BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------
LÒ MINH NHÃ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN QUY
HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGHÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS VŨ NHÂM
Hà Nội, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------
LÒ MINH NHÃ
vững, nhất thiết phải quy hoạch lâm nghiệp và công tác quy hoạch lâm nghiệp
cần phải được đi trước một bước làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng
trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khác diễn ra.
Thuận Châu, là huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, là
một trong những huyện khó khăn của tỉnh. Huyện có nguồn tài nguyên đất đai
rộng lớn với tổng diện tích tự nhiên là 153.589,6 ha, dân số 148.379 người,
2
bao gồm các dân tộc Kinh, Thái, Mông, Giao, Khơ Mú, đang sinh sống.
Huyện có 29 đơn vị hành chính, trong đó có 28 xã và 1 thị trấn.
Trong những năm qua, diện tích rừng của huyện Thuận Châu đã góp
phần không nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện, đặc biệt hiện nay
công trình thuỷ điện Sơn La đã và đang được xây dựng là một trong những
công trình thuỷ điện lớn nhất trong cả nước, do vậy với vị trí quan trọng trong
phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước thì vấn dể quy hoạch sử dụng đất
lâm nghiệp hợp hợp lý là rất cần thiết.
Trong quá trình biến động thường xuyên và liên tục đó, công tác quản
lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội sẽ rất khó khăn nếu không có định hướng cơ bản
cho sự phát triển kinh tế xã hội. Quy hoạch là căn cứ quan trọng thể hiện sự
nhất quán về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong một thời gian tương
đối dài và làm cơ sở để xây dựng kế hoạch hàng năm. Với những ý nghĩa
quan trọng đó, việc nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch lâm nghiệp hợp
lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần quản lý tài nguyên rừng bền vững, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống của người làm nghề rừng, phần nào thực hiện xoá đói
giảm nghèo trên địa bàn huyện.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần bảo vệ phát triển tài nguyên
rừng ổn định, bền vững lâu dài, nâng cao đời sống người dân địa phương
cũng như cải thiện điều kiện môi trường sinh thái khu vực “Nghiên cứu đề
xuất một số nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện Thuận Châu - tỉnh
phát triển chung cho kinh tế, xã hội, môi trường, cho một ngành hoặc một lĩnh
4
vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại,
phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà
trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được
đi trước một bước.
1.1.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác-Lê Nin về phân bố và phát
triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản
xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân
tộc đó được phát triển đến mức độ nào”.
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên
kinh tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”.
Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản
xuất cho mỗi vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng
và tương lai phát triển của vùng đó.
Dựa vào học thuyết Mác và Ăng Ghen. Lê Nin đã nghiên cứu cho
hướng cụ thể về kế hoạch phát triển lực lượng sản xuất được xác định theo
nguyên tắc sau:
Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất
nước, tỉnh, huyện, nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động
của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng.
Đưa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế
chi phí vận chuyển.
Kết hợp tốt lợi ích Nhà nước và nhu cầu kinh tế của từng tỉnh, vùng
tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế...
6
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ lợi ích công cộng và
sản xuất.
- Tổ chức hợp lý mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp
trong phạm vị hệ thống nông thôn.
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên của vùng lãnh thổ, tạo điều kiện tốt
cho người lao động nghỉ ngơi, sinh hoạt {22}
1.1.1.2. Quy hoạch vùng ở pháp
Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng,
lãnh thổ. M. Thenevin (M. Pierre Thenevin) một chuyên gia thống kê đã giới
thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miền tây
nam nước cộng hoà Côte D’ivoire như sau:
Trong mô hình quy hoạch này, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu
cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ
với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là bài toán quy
hoạch tuyến tính có cấu trúc:
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và
trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cường độ cao, thâm canh trung
bình và cổ điển (truyền thông).
- Hoạt động khai thác tài nguyên rừng.
- Hoạt động đô thị, khai thác chế biến..
Quy hoạch vùng nhằm mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng
thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều
kiện thực tiễn của vùng, so sánh với các vùng xung quanh và nước ngoài{22}.
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 của
thế kỷ trước. Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng,
địa phương).
8
Sau cuộc cánh mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh
doanh rừng chồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu
kỳ khai thác dài, và phương thức “ khoanh khu chặt luân chuyển” nhường
chỗ cho phương thức “chia đều” của Harting. Harting đã chia đều khu khai
thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng
năm. Đến năm 1816,xuất hiện phương thức luân kỳ lợi dụng của H.Cotta.
H.Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và lấy đó để khống
chế lượng chặt hàng năm {14}.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm
phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại,
đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối
thế kỷ 19, xuất hiện phương pháp “ Lâm phần kinh tế” của Judeich. Phương
pháp này khác với phương pháp “ Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich
cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ
được đưa vào diện khai thác. Hai phương pháp “ Bình quân thu hoạch” và “
Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh
và tổ chức rừng khai thác.
Phương pháp “ bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp
“cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng
phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và
đưa ra cấp tuổi cao và diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh doanh
rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn
phương pháp “ Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “ Lâm phần”
không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần
tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ
phương pháp này, còn phát triển thành “ Phương pháp kinh doanh lô” và “
Phương pháp kiểm tra” {14}.
10
cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các
cơ sở sản xuất.
b. Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định quy mô, ranh giới vùng.
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất.
- Bố trí sử dụng đất đai.
- Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp
trong vùng và tổ chức ngành nông nghiệp.
- Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống.
- Tổ chức và sử dụng lao động.
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế.
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch.
1.2.2. Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt
không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh
doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau
làm cơ sở cho việc lập kế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng
nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời
phát huy những tác dụng khác của rừng.
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời Pháp thuộc.
Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi. Điều chế rừng
Thông theo phương pháp hạt đều...
Đến năm 1955 – 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài
nguyên rừng. Năm 1958 – 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng Miền Bắc.
Mãi đến năm 1960 – 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở
Miền Bắc. Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng
được tăng cường và mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ
12
Quy hoạch rừng đặc dụng ( các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,
các khu di tích văn hoá – du lịch – danh thắng) và quy hoạch phát triển các
loại rừng sản xuất.
Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và
vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp,
lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp.
Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường phải
lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi
mặt... Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao
gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác
cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông thôn, công an , quân đội...)
Trong đó, có một số bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song
phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
{14}
1.2.2.2. Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ
trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước và
chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể. Với mỗi phương án quy hoạch
lâm nghiệp phải đạt được
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất do
các ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được
quan tâm hàng đầu vì hai ngành chính sử dụng đất đai.
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3
loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất). Từ đó xác định các giải pháp lâm
sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh
14
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng
(rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch
lâm nghiệp {19}.
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý,
bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất,
bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được nhà nước giao,
cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp {20}.
- Quyết định 61 về quy định tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ {4} và
quyết định 62 quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng {5}.
Từ trước tới nay công tác quy hoach lâm nghiệp đã được triển khai
trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát
triển ngành. Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong từng
thời điểm , căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ thuật khác
nhau mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng được điều
chỉnh cho phù hợp.
1.2.2.4. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
a. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy
hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường;
quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch các khu rừng phòng
hộ, quy hoạch rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình). Các
nôi dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là
khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế
tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho
phù hợp {14}.
15
bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp
toàn quốc. Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất,
phòng hộ và đặc dụng). Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài
nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và
trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến
lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển
nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực hiện.
Do đặc thù khác với các ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy
hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội
dung quy hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế
lâm nghiệp {14}
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: xác định
nhiệm vụ phương hướng phát triển trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương
hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm
nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
tỉnh. Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng:
Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào đất đai tài nguyên
rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác.
Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên hiện có. Quy hoạch tái
sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng) thực hiện nông lâm kết
hợp. Quy hoạch lợi dụng phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội.
Quy hoạch xây dụng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực
hiện {14}.
17
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân. Quy
hoạch lâm nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết cụ thể hơn và được tiến hành 5 –
10 năm. Quy hoạch lâm nghiệp xã thường được tiến hành ở các nội dung sau:
Điều tra các điều kiện cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp
như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng.
Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ quy hoạch cấp
huyện và các điều kiện cơ bản của xã, các phương hướng nhiệm vụ phát triển
lâm nghiệp trên địa bàn xã. Quy hoạch đất đai trong xã theo các ngành và dơn
vị sử dụng. Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa
bàn xã. Căn cứ vào phương hướng phát triển của điều kiện về nhu cầu phòng
hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo 3
chức năng sử dụng : sản xuất, phòng hộ và đặc dụng. Quy hoạch các nội dung
sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các
loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thị trường, quy
hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ. Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp
cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội.
Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công trình phục vụ
sản xuất và đời sống. Ước tính đầu tư và hiệu quả: Ước tính đầu tư lao động
tiền vốn, vật tư thiết bị. Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các
mặt kinh tế – xã hội, môi trường. Xác định tiến bộ thực hiện {14}.
1.3. Thảo luận
Các nội dung của quy hoạch lâm nghiệp các cấp quản lý lãnh thổ
được đề cập là tương tự nhau, nhưng mức độ giải quyết theo chiều sâu, chiều
rộng là khác nhau. Phạm vị đề cập của các nội dung trong quy hoạch lâm
nghiệp cấp toàn quốc, cấp tỉnh và cấp huyện có tính chất định hướng, nguyên
19
tắc và gắn liền với ý đồ phát triển kinh tế của các cấp quản lý lãnh thổ. Trong
những năm qua quy hoạch đất của huyện Thuận Châu đã được xây dựng và
- Phân tích điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến phát triển lâm nghiệp huyện.
- Đánh giá tình hình sản xuất lâm nghiệp và dự báo nhu cầu lâm sản.
- Xác định được định hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện.
- Đề xuất một số nội dung cơ bản cho quy hoạch lâm nghiệp huyện.
- Đề xuất các giải pháp thực hiện.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rừng và đất lâm nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp
thuộc huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Đánh giá thực trạng hoạt động SXLN và QHLN của huyện
2.3.1.1. Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất đai tài nguyên rừng.
2.3.1.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp của huyện.
2.3.1.3. Nhận xét kết quả công tác điều tra, quy hoạch trước đây.
2.3.2. Cơ sở quy hoạch lâm nghiệp huyện Thuận Châu
2.3.2.1. Cơ sở pháp lý: Các luật, văn bản dưới luật, các Chủ trương
chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp.
2.3.2.2. Cơ sở về điều kiện kinh tế - xã hội:
- Thực trạng chung về phát triển kinh tế của huyện;
21
- Thực trạng về xã hội và cơ sở hạ tầng;
- Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện
2.3.2.3. Những dự báo cơ bản
- Dự báo về dân số
- Dự báo về nhu cầu sử dụng lâm sản
- Dự báo về nguồn vốn đầu tư thu hút từ bên ngoài
2.3.3. Đề xuất một số nội dung cơ bản cho QHLN huyện đến năm 2020
2.3.3.1.Định hướng và nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện đến năm 2015
- PRA (nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng, hộ gia đình trong
công tác bảo vệ phát triển rừng): Tại các xã Phổng Lái, Chiềng Bôm, Co Mạ
huyện Thuận Châu và các phòng ban huyện có liên quan để thu thập ý kiến
của các nhà lãnh đạo, của nhân dân về định hướng và giả pháp phát triển lâm
nghiệp huyện Thuận Châu trong thời gian tới.
- RRA (đánh giá nhanh nông thôn): Tổ chức các cuộc khảo sát dã
ngoại để đánh giá các tiềm năng thực tế trong phát triển kinh tế - xã hội.
2.4.3. Sử dụng phương pháp phúc tra thực địa tài nguyên rừng
- Thu thập số liệu ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sản xuất lâm
nghiệp trong huyện và các xã có đất lâm nghiệp của huyện Thuận Châu - tỉnh
Sơn La về các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
- Phúc tra trữ lượng rừng: Chỉ tiến hành phúc tra lại khi có sự biến
động sai khác lớn về trữ lượng hoặc có sự nghi ngờ về độ chính xác của số
23
liệu. Do đó, mỗi trạng thái rừng chỉ lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình để tiến hành
điều tra.
Điều tra trữ lượng rừng tự nhiên: Lập ô tiêu chuẩn có diện tích S=1000m2
(25x40m), sau đó sử dụng thước kẹp kính, sử dụng thước Blumlei quan trắc, để đo
đếm, xác định các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao: D1.3; Hvn; Hdc...(kế thừa số
liệu điều tra của các dự án triển khai trên địa bàn huyện).
Điều tra trữ lượng rừng trồng: Như rừng tự nhiên, lập 3 ô tiêu chuẩn
điển hình với diện tích mỗi ô S= 500 m2 (20x25m), sau đó tính các chỉ tiêu về
loại cây, tuổi, đường kính, chiều cao: D1.3; Hvn; Hdc... (kế thừa số liệu điều tra
của các dự án triển khai trên địa bàn huyện).
Điều tra tình hình sinh trưởng của cây tái sinh rừng, nguồn gốc tái
sinh, loại cây,... kết hợp điều tra trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành lập 5 ô dạng
bản, mỗi ô có diện tích S= 25m2 (5x5m), 4 ô ở bốn góc và 1 ô ở giữa ô tiêu
chuẩn. (kế thừa số liệu điều tra của các dự án triển khai trên địa bàn huyện).