế theo kiểu “xoay vòng” tối đa (tái
sử dụng, tái chế, ) mọi chất thải phát sinh trước khi trả lại về môi trường (chôn lấp).
Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình chu chuyển của dòng vật chất trong
nền kinh tế thì đối với cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải, sản xuất sạch hơn
(sau đây viết tắt là SXSH) là giải pháp kinh tế – kỹ thuật tổng hợp tối ưu nhằm kết
hợp, liên kết các giải pháp về phòng ngừa, bao gồm cả giảm thiểu, tái sử dụng, tái
chế chất thải, đem lại lợi ích to lớn cả về kinh tế, xã hội cũng như về môi trường.

Trong thực tế quản lý môi trường ở nhiều nước, SXSH được coi là một trong
những phương thức tốt nhất để thực hiện phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô
nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu dùng hướng tới phát triển bền
vững. Các quốc gia trên thế giới đều cố gắng khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh
doanh thực hiện các nguyên lý/nội dung cơ bản của SXSH, coi đó là một giải pháp
ưu tiên trong các hành động hướng tới phát triển bền vững như Tuyên ngôn quốc tế
về SXSH đã kêu gọi.
1.1.2. Giới thiệu về Sáng kiến 3R
Tại Hội nghị G8 diễn ra ở Sea Island, Geogria, Hoa Kỳ tháng 6/2004, Nhật
Bản đã đề xuất sáng kiến 3R. Hội nghị đã thông qua “Khoa học và Công nghệ đối
với phát triển bền vững: Kế hoạch hành động „3R‟ và xúc tiến thực thi đầy đủ” như
là một phần của Kế hoạch hành động G8.

Quản lý tốt
nội vi
Thay đổi
đầu vào
Kiểm soát
tốt quá
trình
Cải tiến,
thay đổi
công nghệ
Sản xuất sạch hơn
Tái sử dụng,
tuần hoàn
chất thải
Sản xuất các
sản phẩm phụ
từ chất thải

Tháng 7: Hội nghị Thượng đỉnh G8 St. Petersburg
(Nga)
Các thành viên thông qua “mục tiêu là đưa ra sự tính
toán thích hợp về sức sản xuất của nguồn tài nguyên”
để có sự cố gắng cao hơn liên quan đến Sáng kiến 3R.
Tháng 10: Hội nghị 3R Châu á (Tokyo, Nhật Bản)
2007
Hội nghị thượng đỉnh G8 (Đức)
2008
Hội nghị thượng đỉnh G8 (Nhật Bản)

Hình 1.7. Quá trình hình thành và phát triển của sáng kiến 3R

Sáng kiến 3R có mục tiêu là đẩy mạnh các hoạt động 3R trên quy mô toàn
cầu. Theo bản thoả thuận tại Hội nghị thượng đỉnh G8 Sea Island, Hội nghị cấp bộ
trưởng về Sáng kiến 3R được tổ chức ở Tokyo trong tháng 3/2005 chính thức đưa ra
Sáng kiến 3R với các mục tiêu:
Giới thiệu Sáng kiến 3R
Thúc đẩy các hoạt động cho
Sáng kiến 3R

Xem xét lại sự phát triển của
Sáng kiến 3R
14
1) Thúc đẩy 3R thông qua tầm nhìn rộng và chiến lược;
2) Giảm thiểu các rào cản đối với dòng hàng hoá và vật chất trên thế giới trong
mối quan hệ giữa tái chế và tái sản xuất;

khu vực đô thị tăng nhanh, quá trình sản xuất và thương mại quốc tế tăng làm gia
tăng nhu cầu về nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những sự thay đổi này sẽ dẫn tới các
vấn đề cấp bách như gia tăng lượng và loại đối với chất thải rắn; vấn đề vận chuyển
qua biên giới đối với hàng hóa, nguyên liệu và các sản phẩm có liên quan đến 3R và;
sự tăng giá của các nguồn tài nguyên.
Việc cần thiết nhất để phát triển bền vững tại châu Á là nhận thức về việc sử
dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và giảm thiểu các tác động môi trường do tiêu dùng
và các hoạt động sản xuất. Thúc đẩy 3R thông qua việc tích hợp các chính sách trong
quản lý chất thải và tài nguyên là chìa khóa để nhận thức rõ về sản xuất và tiêu dùng
bền vững ở châu Á. Hàng loạt các cuộc họp chuyên gia và các cuộc đối thoại chính
sách về 3R đã xác định: "Quản lý chất thải đô thị hữu cơ", "Quản lý chất thải y tế",
"Quản lý chất thải điện tử" là những vấn đề ưu tiên ở châu Á.
1.1.3. Các nội dung chính của 3R
a) Phân loại tại nguồn
Phân loại chất thải rắn tại nguồn (Solid Waste Seperation at Source) là một
trong những nhiệm vụ rất quan trọng đối với các hệ thống quản lý chất thải rắn hiện
nay. Công việc này liên quan trực tiếp đến việc tách riêng (phân loại) một số thành
phần chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh trước khi nó được chuyên chở đi. Ví dụ,
đối với chất thải rắn sinh hoạt, có thể phân thành 3 loại: (1) các phế thải có khả năng
tái sử dụng hoặc tái sinh như: giấy, nilon, nhựa, kim loại, thủy tinh, vỏ đồ hộp; (2)
các thành phần hữu cơ có thể sử dụng để làm phân compost; và (3) các thành phần
còn lại.
Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn có tính quan trọng về mặt kinh tế, xã
hội và môi trường. Trước hết, nó góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái
sinh/tái chế. Điều này kéo theo nhiều tác động tích cực như: hạn chế việc khai thác 16
các tài nguyên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển, xử lý và do
đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển và xử lý chất thải, kể cả tiết kiệm mặt bằng cho

thiết bị mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp.
Giảm chất thải tại nguồn thông qua quản lý nội vi là một loại giải pháp đơn giản nhất
của sản xuất sạch hơn.
Giảm thiểu chất thải rắn ngay tại nguồn được thực hiện bằng việc áp dụng các
giải pháp sử dụng tối ưu nguyên liệu, thay đổi công thức sản phẩm, giảm các vật liệu
bao bì và đóng gói sản phẩm, thay đổi thói quen trong tiêu dùng.
Một cách tổng quát, các biện pháp giảm thiểu chất thải có thể tổng hợp như
sau:
- Sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Thiết kế sản phẩm có tuổi thọ sử dụng cao, dễ tái sử dụng và thành phần
nguyên liệu có thể tái chế được.
- Sử dụng các bộ phận, thành phần và nguyên liệu được tái chế, tái sử dụng.
- Giảm thiểu việc sử dụng các thành phần độc hại hoặc thay thế các thành
phần độc hại trong sản phẩm.
- Sử dụng nhãn mác sinh thái.
- Xây dựng lối sống thân thiện với môi trường, sử dụng các sản phẩm thân
thiện với môi trường, thực hiện tiêu dùng bền vững.
c) Tái sử dụng
Tái sử dụng bao gồm các nội dung như: Khuyến khích các dịch vụ tái sử dụng
sản phẩm (sửa chữa, cho thuê), tăng cường, khuyến khích sản xuất các thành phần
sản phẩm có tuổi đời trung bình cao.
Trong tái sử dụng, sản phẩm được giữ nguyên về chất liệu kết cấu và hình
dáng cũng như chức năng ban đầu và được đưa vào quá trình chuyển hóa (ví dụ như:
bao bì đóng gói nhiều lần). Thông lệ thì những sản phẩm như vậy không phải là chất 18
thải, do đó trong nghĩa rộng có thể được hiểu là tái sinh, nhưng số lượt của chu trình
tái sử dụng bị hạn chế. Ví dụ, chai được sử dụng nhiều lần bị vỡ hay bị mất đi tính
năng sử dụng đặc trưng. Người ta tính trung bình một chai có thể được tái sử dụng

năng lượng trong quá trình chuyển hóa. Vì thế, công nghệ có tính đến giảm thiểu và
công nghệ có tính đến phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Việc tiếp tục sử dụng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, song tất cả các
quá trình cũng chỉ là những việc sử dụng lại nhiều lần, do đó vật chất và năng lượng
có thể giữ được trong một thời gian có hạn và riêng biệt trong phạm vi của quá trình
chuyển hóa kế tiếp nhau và sau đó được đưa vào chu trình.
Sản phẩm tiêu dùng

Sản phẩm tiêu dùng
Hình 1.8. Minh hoạ về tái tạo lại giá trị

Tái tạo giá trị: Tái tạo giá trị là quá trình trong đó chất liệu kết cấu ban đầu
được tái tạo lại thông qua một quá trình xử lý. Hình thái ban đầu và chủ đích sử
dụng ban đầu có thể được tái tạo. Ví dụ, sử dụng sắt vụn trong công nghiệp luyện
thép, nấu chảy mảnh kính trong công nghiệp thủy tinh, giấy vụn trong công nghiệp
giấy v.v… (hình 1.8).
Tiếp tục tận dụng giá trị: Có thể áp dụng với cả hình thức vật chất và năng
lượng. Đặc tính của việc tiếp tục tận dụng giá trị vật chất là sự chuyển hóa vật chất

Có nhiều giải pháp chiến lược để thúc đẩy thực hiện 3R, trong đó một số giải
pháp chính như sau:
a) Tăng cường hệ thống chính sách, pháp luật:
- Thiết lập một hệ thống chính sách quốc gia lâu dài và hiệu quả về bảo vệ
môi trường nói chung, về quản lý chất thải nói riêng, có sự hỗ trợ tài chính hợp lý.
- Xây dựng Chiến lược quốc gia về 3R với cách tiếp cận tổng thể bao gồm cả
các vấn đề xuyên quốc gia. Xây dựng mới hoặc cải thiện khung luật 3R bổ sung cho
những chính sách quản lý ô nhiễm. 21
- Đặt mục tiêu giảm thiểu chất thải thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu, trên cả
tái sử dụng và tái chế chất thải và phối hợp các nội dung của sản xuất bền vững, sản
xuất sạch hơn, ngăn ngừa ô nhiễm vào các chiến lược và chương trình 3R.
- Thiết lập chính sách thương mại xanh và điều chỉnh lại hệ thống thuế và trợ
cấp quốc gia cho các sản phẩm 3R thông qua các chính sách hỗ trợ bao gồm các
chính sách về ưu đãi thuế, đất đai, vốn, công nghệ, v.v
- Cụ thể hóa và triển khai các chính sách bảo vệ môi trường nói chung và
chính sách quản lý chất thải nói riêng: chính sách mua bán quota về chất thải, chính
sách tiết kiệm tài nguyên nước, các chính sách về khoa học-công nghệ như áp dụng
công nghệ mới tiêu thụ ít nguyên liệu, tăng cường tuần hoàn và tái chế, chính sách
ưu đãi đầu tư cho công nghệ 3R, chính sách tuyên truyền giáo dục tiết kiệm tài
nguyên.
b) Giảm rào cản thương mại giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, cũng như
tạo điều kiện cho dòng sản phẩm và nguyên liệu có liên quan đến tái chế và tái sản
xuất:
- Đối với công ước Basel, thì các loại hàng hóa được coi là chất thải nguy hại
đều có các giới hạn về vận chuyển và chuyên chở xuyên quốc gia. Tuy nhiên, trong
trường hợp của chiến lược 3R thì có một phần không nhỏ chất thải độc hại lại được
coi là nguyên liệu hoặc sản phẩm của quá trình tái chế hoặc tái sử dụng. Vì vậy,

- Tăng cường cải tiến, bảo dưỡng, thay thế thiết bị nhằm giảm tiêu hao
nguyên vật liệu đầu vào trong quá trình sử dụng.
e) Nâng cao nhận thức cộng đồng
Nhận thức cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các biện
pháp 3R. Nhận thức cộng đồng được nâng cao sẽ giúp việc thực hiện phân loại rác
thải tại nguồn được tốt. Ở nước ta, 80% chất thải rắn chủ yếu phát sinh từ các hộ gia 23
đình, vì vậy nhận thức của mỗi người dân đóng vai trò quan trọng đối với giảm
thiểu, tái sử dụng và tái chế loại chất thải này.
Nhận thức cộng đồng về 3R có thể được nâng cao thông qua các hoạt động:
- Tuyên truyền, vận động 3R trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Giáo dục nội dung 3R trong các nội dung giáo dục về môi trường.
- Tổ chức xây dựng, trao các giải thưởng về 3R.

1.2. Các biện pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải
Để giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải, có nhiều giải pháp quản lý
chung hướng tới việc giảm thiểu các loại chất thải ở đầu đường ống cũng như nhiều
biện pháp kỹ thuật riêng khi xử lý từng loại chất thải ở cuối đường ống. Các biện
pháp chung bao gồm: áp dụng sản xuất sạch hơn, hệ thống quản lý môi trường ISO
14000 và kiểm toán môi trường. Một số biện pháp kỹ thuật xử lý cuối đường ống đối
với từng loại chất thải cũng sẽ được mô tả sơ lược dưới đây.
a) Các biện pháp quản lý
Sản xuất sạch hơn (SXSH)
Theo định nghĩa của UNEP: “Sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến
lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và
dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường”.
Lợi ích của các giải pháp sản xuất sạch hơn bao gồm:
- Giảm tác động đến môi trường thông qua các thiết kế sản phẩm xanh với giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status