Xác lập cơ sở địa lý cho phát triển nông lâm nghiệp huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thế giới trong những thập kỷ gần đây chứng kiến sự thay đổi vượt bậc
do dân số tăng nhanh, hiện nay dân số thế giới đạt trên 7 tỷ người, kéo theo đó
sự phát triển kinh tế xã hội vấn đề đảm bảo an ninh lương thực càng được chú
trọng nhất là ở các nước nghèo đông dân cư, các nước đang phát triển. Bên
cạnh đó, đứng trước thách thức của biến đổi khí hậu cũng làm ảnh hưởng
không nhỏ tới tình hình an ninh lương thực trên toàn thế giới. Chính vì vậy,
sản xuất nông – lâm nghiệp (SXNLN) hiện nay cần được quan tâm thích đáng
và cần có những chiến lược lâu dài để phát triển theo hướng bền vững. Việt
Nam là một quốc gia đang phát triển, chúng ta có nhiều lợi thế về tự nhiên,
lịch sử, con người để phát triển SXNLN. Không chỉ vậy, đây còn là một thế
mạnh của Việt Nam trog quá trình phát triển và hội nhập vì nó không chỉ đảm
bảo an ninh lương thực, thu nhập cho người dân mà còn giữ vững và nâng cao
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ở các mặt hàng nông sản như: gạo, cà
phê, tiêu, điều, cao su... Hiện nay phát triển nông lâm nghiệp (NLN) ở Việt
Nam không chỉ quan tâm về số lượng mà còn ở chất lượng sản phẩm, về sinh
thái môi trường và sự phân bố tập đoàn cây trồng theo vùng địa lý.
Cảnh quan học là một hướng nghiên cứu có tính ứng dụng cao của
khoa học địa lý và có quá trình phát triển lâu dài, ngày càng có ý nghĩa quan
trọng đối với việc giải quyết những vấn đề thực tiên của lãnh thổ. Ngày nay,
xu hướng phát triển của nghiên cứu Cảnh quan (CQ) hiện nay là Cảnh quan
ứng dụng (CQƯD) theo hướng tiếp cận đa ngành, đa tỷ lệ, có tính đến sự biến
đổi cấu trúc, chức năng, động lực của CQ theo không gian và thời gian.
Nghiên cứu CQƯD là để hiểu một cách toàn diện hơn về quy luật tự nhiên
nhằm nhận ra những hệ quả trước mắt và hệ quả lâu dài từ đó có những hành
động can thiệp hợp lý vào tự nhiên. Đây là những luận cứ khoa học, là tiền đề
phục vụ quy hoạch nông - lâm nghiệp bền vững, giúp các nhà quản lý đưa ra
những quyết định để sử dụng hợp lý lãnh thổ.

1

- Xác lập cơ sở khoa học địa lý cho phát triển NLN huyện Thuận Châu,
tỉnh Sơn La trên cơ sở đánh giá CQ cho một số loại hình SXNLN.
2


2.2. Nhiệm vụ
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu trên cơ sở tổng quan tài
liệu có liên quan đến nghiên cứu, đánh giá CQ phục vụ cho phát triển NLN
theo hướng bền vững.
- Thu thập các dữ liệu, số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan ở vùng
nghiên cứu.
- Phân tích đặc điểm, sự phân hóa các hợp phần tự nhiên, xây dựng hệ
thống phân loại CQ và thành lập BĐCQ huyện Thuận Châu làm cơ sở để
đánh giá cho các loại hình sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu trên lãnh thổ
nghiên cứu.
- Đánh giá thích nghi sinh thái các CQ cho phát triển một số cây trồng
chính (cây chè, cây cao su, cây cà phê, cây mắc ca) trong nông nghiệp huyện
Thuận Châu.
- Đề xuất một số định hướng phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng
bền vững.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Về không gian
Bao gồm toàn bộ phần diện tích của huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
3.2. Về nội dung
- Nghiên cứu sự phân hóa điều kiện tự nhiên trong địa bàn huyện
Thuận Châu để thành lập BĐCQ tỷ lệ 1:50.000.
- Luận văn chỉ đánh giá thích nghi sinh thái của các loại CQ đối với
một số cây trồng chính cây chè, cây cao su, cây cà phê, cây mắc ca. Không
đánh giá hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội của các loại cây trồng này.
4. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

tế, ổn định lâu dài. Đảm bảo công bằng xã hội hướng tới sự hài hoà giữa con
người với tự nhiên trong sự tương tác giwuax hệ thống tự nhiên và hệ thống
kinh tế xã hội.Cụ thể hoá quan điểm hệ thống trong CQ học thì đối tượng
nghiên cứu của địa lý tự nhiên là các hệ địa sinh thái. Hệ địa sinh thái là một
hệ thống động lực hở và tự điều chỉnh có ranh giới xác định và có sự thống
nhất biện chứng giữa các thành phần cấu tạo.
4


Nghiên cứu CQ trên quan điểm hệ thống thể hiện ở việc phân tích cấu
trúc không gian ( bao gồm cả cấu trúc đứng và cấu trúc ngang ) và cấu trúc
thời gian trên từng đơn vị nhằm xác định được quan hệ của các hợp phần
trong mối quan hệ với các yếu tố cùng bậc và cao hơn.
Nghiên cứu hệ thống tự nhiên của huyện Thuận Châu nằm trong khu
tự nhiên vùng Tây Bắc với những đặc trưng về địa hình, địa chất, khí hậu,
thuỷ văn, thổ nhưỡng và sinh vật đã tạo nên tổng thể tự nhiên trong khu vực
huyện Thuận Châu. Hệ địa sinh thái huyện Thuận Châu với các hệ thống khác
luôn có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, vì vậy cần có sự quan tâm
đúng mức khi tiến hành phân tích, đánh giá, vạch ranh giới các đơn vị CQ.
Bên cạnh đó,hệ địa sinh thái huyện Thuận Châu cũng là một hệ thống động
lực có khả năng thay đổi theo thời gian cho nên cần tiến hành nghiên cứu,
phân tích trong một thời gian phù hợp, cụ thể nhằm phân tích đánh giá và đưa
ra những nhận định đúng đắn nhất.
4.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ là quan điểm đặc thù của khoa học địa lý. Mọi sự
vật hiện tượng đều có sự phát sinh, phát triển trên một lãnh thổ nhất định,
chúng có sự phân hoá không gian nội tại nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết
với các lãnh thổ xung quanh về cả tự nhiên và kinh tế xã hội. Vì vậy, cần phải
xác định chính xác ngay từ đầu phạm vi lãnh thổ cần nghiên cứu, tiến hành
tập trung nghiên cứu chỉ trong phạm vi ấy và kết quả nghiên cứu cũng chỉ

khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật… các số liệu về kinh tế xã hội: như
diện tích, dân số, lao động, hiện trạng sử dụng đất và các thông tin về sự biến
động kinh tế - xã hội và dân số.
Các tài liệu, số liệu thống kê được phân tích chọn lọc và tổng hợp lại để
phù hợp với yêu cầu của đề tài. Trên cơ sở đó tiến hành lập đề cương chuẩn bị
cho công tác thực địa để kiểm chứng, bổ sung cập nhật tài liệu, bảo đảm tính
đúng đắn và tính chính xác của việc điều tra nghiên cứu tổng hợp điều kiện
địa lý lãnh thổ phù hợp với mục đích nghiên cứu.
6


4.2.2. Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Đây là phương pháp không thể thiếu trong mọi công trình nghiên cứu
địa lý.Trong quá trình thực hiện đề tài phải tiến hành bản đồ địa hình, ảnh
viễn thám để thiết lập kế hoạch chi tiết cho các đợt khảo sát thực địa để có thể
bao quát toàn bộ không gian khu vực nghiên cứu.
Với nhiều tính năng ứng dụng cao trong nghiên cứu địa lý mà GIS ngày
càng trở thành công cụ đắc lực cho các nhà chuyên gia trong việc nghiên cứu
định tính, định lượng nhiều thông số cần thiết, chuẩn hoá, phân loại, tích hợp
các dữ liệu hợp phần CQ, chồng xếp các lớp dữ liệu, thực hiện các phép toán
phân tích không gian, thành lập bản đồ chuyên đề. Các phần mềm GIS
(Mapinfor, AcrGIS, ...) cho phép tiến hành chỉnh sửa, bổ sung các bản đồ hợp
phần, giải đoán ảnh viễn thám và thành lập bản đồ sử dụng đất; phân tích,
tổng hợp các lớp thông tin để thành lập BĐCQ, biên tập và thể hiện các nội
dung bản đồ v.v.. Đây là phương pháp đòi hỏi người sử dụng phải nắm vững
chuyên môn và sử dụng thành thạo một số phần mềm tin học.
4.2.3. Phương pháp khảo sát thực địa
Thực địa là phương pháp bắt buộc khi nghiên cứu các vấn đề tài
nguyên thiên nhiên và môi trường. Đây là phương pháp thu thập và kiểm
chứng thông tin một cách tin cậy từ việc nghiên cứu, điều tra tổng hợp về điều

quan khi nghiên cứu ngoài thực địa hoặc khi phân tích đánh giá để tài cần
phải tiến hành tham khảo ý kiến chuyên gia đặc biệt trong việc lựa chọn trọng
số của các tiêu chí. Sử dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính chính xác,
khoa học và sự khách quan của việc đánh giá.
5. CƠ SỞ DỮ LIỆU
Dữ liệu được sử dụng trong luận văn chia thành các nhóm sau:
5.1. Hệ thống các bản đồ số
Các bản đồ và dữ liệu số: hành chính, địa chất, địa hình, thổ nhưỡng,
bản đồ hiện trạng rừng, hiện trạng sử dụng đất các năm, bản đồ thảm thực vật
tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000

8


5.2. Hệ thống tài liệu
- Các đề tài mang tính lý luận về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế nông, lâm
nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các đề tài
khoa học, các luận án và các công trình nghiên cứu khác có liên quan, bổ sung
kiến thức lý luận và thực tiễn cho đề tài. Các số liệu thống kê của huyện
Thuận Châu từ năm 2000 đến 2013
- Số liệu, văn bản, báo cáo kinh tế - xã hội của huyện Thuận Châu đã
được công bố trong giai đoạn 2000 – 2013.
- Kết quả các đợt khảo sát thực địa
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
6.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả ngiên cứu thể hiện đặc trưng và phân hoá CQ ở tỷ lệ bản đồ
1:50.000 của huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La. Đồng thời, kết quả nghiên
cứu của luận văn góp phần làm phong phú hơn về phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu đánh giá CQ cho mục đích phát triển nông lâm


Cơ Sở
khoa học

Bước 2:

Đặc điểm ĐKTN - TNTN

HT & PPháp
tiếp cận HT

CSDL

Phân tích cấu trúc CQ
huyện Thuận Châu

Mục tiêu đánh giá

Phân loại CQ h. Thuận Châu
BĐCQ 1 : 50.000

Bậc hệ KT – XH
Cấp xã

Các chỉ tiêu của hệ ĐST

Yêu cầu của chủ thể

Chỉ tiêu & Phưong Pháp Đánh giá


NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC LẬP CƠ SỞ ĐỊA LÝ
CHO PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Hướng tiếp cận cơ sở địa lý cho phát triển nông - lâm nghiệp
1.1.1.1. Những hướng nghiên cứu về định hướng sử dụng lãnh thổ cho
nông - lâm nghiệp
Hiện nay có hai phương hướng tiếp cận nghiên cứu phổ biến về định
hướng sử dụng lãnh thổ cho phát triển NLN là hướng nghiên cứu đất đai và
nghiên cứu cảnh quan.
a. Hướng nghiên cứu đánh giá đất đai
Nghiên cứu đánh giá đất đai chính là cung cấp những thông tin thuận
lợi hay khó khăn cho việc sử dụng đất đai làm căn cứ cho việc quyết định sử
dụng hay quản lý đất đai. Hay nói cách khác, việc nghiên cứu đánh giá đất đai
là sự đánh giá khả năng thích nghi của đất đai cho việc sử dụng của con người
vào các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thuỷ lợi, quy hoạch sử
dụng đất.
Trên thế giới và cả Việt Nam đã có nhiều công trình liên quan đến
hướng đánh giá đất đai.
Trên thế giới. Vào năm 1976, tổ chức lương thực và nông nghiệp thế
giới – FAO đã đưa ra đề cương đánh giá đất đai. Đây là tài liệu tổng kết kinh
nghiệm đánh giá, phân hạng đất đai của nhiều nước cùng với sự đóng góp của
các chuyên gia hàng đầu trên thế giới. Tài liệu của FAO rất đầy đủ, chặt chẽ
và dễ dàng vận dụng với mọi hoàn cảnh và được nhiều nước áp dụng trong
chiến lược sử dụng đất. Năm 1976, FAO đưa ra quy trình đánh giá và phân
hạng mức độ thích nghi theo 5 hạng: rất thích nghi (S1), thích nghi (S2), kém
thích nghi (S3), không thích nghi hiện tại (S4) và không thích nghi vĩnh viễn
(S5). Đến năm 1990, FAO đã đề nghị thực hiện đánh giá đất đai cho phát triển
11

trên thế giới vận dụng phục vụ quy hoạch định hướng sử dụng đất cho NLN
và phạm vi nghiên cứu ngày càng mở rộng. Có nhiều những công trình đã tích
hợp được các phương pháp và quy trình đánh giá đất đai của FAO với việc
phân tích hệ thống sử dụng đất, hệ thống nông trại...
Tại Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam cùng với sự giúp đỡ của các
chuyên gia Liên Xô đã thực hiện điều tra cơ bản, nghiên cứu thổ nhưỡng và
thành lập bản đồ đất Việt Nam ở tỷ lệ 1: 1.000.000 và các bản đồ đất cho các
tỉnh ở tỷ lệ lớn hơn ( 1:100.000 và 1:50.000). Năm 1962, V.M. Fridland đã
công bố kết quả bước đầu về đất miền Bắc Việt Nam. Năm 1963, các tác giả
Vũ Ngọc Tuyên, Trần Khải, Phạm Gia Tu đã tổng kết đặc điểm các loại đất ở
miền Bắc nước ta trong cuốn “Những loại đất chính ở miền Bắc Việt Nam”.
Nhiều những công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Vi,Trần Khải về
tính chất hoá học của đất miền Bắc Việt Nam (1975). Tôn Thất chiểu năm
1975 có “Tổng quan về điều tra phân loại đất Việt Nam”. Các tác giả Cao
Liêm, Tôn Thất Chiểu, Lê Duy Thước có nhiều đóng góp với các công trình
về bản đồ đất Việt Nam.

12


Một số các tác giả của Việt Nam cũng như các cơ quan chuyên ngành
của nước ta rất quan tâm chú trọng đến hướng đánh giá phân loại đất đai theo
phương pháp của FAO và có nhiều ứng dụng đạt được kết quả cao như tác
giả Bùi Quang Toản và các cộng sự vào những năm 80 đã nghiên cứu, đánh
giá và phân hạng đất đai ở 23 huyện và 9 vùng chuyên canh phục vụ công tác
tổ chức sản xuất ở đây. Vũ Cao Thái và nnk năm 1989 đã phân hạng đất theo
phương pháp của FAO để xác định mức độ thích nghi cho cây cao su, cây
chè, cây cà phê và cây dâu tằm vùng Tây Nguyên.
Năm 1990, Hoàng Xuân Tý và các cộng sự đã thực hiện đánh giá tiềm
năng đất đai dựa trên phân loại khí hậu,đánh giá khả năng gây trồng và phục

mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần TN, nguồn gốc phát sinh, quá trình
phát triển và quy luật phân hóa của TN nhằm phát hiện và phân chia các thể
tổng hợp TN - các đơn vị CQ có tính đồng nhất tương đối trong lãnh thổ đánh
giá làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN-TNTN và KT-XH để lập quy
hoạch sử dụng hợp lý, phát triển kinh tế và BVMT”.[7]
Khi nghiên cứu CQ, có hai cách tiếp cận thể hiện sự phân hoá không
gian lãnh thổ: phân vùng CQ với quan niệm CQ là đơn vị cá thể và phân loại
CQ với quan niệm CQ là đơn vị phân loại. Theo cách tiếp cận nghiên cứu CQ
ấy, việc nghiên cứu CQ phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội ngày
càng phổ biến và được ứng dụng mạnh mẽ trên thế giới và cả Việt Nam.
 Trên Thế giới
Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu đánh giá CQ của
các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau. Những nghiên cứu CQ của các
nhà địa lý trên thế giới, đặc biệt là của các nhà địa lý Liên Xô (cũ) có giá trị lý
luận và thực tiễn rất cao.
- Các hệ thống phân vùng CQ có thể chia làm 2 nhóm
+ Hệ thống 1 dãy: Là sự sắp xếp xen kẽ lần lượt các đơn vị địa đới và
phi địa đới. Như hệ thống phân vùng của A.A. Grigoriev (1957), V.B.
Xotrava (1956), F.N. Minkhov (1956, 1959), L.N.Mikhailov (1962), N.A.
Gvozdetxky (1960).
+ Hệ thống 2 dãy: Có sự độc lập giữa các đơn vị địa đới và phi địa
đới ở bậc phân vị cấp cao, chỉ ở đơn vị cấp thấp mới nhập 2 dãy địa đới
14


và phi địa đới với nhau. Hệ thống phân vùng của D.L. Armand (1954),
A.G. Ixatsenko (1965).
 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu đánh giá CQ cũng được phát triển
mạnh mẽ dựa trên sự kế thừa vận dụng của các công trình nghiên cứu CQ của

nghiên cứu CQ”. Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành “Quan niệm về
CQ, hệ sinh thái, sự phát triển của CQ học và sinh thái học CQ” - làm rõ hơn
mối quan hệ giữa CQ và sinh thái học. Cũng năm này, ông và Nguyễn Văn
Nhưng báo cáo về “Chu trình vật chất, trao đổi năng lượng trong một số CQ
Việt Nam” - cho thấy quan điểm sinh thái được vận dụng linh hoạt hơn trong
nghiên cứu CQ Việt Nam.
Ngoài các hướng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất
nhanh các hướng nghiên cứu CQ có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông
tin. Có thể kể đến là Nguyễn Thành Long với công trình “Nghiên cứu CQ Tây
Nguyên trên cơ sở ảnh vệ tinh Landsat” (1987); Phạm Hoàng Hải và nnk với
công trình “Xây dựng BĐCQ sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên
cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990); Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn
Cẩm Vân với “Thành lập BĐCQ đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1 : 250.000 bằng tư
liệu viễn thám” (1992).
Một trong những hướng nghiên cứu được tiến hành rất mạnh thời gian
gần đây là hướng nghiên cứu, đánh giá CQ phục vụ mục đích phát triển bền
vững lãnh thổ, mà tiêu biểu là các công trình của Phạm Hoàng Hải. Năm
1988, ông hoàn thành công trình “Vấn đề lí luận và phương pháp đánh giá
tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam
Bộ”. Kế đến vào năm 1990, trong Chương trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng
Tiến và nnk đã tiến hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm”. Năm
1993, ông cùng Nguyễn Thượng Hùng thực hiện “Đánh giá tổng hợp cho mục
đích sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên Tây Nguyên”. Vào 1997, Nhà
xuất bản Giáo dục đã công bố “Cơ sở CQ học của việc sử dụng hợp lí tài
16


nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” của ông cùng
Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh - công trình được đánh giá

nghiệp, nông – lâm kết hợp, tái định cư… nhằm SDHLTN, BVMT và PTBV.
Đánh giá CQ nhằm SDHLTN, BVMT là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa
lý ứng dụng, nó có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát
triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với
từng đơn vị lãnh thổ cụ thể. Có thể khẳng định rằng, đánh giá CQ là bước
trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch SDHLTN, BVMT.
Cấu trúc của hệ thống phân loại CQ phản ánh tác động của các quy luật
địa đới và phi địa đới, tác nhân trong sự thành tạo và phân hóa CQ. Các đơn
vị CQ được xem như một phức hợp bao gồm các hợp phần tự nhiên vô cơ (đá
mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng) và hữu cơ (sinh vật) có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi đơn vị CQ là một hệ thống vừa có sự thống
nhất vừa có sự phân hóa, đồng thời có tính khác biệt. Có những dạng CQ tuy
ngoại mạo giống nhau nhưng có nguồn gốc phát dinh khác nhau nên những
đặc điểm lý hóa khác nhau và được sử dụng với mcj đích khác nhau. Mỗi hệ
thống CQ đầy đủ các cấp được xây dựng trên luận thuyết khoa học đúng đắn
với các chỉ tiêu phân cấp hợp lý sẽ phản ánh một cách khách quan, xác thực
và chi tiết sự phân hóa CQ lãnh thổ.[13]
Thuận Châu là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, cho đến nay vẫn
chưa có một công trình nghiên cứu nào về CQ và đánh giá CQ trên địa bàn.
Đây là địa bàn cư trú của 6 dân tộc anh em chung sống. Những năm gần đây
huyện đã có những tiến bộ vượt bậc cả về đời sống vật chất và tinh thần của
người dân, điều đó đã tạo tiền đề thuận lợi cho địa bàn tiến bộ vững chắc
trong tương lai.
Nhìn chung kinh tế chủ đạo của toàn huyện là SXNLN. Các tài nguyên
thiên nhiên như thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn… của lãnh thổ là những điều
kiện thuận lợi để phát triển toàn diện các ngành kinh tế đặc biệt là phát triển
NLN. Bên cạnh đó, Thuận Châu vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn có điểm
xuất phát thấp về cả mặt kinh tế xã hội, là sự thiệt thòi về cơ sở vật chất kỹ
thuật của một huyện miền núi … khiến cho tiềm năng của huyện vẫn chưa
được khai thác đúng mức, khả năng tích luỹ nội tại từ nền kinh tế còn thấp

địa phương” do Vũ Tự Lập chủ biên. Kết quả nghiên cứu thể hiện trong “Tập
bản đồ địa lý địa phương Việt Nam” giai đoạn nghiên cứu 1987 – 1989. Xây
19


dựng 5 bản đồ cho Sơn La với tỷ lệ 1: 1.000.000 (gồm: BĐCQ, bản đồ dân
cư, bản đồ kinh tế, bản đồ tiềm năng, bản đồ quy hoạch), có 52 trong 85 Cảnh
địa lý thuộc khu vực Tây Bắc. Trên bản đồ quy hoạch thể hiện vùng sản xuất
NLN, các trung tâm công nghiệp, đô thị. Tuy nhiên bản đồ quy hoạch được
thể hiện trên tỷ lệ nhỏ 1:1.000.000 nên chỉ đưa ra được, cơ sở tư liệu giai đoạn
1987 – 1989 đến nay không còn tính thời sự. Song có thể thấy được công
trình trên có giá trị lớn về mặt phương pháp luận nhằm giải quyết vấn đề
nghiên cứu định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên trên mô hình một tỉnh.
Năm 1995, đề án ứng dụng KHCN “Xây dựng bộ bản đồ TNTN –
KTXH và cơ sở dữ liệu bản đồ và số liệu điều tra cơ bản tỉnh Sơn La” của
trung tâm KHTN và CNQG đã hoàn thành với hệ thống bản đồ tỷ lệ
1:1.000.000. Gồm: 15 vấn đề về ĐKTN và TNTN, 4 bản đồ về KT-XH, 3
bản đồ tổng hợp.
Năm 2005, luận án tiến sĩ của tác giả Lê Mỹ Phong với đề tài “Nghiên
cứu sử dụng hợp lý lãnh thổ Sơn La dưới các tác động của công trình thuỷ
điện”. Là cơ sở lý thuyết về CQ ứng dụng trên một lãnh thổ cụ thể, sử dụng
hệ thống tư liệu bản đồ của sở KH và CNMT Sơn La. Cập nhật thông tin về
hiện trạng sử dụng đất đến năm 1999, đã thành lập được seri bản đồ tỷ lệ 1:
250.000 gồm:
+ Bản đồ trắc lượng hình thái địa hình tỉnh Sơn La.
+Bản đồ CQ tỉnh Sơn La.
+Bản đồ đánh giá chức năng CQ tỉnh Sơn La.
+Bản đồ phân vùng chức năng CQ tỉnh Sơn La.
Tác giả đã chia Sơn La thành 115 loại CQ, phân thành 4 vùng chức năng.
Năm 2010, luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Anh Tuân về “Đánh giá

6
7

Các điều
kiện địa lý
Địa chất
Địa hình – địa
mạo
Khí hậu
Thủy văn
Thổ nhưỡng
Sinh vật
Kinh tế xã hội

Cấu trúc CQ

Các yếu tố đầu vào cho
SXNLN

Cấu trúc địa chất, nham
thạch

Đá tạo đất

Các kiểu và dạng địa hình

Mặt bằng cho sản xuất

Các kiểu khí hậu
Chế độ thủy văn

lượng cây trồng, quyết định cơ cấu cây trồng trong phát triển nông – lâm nghiệp.
- Chất lượng đất: được đánh giá qua các chỉ tiêu về loại đất, tầng dày
đất, thành phần cơ giới.
- Khả năng cung cấp nước: đây là một trong những nhân tố quan
trọng quyết định đến năng suất, sản lượng cây trồng và cần được đánh giá đặc
biệt với một lãnh thổ miền núi.
- Truyền thống sản xuất, lao động ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
nông lâm nghiệp, được đánh giá qua sự đầu tư vốn, kỹ thuật, công chăm sóc,
bảo vệ, định hướng phát triển.
Bên cạnh đó, còn người và những hoạt động sản xuất nông – lâm
nghiệp có tác động không nhỏ tới việc hình thành và phát triển của CQ hiện
đại, vừa thể hiện tác động ở mặt tích cực và cả tiêu cực đó là:
Tích cực: Làm thay đổi chế độ ẩm của các khu vực lãnh thổ khác nhau
nhờ điều tiết dòng chảy, giúp duy trì độ ẩm ổn định cho CQ; hình thành

CQ

nhân sinh góp phần điều khiển vật chất và năng lượng trong các hệ sinh thái
nông nghiệp, hệ sinh thái nông – lâm...; thay đổi bề mặt địa hình tạo nên các
quần thể kiến trúc,các CQ đô thị...

22


Nhưng tác động tiêu cực đó là: phá hủy cân bằng trọng lực của CQ qua
việc tạo ra những chất độc hại làm nhiễm bẩn nguồn nước, môi trường, phá
vỡ vòng tuần hoàn địa hóa; làm thay đổi vòng tuần hoàn ẩm và cán cân nước;
phá vỡ cân bằng sinh học và tuần hoàn sinh học của vật chất trong CQ; sự
biến đổi cán cân nhiệt của CQ; sự tiêu cực của các tác động công nghệ đối với
CQ,phá vỡ quy luật cấu trúc động lực của CQ.

con người trên lãnh thổ.
- Nghiên cứu phân hóa CQ với việc lập BĐCQ và phân vùng CQ
nhằm xác định chức năng của các tiểu vùng trong phát triển NLN.
- Phân nhóm CQ theo khả năng sử dụng cho NLN để từ đó đánh giá
CQ theo hướng tiếp cận KTST – một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lý ứng
dụng có vị trí và vai trò rất quan trọng trong định hướng quy hoạch phát triển
các loại cây trồng trên từng lãnh thổ cụ thể.
- Đề xuất định hướng cho quy hoạch bố trí các loại cây trồng hoặc
nhóm cây trồng chính theo lãnh thổ và áp dụng mô hình kinh tế sinh thái ở
các tiểu vùng CQ cho phát triển NLN.
1.2.3. Thực trạng khai thác và sử dụng CQ cho nông - lâm nghiệp
Việc khảo sát, điều tra, phân tích thực trạng quản lý, sử dụng và bảo vệ
CQ cho NLN là cơ sở thực tiễn rất quan trọng để định hướng sử dụng hợp lý
lãnh thổ cho phát triển NLN. Thực tiễn phân bố các tập đoàn cây trồng, vật
nuôi của người dân là một quá trình chọn lọc lâu dài theo kinh nghiệm. Vì
vậy, khi phân tích thực trạng khai thác, sử dụng CQ cho NLN cần tập trung
vào những vấn đề sử dụng tài nguyên khí hậu, đất, nước, dân số - lao động,
các hoạt động phân bố sản xuất để bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi, mùa vụ
trong NLN, cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn trong mối quan hệ tác động
qua lại lẫn nhau.
Kết quả so sánh thực tiễn khai thác và sử dụng CQ với tiềm năng vốn
có của nó (đã được xác định qua đánh giá, phân hạng thích nghi sinh thái CQ
cho các loại hình SXLNN) nhằm rút ra các vấn đề còn bất hợp lý cần giải
quyết trong định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ.
Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu thực trạng khai thác, sử dụng CQ là
một trong những cơ sở quan trọng để đề xuất định hướng tổ chức không gian,
đồng thời còn là cơ sở để đưa ra các giải pháp về quy hoạch sử dụng đất, phát

24


- Phù hợp về mức độ thích nghi sinh thái.
- Đảm bảo nhu cầu xã hội.
- Có hiệu quả kinh tế cáo nhưng không làm tổn hại đến môi trường
- Phù hợp với trình đô của người lao động, khả năng tiếp thu khoa
học công nghệ, tập quán sản xuất của địa phương...
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status