LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào. Những số liệu kế thừa đã được chỉ rõ nguồn và được sự
cho phép sử dụng của các tác giả.
Tác giả luận án BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
o0o NGUYỄN TUẤN HƯNG NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
PHỤC VỤ CHO VIỆC QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐẮC TÔ
VÀ VÙNG TÂY NGUYÊN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
o0o
NGUYỄN TUẤN HƯNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Tác giả xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học; Khoa
Lâm học, Bộ môn Điều tra quy hoạch rừng Trường Đại học Lâm nghiệp; Ban
lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp; Vụ Sử dụng rừng; Công ty Lâm nghiệp Đắc
Tô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suố
t quá trình học tập và
nghiên cứu để hoàn thành luận án.
Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận án, tác giả đã được
sự giúp đỡ tận tình và dành nhiều thời gian và công sức của thầy giáo hướng
dẫn khoa học GS.TS. Trần Hữu Viên, TS. Đỗ Anh Tuân để thực hiện và hoàn
thành luận án. Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy một cách
sâu sắc nhất.
Tác giả xin chân thành cám ơn các nhà khoa học và đồng nghiệp, đặ
c
biệt là nhóm cán bộ Hợp phần I, Dự án Chương trình Lâm nghiệp Việt - Đức,
Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp tỉnh Kon Tum đã tận tình giúp đỡ tác giả
trong công tác ngoại nghiệp và nội nghiệp phục vụ cho luận án. Tác giả xin
trân trọng cám ơn GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Lung, PGS.TS. Võ Đại Hải,
PGS.TS. Trần Văn Con, PGS.TS. Vũ Nhâm, TS. Nguyễn Hồng Quân, TS.
Bùi Thế Đồi, Ths. Cao Chí Công và một số nhà khoa học khác đã có những ý
kiến góp ý quý báu để tác giả bổ
sung và hoàn thiện luận án.
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn tất cả các thầy giáo, người thân
trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ về vật chất và tinh
thần để tác giả có thêm nghị lực hoàn thành luận án này.
Hà Nội, tháng 5/2014
Tác giả
ii
1.3.5.1. Các văn bản luật của nhà nước 29
1.3.5.2. Các văn bản dưới luật 31
1.3.5.3. Các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn kỹ thuật 31
1.3.6. Một số nghiên cứu về thực hiện QLRBV ở Việt Nam 32
1.4. Thảo luận 33
Chương 2 36
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
iii
2.1. Nội dung nghiên cứu 36
2.2. Giới hạn nghiên cứu 37
2.3. Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1. Quan điểm và phương pháp tiếp cận nghiên cứu
37
2.3.2. Tiếp cận nghiên cứu
39
2.3.3. Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu
40
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp
44
2.3.5. Chỉnh lý, tính toán và tổng hợp tài liệu
49
Chương 3 50
ĐẶC ĐIỂ
M CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 50
3.1. Điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế khu vực Tây Nguyên 50
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 50
3.1.2. Điều kiện dân sinh kinh tế 51
4.1.1.3. Về khai thác sử dụng rừng 58
4.1.1.4. Về bảo vệ rừng 59
4.1.1.5. Về chi trả dịch vụ môi trường rừng 59
4.1.2. Kết quả đánh giá sơ bộ một số mô hình QLRBV vùng Tây Nguyên 60
4.1.2.1. Khái quát về các đơn vị xây dựng phương án 60
4.1.2.2. Đánh giá tính khả thi của phương án QLRBV 61
4.1.2.2.1. Đối với Công ty Lâm nghiệp Krông Bông , 61
4.1.2.2.2. Đối với Công ty Lâm nghiệp M’Drăk 62
4.1.2.2.3. Đối với Công ty Lâm nghiệp Đắk Mil 63
4.1.2.3. Một số kết quả đạt được ban đầu của các mô hình QLRBV vùng
Tây Nguyên
65
4.1.2.4. Những khó khăn trở ngại trong việc triển khai MH QLRBV 67
4.1.2.5. Sự khác nhau giữ QLRBV và quản lý rừng theo cách truyền
thống
68
4.1.2.6. Xác định các nguyên nhân quản lý rừng thiếu bền vững vùng
Tây Nguyên
69
4.1.2.7. Bài học kinh nghiệm trong QLRBV vùng Tây Nguyên 71
4.1.2.8. Đề xuất định hướng các giải pháp QLRBV vùng Tây Nguyên 71
4.2. Đánh giá mô hình QLRBV C.ty LN Đắc Tô theo tiêu chuẩn FSC
73
4.2.1. Hiện trạng tài nguyên rừng Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô 73
4.2.2. Đánh giá kết quả triển khai ph
ương án theo các mục tiêu chính về
kinh tế, xã hội và môi trường
76
4.4.1.2.2. Phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn) 103
4.4.1.2.3. Phân bố trữ lượng theo tổ cấp kính (M/D
1.3
) 106
4.4.1.3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng thứ 107
4.4.1.4. Đặc điểm tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn/D
1.3
). 114
4.4.1.5. Đặc điểm tương quan giữa đường kính tán và đường kính vị trí
1,3 m
115
4.4.2. Cấu trúc tầng cây tái sinh 116
4.4.2.1. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh 116
4.4.2.2. Xác định mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh 118
4.4.2.3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển
vọng
120
4.5. Nghiên cứu một số đặc điểm tăng tr
ưởng rừng và xác định lượng gỗ khai
thác bền vững tại Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô
121
4.5.1. Tăng trưởng về đường kính 121
4.5.2. Tăng trưởng về trữ lượng 123
4.5.3. Xác định thời gian chuyển cấp kính 124
4.6. Xác định các yếu tố kỹ thuật thực hiện phương án QLRBV Công ty Lâm
nghiệp Đắc Tô
124
4.6.1. Xác định mô hình cấu trúc định hướng 124
4.6.1.1. Quan điểm lựa ch
ọn mô hình rừng định hướng 124
FSC Hội đồng quản trị rừng
GIZ Cơ quan hợp tác k
ỹ thuật Đức
H(m) Chiều cao bình quân lâm phần
HSTR Hệ sinh thái rừng
ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế
KHLNVN Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
LNQG Chiến lược lâm nghiệp quốc gia
LNCĐ Lâm nghiệp cộng đồng
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
M(m3/ha) Trữ lượng rừng
N (cây/ha) Mật độ cây trên ha
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
NWG Nhóm công tác quốc gia
OTC Ô tiêu chuẩn
QLRBV Quản lý rừng bền vững
QSDĐ Quyền sử dụ
ng đất
RĐD Rừng đặc dụng
RPH Rừng phòng hộ
RSX Rừng sản xuất
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TCLN Tổng cục Lâm nghiệp
TSTV Tái sinh triển vọng
UBND Uỷ ban nhân dân
WWF Quĩ bảo vệ động vật hoang dã
vii
Bảng 4.15: Kết quả nắn phân bố N/D
1.3
trên các trạng thái rừng khu vực
nghiên cứu
101
Bảng 4.16: Kết quả tính toán các đặc trưng phân bố
N/Hvn
103
Bảng 4.17: Kết quả nắn phân bố N/Hvn trên các trạng thái rừng khu vực
nghiên cứu
104
Bảng 4.18: Phân bố trữ lượng theo tổ cấp kính trên các trạng thái rừng khu
vực nghiên cứu
107
Bảng 4.19: Kết quả xây dựng tương quan Hvn/D
1,3
khu vực nghiên cứu 115
Bảng 4.20. Kết quả xây dựng tương quan (Dt/D1,3) khu vực nghiên cứu 116
Bảng 4.21. Kết quả tính toán công thức tổ thành tầng tái sinh khu vực nghiên 117
viii
cứu
Bảng 4.22. Mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng 120
Bảng 4.23: Kết quả kiểm tra sự thuần nhất về hệ số b 123
Bảng 4.24: Tăng trưởng thường xuyên hàng năm trên các trạng thái rừng khu
vực nghiên cứu
124
Bảng 4.25. Phân bố trữ lượng theo cấp kính của 2 trạng thái cấu trúc định
trên một số OTC khu vực nghiên cứu 102
Biểu đồ 4.4: Biểu đồ phân bố N/Hvn trên một số OTC khu vực nghiên cứu 106
Biểu đồ 4.5: Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh 119
Biểu đồ 4.6: Quan hệ giữa tăng trưởng bình quân Zd với đường kính 122
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Về lý luận cũng như thực tiễn QLRBV ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, còn
có nhiều khoảng trống chưa được đề cập. Mặc dù, đã có khoảng trên 150.000 ha
rừng được cấp chứng chỉ FSC, nhưng hầu như diện tích được cấp chứng chỉ là rừng
trồng và được triển khai một cách tự phát từ mộ
t số doanh nghiệp có tiềm năng. Về
quản lý rừng tự nhiên ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ xây dựng được 10 mô hình
thí điểm về QLRBV rừng tự nhiên là rừng sản xuất. Đến cuối năm 2013, mới có 2
mô hình QLRBV của Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô (16.300 ha) và Lâm trường
Trường Sơn (34.000 ha) được cấp chứng chỉ nguồn gốc gỗ. Tất cả các mô hình
chưa được đánh giá cụ thể, nhằ
m xác định các khó khăn, vướng mắc trong quá trình
thực hiện [3]. Trong khi lộ trình QLRBV đã được xác định tại Quyết định số
18/2007/QĐ-TTg, ngày 5/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến
lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020 có khoảng 30% (tương
đương khoảng 1,8 triệu ha) rừng sản xuất được cấp chứng chỉ. Do vậy, quản lý rừng
bền vững ở Việt Nam đã và
đang là vấn đề thời sự, quan trọng và hết sức cấp thiết,
nhằm quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng hiện có [68].
Mục tiêu chính của quản lý rừng bền vững là quản lý những lâm phận ổn
định, nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã đề ra, đảm bảo sản xuất liên tục
ra các chính sách và các giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình QLRBV ở Việt Nam.
Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc quản lý rừng
bền vững tại Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô và vùng Tây Nguyên” được triển khai
nhằm đánh giá, phân tích nhữ
ng điểm mạnh, điểm yếu, xác định những khó khăn
trở ngại và bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thực hiện thí điểm
phương án QLRBV. Kèm theo đó là những đề xuất định hướng các giải pháp khắc
phục những tồn tại, hướng tới đạt chứng chỉ rừng. Đồng thời góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển đổi quản lý rừng truyền thống sang QLRBV đạt ch
ứng chỉ
quốc tế FSC ở cấp công ty lâm nghiệp hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý và sản xuất lâm nghiệp, đánh giá một
số mô hình thí điểm về QLRBV vùng Tây Nguyên và Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô,
kèm theo các kết quả nghiên cứu về cấu trúc và tăng trưởng rừng, luận án được thực
hiện, nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau đây:
Mục tiêu tổng quát
Góp phần quản lý bền vững rừng tự nhiên là rừng sản xuất thuộc Công ty
Lâm nghiệp Đắc Tô nói riêng và vùng Tây Nguyên nói chung để tiến tới được cấp
chứng chỉ rừng FSC.
3
Mục tiêu cụ thể
i. Bước đầu đánh giá được khái quát việc triển khai một số mô hình thí điểm
về quản lý rừng bền vững vùng Tây Nguyên. Xác định được những khó khăn, tồn
tại và đề xuất định hướng quản lý rừng bền vững vùng Tây Nguyên.
ii. Đánh giá được mô hình QLRBV của Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô theo
tiêu chuẩn và tiêu chí FSC, làm căn cứ đề xuất các giải pháp và hoạt động khắc
số đổ vỡ trong khai thác, nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tăng trưởng rừng
nhằm khai thác và sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững có cơ sở khoa học.
Từ đó xác định được các yếu tố kỹ thuật thực hiện phương án, nhằm giúp cho Công
ty khai thác, sử dụng rừng đạt hiệu quả cao nhất, bền vững về các mặt kinh tế, xã
hội và môi tr
ường hướng tới đạt chứng chỉ rừng FSC toàn phần.
4. Đóng góp mới của luận án
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu tổng hợp và sâu về QLRBV cho đối
tượng rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, bao gồm đánh giá một cách khái quát một số
mô hình QLRBV vùng Tây Nguyên triển khai trước năm 2010 và nghiên cứu đánh
giá sâu mô hình QLRBV của Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô theo tiêu chuẩn FSC.
- Bước đầu kết hợp giữa nghiên cứu đánh giá theo nguyên tắc quản lý rừng
bề
n vững của FSC với nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật làm cơ sở đưa ra các giải
pháp phục vụ cho QLRBV rừng tự nhiên.
- Lần đầu tiên xác định được hệ số đổ vỡ và đánh giá được hiệu quả của mô
hình thí điểm khai thác tác động thấp áp dụng ở Việt Nam.
5. Bố cục luận án
Phần mở đầu: Luận giải sự cần thiết củ
a luận án, mục đích nghiên cứu, ý
nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu: tổng quan, phân tích và thảo luận các
công trình và kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến QLRBV làm cơ
sở xác định vấn đề nghiên cứu.
Chương 2. Nội dung, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Khái quát đặc điểm vùng nghiên cứu: trình bày các đặc điểm về
điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh t
ế và xã hội vùng Tây Nguyên và Công ty Lâm
phương án điều chế đề cập một cách đầy đủ. Từ đó dẫn đến phương án điều chế
rừng hiện nay của các chủ rừng th
ường tập trung vào việc đảm bảo mục tiêu kinh tế
của rừng, nghĩa là rừng cho nhiều sản phẩm, có năng suất cao và lâu dài liên tục.
Nên các mục tiêu quan trọng khác như môi trường và xã hội lại chưa được chú ý
đúng mức đến trong phương án điều chế rừng của các đơn vị sản xuất.
Về các nguyên lý QLRBV [6]: Nguyên lý thứ nhất là: Sự bình đẳng giữa các
thế hệ trong sử dụ
ng tài nguyên rừng. Cuộc sống con người luôn gắn với sử dụng tài
nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó, chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên
thiên nhiên không phải là vô tận.Theo định nghĩa Brundtland thì phát triển bền vững
là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng
đến các khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng được các nhu cầu của họ”
6
WCED (1987) [108]. Vấn đề chìa khoá để bảo đảm nguyên lý bình đẳng giữa các
thế hệ trong quản lý tài nguyên rừng là bảo đảm năng suất và các điều kiện tái sinh
của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo này. Một trong những nguyên tắc cần tuân
thủ là tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng;
Nguyên lý thứ hai là: Trong quản lý tài nguyên rừng bền vững, sự phòng
ngừa, nó được hiể
u là: ở đâu có những nguy cơ suy thoái nguồn tài nguyên rừng và
chưa có đủ cơ sở khoa học thì chưa nên sử dụng biện pháp phòng ngừa suy thoái về
môi trường.
Nguyên lý thứ ba là: Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên
rừng ở cùng thế hệ. Đây là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra sự công bằng
cho các thế hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưa tạo được những cơ hội bình đẳ
ng cho
ăng
phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời
không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác.
Phương án QLRBV là tổ chức kinh doanh tổng hợp để sử dụng các nguồn
lực, phát huy hết tiềm năng và lợi thế nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao. Kết hợp
với địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ g
ỗ, giống cây trồng nông lâm nghiệp,
tập huấn chuyển giao kỹ thuật - kỹ năng canh tác nông lâm nghiệp, tạo ra sản phẩm
hàng hoá, giữ vững ổn định trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, giảm thiểu các tác
động tiêu cực của người dân tới sự phát triển của rừng, cụ thể:
- Có kế hoạch quản lý phù hợp với quy mô và cường độ hoạt động lâm
nghiệp, với những mụ
c tiêu rõ ràng và biện pháp thực thi cụ thể và được thường
xuyên cập nhật. Những hoạt động quản lý rừng có tác dụng khuyến khích sử dụng
có hiệu quả các sản phẩm và dịch vụ đa dạng của rừng để đảm bảo tính bền vững
kinh tế và tính đa dạng của những lợi ích môi trường và xã hội. Các chi phí sản xuất
phải đảm bảo dành những đầu tư c
ần thiết để duy trì năng suất sinh thái của rừng.
- Thực hiện giám sát định kỳ tương ứng với quy mô và cường độ kinh doanh
để nắm được tình hình rừng, lượng các sản phẩm, chuỗi hành trình, các hoạt động
quản lý rừng và những tác động môi trường và xã hội của những hoạt động đó.
- Tuân thủ pháp luật của Nhà nước và những thoả thuận quốc tế mà Nhà
nước đã ký kế
t, đồng thời tuân theo tất cả những tiêu chuẩn và tiêu chí của tiêu
chuẩn FSC. Có quyền và trách nhiệm sử dụng lâu dài đất và tài nguyên rừng. Tài
nguyên đất và rừng phải được xác lập rõ ràng, tài liệu hoá và được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Công nhận và tôn trọng quyền hợp pháp và theo phong tục
của nhân dân sở tại về quản lý, sử dụng rừng và đất của họ.
8
cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa
đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao g
ồm một vài loài cây. Việc mô hình hoá cấu
trúc đường kính thân cây với phân bố số cây theo cỡ đường kính được nhiều tác giả
quan tâm, kiểu cấu trúc này thường được biểu diễn dưới dạng toán học với nhiều
dạng phân bố khác nhau. Nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, Meyer, Poisson.
9
Cũng từ phương pháp định lượng, nhiều tác giả đã xây dựng cấu trúc vốn rừng và
nếu lên nguồn gốc sinh thái của nó.
Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp bao gồm nhiều thành phần
với các quy luật sắp xếp khác nhau trong không gian và thời gian. Trên quan điểm sinh
thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ
sinh thái rừng. Rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu c
ơ sở sinh thái của cấu trúc
rừng, mà tiêu biểu là Baur G.N (1962) [4], các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn
đề sinh thái nói chung và cơ sở sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng. Các
nghiên cứu đã nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống
và tầng phiến của rừng, đặc biệt là qua các nghiên cứu đã làm sáng tỏ khái niệm về hệ
sinh thái rừng, đây là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan
điểm
sinh thái học.
Nói chung, nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm quản lý và sử dụng rừng bền
vững, dẫn dắt, định hướng các lâm phần chưa chuẩn về trạng thái chuẩn, đạt được
sự cân bằng, ổn định và năng suất cao đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới
nghiên cứu và đưa lại nhiều kết quả khả quan. Phần lớn các tác giả đã
đi sâu vào
định lượng các quy luật phân bố số cây theo đường kính, phân bố số cây theo cỡ
FAO (1996) đã tổng kết nhiều công trình nghiên cứu về điề
u chỉnh sản lượng
rừng, như công trình nghiên cứu của Brasnett N.V (1953) [92]; Davis K.P (1966)
[95] đã đưa ra khái niệm về điều chỉnh sản lượng như sau: "Điều chỉnh sản lượng
bao gồm việc tạo ra các quyết định để xác định rõ ràng về địa điểm và những điều
kiện của việc khai thác rừng với việc sử dụng các thông tin về lượng khai thác cho
phép hàng năm và nh
ững thông tin kỹ thuật khác. Điều chỉnh sản lượng là một phần
quan trọng đặc biệt của điều chế rừng nhiệt đới bền vững".
1.2.3. Khai thác và chặt nuôi dưỡng
Về phương thức khai thác, theo CIFOR (2000) ở Indonesia đã tiến hành
nghiên cứu về phương thức khai thác ít tác động (RIL Reduce Impact Logging) trên
rừng tự nhiên ở Bulungan–Borneo, bước đầu cho thấy đã giảm được tác hại trên
những cây còn lại ít hơ
n 38% so với phương pháp truyền thống. Từ năm 1967,
Indonesia đã có qui định đường kính cây khai thác trên 50 cm, số cây khai thác đến
20 cây/ha và luân kỳ khai thác là 35 năm. Một chu kỳ khai thác từ 25–30 năm đã
được Perera G.A.D (2001) đề nghị áp dụng cho rừng thứ sinh ở Srilanca và đối với
các khu rừng mục đích sản xuất gỗ đề nghị tiến hành tỉa thưa sau 5–6 năm để tạo
điều kiện sinh trưởng cho các loài cây gỗ mục đích.
11
Kỹ thuật khai thác tác động thấp RIL đã được chứng mình làm giảm thiểu tác
động đến môi trường đến 50% so với phương pháp khai thác thông thường, các khu
vực rừng sau khai thác công nghệ RIL có tốc độ phục hồi nhanh hơn, Pinard and
Putz (1997) [104]. Viện sinh học và khoa học môi trường Malaysis đã tiến hành
nghiên cứu đề tài Sự tác động của khai thác và khả năng phục hồi CO
2
12
tạo ra rừng tự nhiên có năng suất cao hơn, hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái
sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự
nhiên). Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục
hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi). Theo (Gomez-Pompa
& Burley, (1991) [100] có thể gộp các hệ thống quả
n lý rừng trên thế giới về 4
nhóm chính: nhóm các hệ thống rừng thay thế; nhóm các hệ thống rừng chặt trắng;
nhóm các hệ thống thúc đẩy tái sinh tự nhiên; nhóm các hệ thống rừng phục hồi.
Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ, được thực
hiện la thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa kỳ (American Tree Farm System-
ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hộ
i đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council-
FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI) Forest Certification Schemes-
PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber
Certification Scheme -MTCS) năm 2001. Cho đến cuối năm 2011, tổng diện tích
rừng được quản lý bền vững, được cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau
là 401.418.552 ha, tương đương 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [1].
Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên từ 26 quốc
gia diễn ra tại Toronto, Canada, đã bầu ra Hội đồ
ng Quản trị FSC đầu tiên. Tiếp đó
vào năm 1994 các thành viên sáng lập phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí FSC
cùng quy định về hệ thống tổ chức FSC. Từ đó tới nay FSC đã trải qua quá trình
phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững có uy tín trên thế
giới. FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận,
kể các Bắc Mỹ
, và Tây Âu [32]. FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto
chiếm tổng cộng có 7%. Con số này thể hiện một thực tế là các nước thuộc châu Á,
châu Phi, Trung và Nam Mỹ có khoảng cách quá xa so với các quốc gia Châu Âu và
Bắc Mỹ trong quản lý rừng bền vững [32].
PEFC là hệ thống chứng chỉ hiện có quy mô lớn nhất trên toàn cầu, chiếm
tới 59,1% tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ. Đứng ở vị trí thứ hai là hệ thống
FSC, chiếm tỷ
trọng 36,8%. Các hệ thống còn lại chiểm tỷ lệ rất nhỏ. Tuy đứng ở vị
trí thứ hai nhưng diện tích rừng được chứng chỉ của hệ thống FSC chỉ bằng 62%
diện tích rừng có chứng chỉ của PEFC. Thực tế này cho thấy hệ thống PEFC giữ vị
thế tương đối áp đảo trong hệ thống chứng chỉ rừng hiện nay của thế giớ
i. Gắn liền
với hệ thống quản lý rừng là hệ thống quản lý chuỗi cung ứng gỗ để đảm bảo gỗ có
chứng chỉ lưu thông trong suốt chuỗi hành trình không bị lẫn với gỗ không có
chứng chỉ. Cho đến cuối năm 2011 tổng doanh nghiệp có chừng chỉ chuỗi hành
trình sản phẩm (CoC) là 30.466. Trong đó, chứng số lượng chỉ FSC CoC là
21.879% chiếm 72%, số lượng chỉ PEFC, CoC là 8.587 chiế
m 28%. Như vậy, cho
14
tới cuối năm 2011 thì hệ thống FSC có số lượng chứng chỉ CoC áp đảo trong tổng
số chứng chỉ CoC trên toàn cầu [95].
Tại hội nghị Helsinki (1993), 38 nước ở Châu Âu đã xác định 6 tiêu chuẩn,
28 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững cho rừng Địa Trung Hải, rừng Ôn đới và rừng
Bắc Âu. Tại đại hội Montreal, 12 nước thành viên đã đồng ý thiết lập 7 tiêu chuẩn
và 67 chỉ tiêu để quản lý rừ
ng Bắc Mỹ. Ở vùng khô hạn Châu Phi, 27 nước liên
quan thống nhất 7 tiêu chuẩn, 47 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững tại cuộc họp
chuyên gia UNEP/FAO tổ chức ở Narrobi Kenya năm 1995. Tại cuộc họp chuyên
lương thực, khai thác lậu, cháy rừng , hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ
không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế. Chứng chỉ rừng (hay
chứng chỉ gỗ) thực chất là chứng chỉ ISO nhưng đặc thù cho ngành lâm nghiệp sản
xuất g
ỗ và lâm sản ngoài gỗ [98].
Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần
bảo vệ rừng nước mình và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế
với giá bán cao. Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-
2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm
2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông -
Lâm nghiệp Phnom-penk 2001. Song, do B
ộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn
thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức
FSC. Tuy vậy, các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia
(Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó
đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ FSC (theo 10 nguyên tắc của
FSC) trong các năm 2002-2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế [20].
Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indonesia (LEI) được thành lập n
ăm 1994 là
một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ
quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan thừa nhận một cách chính thức các cơ
quan cấp chứng chỉ ở Indonesia. Hiện nay đơn vị này đã cung cấp 5 chứng chỉ đối
với 885.000 ha rừng tự nhiên và 1 chứng chỉ đối với 159.000 ha rừng trồng [88].
Năm 1997, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Động v
ật Hoang dã Thế giới
(WWF) công bố chương trình hợp tác với mục tiêu đưa 200 triệu ha rừng được quản
lý sản xuất gỗ vào chương trình “Quản lý bền vững được cấp chứng chỉ độc lập”
vào năm 2005. Kết quả đạt được mục tiêu với 31.8 triệu ha (16% mục tiêu), trong
đó chỉ có 1/3 ở các khu rừng nhiệt đới.
Năm 2005, Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS) sử dụ