Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên - Pdf 80

1. Mở đầu

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
cao. Hiện nay cây chè đợc trồng ở nhiều nớc trên thế giới và tập trung nhiều
ở các nớc Châu á và châu Phi.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp với yêu cầu sinh thái, phát triển
của cây chè. Đến nay Việt Nam đã có trên 102.000 ha diện tích với sản lợng
97.000 tấn.
Cây chè là một loại nớc uống phổ biến, đợc sử dụng rộng rãi ở nhiều
nớc trên thế giới. Cây chè cũng là một loại cây có tác dụng bảo vệ sức khoẻ
cho con ngời, nớc chè chống đợc lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ bắp
và hệ thần kinh, làm tinh thần minh mẫn, thoải mái sau thời gian lao động.
Hiện nay nhu cầu của thị trờng tiêu thụ sản phẩm chè trong nớc và
xuất khẩu ra thế giới ngày càng tăng cao, thu nhập từ cây chè ổn định và có
nhiều cơ hội phát triển, chính vì vậy mục tiêu phát triển của cây chè đang
đợc quan tâm. Xu hớng hiện nay ngoài mở rộng diện tích là thâm canh tăng
năng suất, chất lợng và mở rộng diện tích trên các vùng đất có khả năng phát
triển.
Cây chè là một loại cây có thể sống và sinh trởng ở nhiều nơi, tuy
nhiên để có năng suất cao và chất lợng tốt thì chỉ tập trung ở các vùng chè
nh Tân Cơng, Suối Giàng Thái Nguyên là một vùng chè trọng điểm
trong cả nớc với diện tích 15.700 ha, trong đó có trên 13.000 ha chè kinh
doanh với sản lợng hàng năm là 19.000 tấn chè khô. Ngời dân có nhiều
kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến chè. Chè Thái Nguyên nổi tiếng
trong cả nớc không chỉ về quy mô mà còn do chất lợng ngon đặc trng của
nó. Sản phẩm chè Tân Cơng của Thái nguyên đã nổi tiếng trong cả nớc và

1
trên thế giới. Hiện nay cây chè đang đợc coi là cây trồng mũi nhọn của tỉnh.
Trồng chè không những khai thác tốt tiềm năng vốn có về điều kiện khí hậu,

Bình tỉnh Thái Nguyên
1.2. Mục đích của đề tài
Xác định các loại đất phù hợp cho việc phát triển diện tích đất trồng chè
ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên theo hớng sản xuất hàng hoá và phát
triển bền vững.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đất đai
đến khả năng mở rộng diện tích đất trồng chè của huyện Phú Bình.
- ứng dụng quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất
theo FAO trên diện tích đất vùng gò đồi của huyện, tìm kiếm xác định quỹ đất
phù hợp có khả năng phát triển cây chè.
- Xác định đợc các yêu cầu sử dụng đất cuả các đơn vị đất đai đối với
cây chè.
- Xác định đợc những thuộc tính của loại hình sử dụng đất trồng chè,
đối chiếu với các yêu cầu sử dụng đất của các LMU để làm cơ sở cho đề xuất
phát triển diện tích đất trồng chè.
- Xây dựng lên bản đồ các khu vực có khả năng trồng chè từ đó đa ra
định hớng khuyến cáo đầu t phù hợp cho từng đơn vị đất đai có khả năng
trồng chè tại địa phơng. 3
2. Tổng quan
2.1. cây chè và yêu cầu sinh thái của cây chè
2.1.1 Khái quát chung về cây chè
Chè có nguồn gốc từ Trung Quốc đợc truyền bá khắp thế giới, cây chè
có lịch sử rất lâu đời, từ khi phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát triển đến nay

Diễn biến của sản xuất và thị trờng chè trong những năm cuối của thế
kỷ XX cho thấy đã xuất hiện những xu thế sau:
- Sản lợng và nhu cầu về chè không phân bổ đều theo địa lý. Châu á-
quê hơng của chè luôn luôn có tính quyết định quan trọng cho ngành chè
toàn cầu.
- Do lợng chè đợc giữ ngày càng nhiều tại các nớc sản xuất chè
châu á nên lục địa châu Phi nh là một xơng sống của thị trờng xuất khẩu
đợc dự đoán là tăng lên.
- Do những tác dụng đối với sức khoẻ và sự nhận thức toàn cầu về cuộc
sống lành mạnh, dự báo nhu cầu chè xanh sẽ tăng mạnh. Báo cáo của FAO chỉ
ra rằng, xuất khẩu chè xanh toàn cầu sẽ tăng lên 6,1% đến năm 2010. Một số
nớc, đặc biệt là Việt Nam đang có kế hoạch phát triển chè đầy triển vọng
nhằm đẩy mạnh sản lợng chè xanh của mình.
- Nhu cầu tiêu dùng các loại chè túi nhúng, chè bột, chè hòa tan ngày
càng gia tăng, nhất là ở những nớc công nghiệp phát triển. ở những nớc
này, chỉ còn khoảng 5 - 10% chè rời đợc dùng để pha uống.
- Thị trờng chè thế giới chịu sự cạnh tranh găy gắt giữa chính các nớc
sản xuất cung ứng chè. Hầu hết các nớc sản xuất và cung ứng chè đều là
những nớc đang phát triển. Chè vừa là nguồn thu ngoại tệ vừa là cây trồng
giải quyết việc làm và đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho bộ phận không nhỏ
ngời lao động.
- Đối với ngành chè Việt Nam, thị trờng chè trong nớc còn lớn, thị

5
trờng nớc ngoài đang mở rộng nhng chịu sự cạnh tranh ngày càng quyết
liệt. Quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và Quốc tế của nớc ta ngày càng
diễn mạnh mẽ. Đây là một cơ hội nhng cũng là một thách thức to lớn đối với
các ngành sản xuất kinh doanh ở trong nớc nói chung, ngành chè nói riêng.
Trong bối cảnh của thị trờng chè thế giới hiện nay, nâng cao sức cạnh tranh
của sản phẩm chè là vấn đề bức thiết của ngành chè nớc ta. [4]

thoát nớc tốt có lợi cho sự phát triển của bộ rễ và vi sinh vật trong đất.
+ Thành phần cơ giới: đất thịt pha cát đến đất thị nặng, loại đất này có
chế độ nớc và không khí điều hoà, nên thuận lợi cho các quá trình hoá học và
sinh vật trong đất.
+ Mực nớc ngầm: phải dới 100 cm, vì cây chè không chịu ngập nớc
lâu, trồng ở đất trũng sẽ bị chết úng.
- Đặc tính hoá học [12]
+ Độ chua (pH
KCl
) : là chỉ tiêu quyết định đời sống cây chè, ở đất trung
tính hay kiềm, chè gieo mọc những chết dần. Độ chua thuận lợi nhất cho cây
chè là 4,5 - 5,5; giới hạn dới là 4,0 và giới hạn trên là 6,0 trên toàn bộ độ sâu
rễ chè. Cây chè u chua những không kỵ vôi, nên đất quá chua có thể bón
thêm vôi.
+ Mùn: là chỉ tiêu quan trọng, vừa là kho dự trữ dinh dỡng vừa có tác
dụng cải tạo thành phần cơ giới, tăng khả năng hấp thụ và giữ chất dinh
dỡng.
+ Chất dinh dỡng: trong lá chè có 17 nguyên tố hoá học, quan trọng
nhất là N,P,K.
+ Các yếu tố vi lợng nh Mn, Bo, Zn, Cu đều ảnh hởng đến chất
lợng chè.
2.1.2.2 Điều kiện địa hình
- Điều kiện độ cao
Độ cao so với mặt biển có ảnh hởng quyết định đến chất lợng chè,

7
cây chè trồng ở vùng cao có chất lợng cao hơn, ảnh hởng đến hàm lợng
tanin và tinh dầu hơng thơm.
Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời đã trên thế giới đã chứng minh các
loại danh trà nổi tiếng có nhiều ở các vùng núi cao nh chè Hoàng sơn mao

là những điều kiện thuận lợi phù hợp cho cây chè.
Theo nghiên cứu [7][9][10][12] cho thấy: chè là cây u ẩm, nếu lợng
ma yêu cầu khoảng trên 1500mm đợc phân bổ đều cho các tháng, sẽ là điều
kiện thuận lợi để cây chè tích luỹ đợc nhiều chất polyphenol. Các tháng có
lợng ma lớn (tháng 5-10) trên 100mm thu hoạch bút chè đạt trên 10% sản
lợng chè cả năm, tháng có lợng ma trung bình (tháng 3-4) thu hoạch chè
đạt 5-10%, còn các tháng có lợng ma thấp (tháng11-12), thu hoạch chè chỉ
đạt dới 5%. Ma (chế độ nớc) ảnh hởng trực tiếp đến năng suất của cây
chè. Chính vì vậy, chế độ tới chủ động, tới nớc kết hợp với tủ gốc giữ ẩm
cho chè góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất chè. Vấn đề thuỷ lợi cần đợc
chú trọng trong lựa chọn các khu vực trồng chè.
- Điều kiện nhiệt độ:
Nhiệt độ không khí thuận lợi cho cây chè sinh trởng là 22 - 28
0
C, chè
sinh trởng chậm ở nhiệt độ 15 - 18
0
C, và sinh trởng rất chậm khi dới 10
0
C
và trên 30
0
C. Nếu nhiệt độ trên 40
0
C thì cây chè sẽ khô sém nắng ở bộ phận
non. Tuy nhiên, khả năng chịu rét tuỳ thuộc vào loại chè, chè Shan thì chịu rét
tốt.
Các nghiên cứu cho thấy: nhiệt độ ảnh hởng nhất định đến quá trình
nảy chồi của cây chè, giống chè nảy chồi khi lợng tích nhiệt là 400
0

Cây chè đợc phân bố rộng khắp trên thế giới, đến nay trên thế giới đã có
trên 58 quốc gia phát triển sản xuất chè ở các quy mô khác nhau.
Tổng diện tích và tổng sản lợng chè thế giới theo thống kê năm 2004 là
2.460,9 nghìn ha chè và tổng sản lợng đạt 3169 nghìn tấn với năng suất
trung bình trên thế giới đạt 12,99 tạ/ha. [5]
Cùng với tốc độ tăng trởng sản xuất chè, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, xuất,
nhập khẩu chè ngày càng tăng. Theo đánh giá của tổ chức FAO, trong thời
gian 10 năm (1990-2000), mức tăng sản lợng chè trên thế giới vào khoảng
2,8 - 3,2 %/năm. Mức tiêu thụ chè trên thế giới tăng bình quân là 2,9 %/năm.
Theo đánh giá thị trờng chè thế giới bị chi phối bởi một số nớc sản xuất
mạnh. ấn Độ, một nớc sản xuất chè nhất chiếm khoảng 30% sản lợng chè
toàn cầu, sau đó là Trung Quốc 24%, Sri Lanka 10%. Bốn nớc sản xuất chè

10
lớn nhất (ấn Độ,Trung Quốc, Sri Lanka và Kenya) có lợng chè sản xuất
chiếm tới 70%, sáu nớc lớn nhất chiếm 80 % và 10 nớc lớn nhất (trong số
này Việt Nam đứng thứ 8) chiếm hơn 90% lợng chè sản xuất toàn thế giới.
Điều này hoàn toàn ổn định trong những năm gần đây. [4][5]
Châu á vẫn là châu lục sản xuất chè lớn nhất trong các châu lục, chiếm
gần 80% mà đại diện bởi 3 ngời khổng lồ là ấn Độ, Trung Quốc và Sri
Lanka. Sự xuất hiện của một số nớc sản xuất chè mới ở Đông Phi là một hiện
tợng hoàn toàn mới trong lịch sử ngành chè và nổi lên nh một nhân tố chính
trong sản xuất và xuất khẩu chè thế giới .
Xét trên phơng diện về diện tích trồng chè và sự phong phú về giống, sự
đa dạng của sản phẩm sự tiêu thụ chè trong nhiều nớc, thì hiện nay Trung
Quốc, ấn Độ, Sri Lanka, Kenialà những nớc sản xuất, tiêu thụ và xuất
khẩu chè lớn lớn trên thế giới. Các nớc này chiếm 66% sản lợng xuất khẩu
chè trên toàn thế giới.
Theo thống kê, những nớc sản xuất chè lớn nhất trên thế giới cũng là
nớc tiêu thụ nhiều chè nhất. Tỷ trọng tiêu dùng chè so với tổng sản lợng của

gia Châu Âu còn lại. Trong những năm gần đây, Nga nổi lên nh là một trong
những tâm điểm trên thị trờng nhập khẩu chè.
Có thể thấy, thị trờng chè thế giới rất sôi động. Nhu cầu tiêu thụ ngày
càng tăng, tuy nhiên cũng đòi hỏi chất lợng chè ngày càng cao. Đó là những
tín hiệu tốt cho ngành chè Việt Nam phát triển, tuy nhiên những đặt ra những
yêu cầu về cạnh tranh găy gắt trên thị trờng, đòi hỏi sản phẩm chè Việt Nam
không ngừng nâng cao chất lợng và thơng hiệu của mình.
2.1.2 Tình hình phát triển cây chè ở Việt Nam
Cây chè ở nớc ta đã có từ lâu đời, sản xuất chè đã trở thành một ngành
kinh tế - kỹ thuật có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng
có uy tín trên thị trờng quốc tế.

12
Do điều kiện tự nhiên của vùng trung du và miềm núi nớc ta rất thích
hợp với sự phát triển của cây chè, thời gian cho búp hàng năm của cây chè từ 9
đến 10 tháng và thậm chí những vùng cho búp quanh năm nếu nh điều kiện
tới tiêu chủ động. Trong khi nhiều nớc trên thế giới điều kiện tự nhiên cho
phép trồng chè nhng thời gian cho búp chỉ từ 5 đến 7 tháng trong năm. Điều
này chứng tỏ những lợi thế về điều kiện tự nhiên của Việt Nam.
Cho đến nay, chè Việt Nam đã đợc bán ở 59 nớc thuộc cả 5 châu lục.
Trong tổng số trên 90 nghìn tấn chè của cả nớc năm 2002, chè xuất khẩu đạt
71 nghìn tấn, chiếm gần 80%. Tỷ lệ này đã đa Việt Nam đứng vào hàng thứ
ba, sau Sri Lanka và Kenya về tỷ trọng xuất khẩu. Nh vậy, chè Việt Nam đã
gia tăng thị phần, dù còn ở mức khiêm tốn (khoảng 6% lợng xuất khẩu toàn
cầu). Trong 7 năm (1997-2003), số nớc và vùng lãnh thổ nhập chè của Việt
Nam đã tăng gấp đôi (năm 1997: 30 nớc, 2003: 59 nớc), sản lợng xuất
khẩu tăng hơn 2 lần. Đó là do sản phẩm đã đa dạng hơn, đã xoá bỏ hẳn độc
quyền xuất khẩu (hiện có khoảng 140-150 công ty đủ mọi thành phần tham
gia xuất khẩu chè) và các nhà xuất khẩu đã năng động hơn trong việc tìm
kiếm thị trờng. [4][5]

7 Yên Bái
12.005
8 Phú Thọ
9.707
9 Lâm Đồng
24.762

Nguồn: Tổng Cty chè Việt Nam

Chè là cây công nghiệp lâu năm phát triển không bột phát nh những
cây công nghiệp lâu năm khác nh cà phê, cao su, hồ tiêu, cây chè phát triển
ổn định và vững chắc.
Đặc biệt từ khi có quyết định số 43/1999/QĐ-TTg ngày 10/3/1999 của
Thủ Tớng Chính Phủ về kế hoạch sản xuất chè năm 1999 - 2000 và định
hớng phát triển chè đến năm 2005 - 2010 thì ngành chè Việt Nam đã có
bớc phát triển quan trọng. [4][5]
Mục tiêu phát triển của ngành chè là nâng cao chất lợng, sản lợng và
tính cạnh tranh của sản phẩm, với giá thành hợp lý, tiêu thụ chè ổn định, đợc
giá, chiếm đợc tín nhiệm lâu dài trên thị trờng xuất khẩu và trong nớc, góp
phần tăng kim ngạch xuất khẩu, làm tốt nghĩa vụ đối với nhà nớc, tích luỹ tái
sản xuất mở rộng và nâng cao thu nhập, đời sống vật chất văn hoá, kỹ năng kỹ
xảo, nghiệp vụ quản lý và nhiệt tình lao động của những ngời làm chè,
xâyđựng ngành chè Việt Nam phát triển và bền vững.
14
Bảng 02: Diện tích phát triển cây chè thời kỳ 1990 - 2002
Diện tích Sản lợng
Năm

1999
Năm
2002
Năm
2005
Năm
2010
Tổng DTchè cả nớc

ha
77.142 108.207 116.000 125.000
- Tỷ trọng chè giống mới
%
- 5,5 15 - 20 25 - 30
- DT chè kinh doanh
ha
70.192 81.460 99.600 124.000
- Năng suất bình quân
tấn/ha
4,3 5,2 6,3 6,6
- Sản lợng búp tơi
tấn
268.200 427.911 627.000 813.000
- Sản lợng chè khô
tấn
59.600 95.000 139.000 180.000
- Sản lợng xuất khẩu
tấn
37.000 71.202 110.000 140.000
- Kim ngạch xuất khẩu

nhiên là 3.541,1 km
2
, dân số là 1.083.779 ngời (niên gián thống kê 2004).
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính cấp huyện với 180 xã, phờng. Tỉnh
có vị trí thuận lợi, là điểm hàng hội tụ và giao lu phát triển kinh tế xã hội
giữa miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng.

16
Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho sự sinh trởng phát
triển cây chè, cây chè xuất hiện từ rất lâu đời trên đất Thái Nguyên. Tuy
nhiên, chỉ đến thập kỷ 60 - 70 nó mới thực sự phát triển nhanh và mạnh mẽ.
Đến năm 2004, tổng diện tích chè ở Thái Nguyên là 15.700 ha, trong đó diện
tích chè kinh doanh là 13.000 ha, năng suất bình quân đạt 73,01 tạ/ha, sản
lợng đạt 95.000 tấn búp tơi, đứng thứ hai trên cả nớc về diện tích và sản
lợng, sau Lâm Đồng.
Qua bảng 04 có thể thấy, diện tích, năng suất, sản lợng chè Thái
Nguyên liên tục tăng qua các năm, đặc biệt là sự tăng nhanh của chỉ tiêu năng
suất và sản lợng. Điều này cho thấy chủ trơng đầu t phát triển cây chè của
tỉnh đã đạt đợc hiệu quả cao.
Trong những năm gần đây, thị trờng chè Thái Nguyên tơng đối ổn
định và có lợi cho ngời làm chè. Chè Thái Nguyên đợc tiêu thụ trong cả
nớc và có uy tín rất cao về sản phẩm chè xanh, thị trờng xuất khẩu chính
của Thái Nguyên là Đài Loan, Nhật Bản và Nga Đặc sản chè Tân Cơng đã
trở thành sản phẩm nổi tiếng.
Bảng 04: Diện tích, năng suất, sản lợng chè Thái Nguyên
Năm
Tổng diện
tích
Diện tích
kinh doanh

đối ổn định và đem lại lợi nhuận tơng đối cho ngời trồng chè. Hiện nay, chè
Thái Nguyên tiêu thụ trong nớc là chủ yếu, chiếm 70% tổng sản lợng do
chè Thái có uy tín cao về sản phẩm chè xanh. Số còn lại đợc các nhà máy
chế biến chè đen và chè xanh xuất khẩu ra các thị trờng Đài Loan, Nhật Bản
và Nga. Thái nguyên có tiềm năng lớn trong sản xuất chè về điều kiện tự
nhiên, khí hậu, về kinh nghiệm sản xuất chế biến Trong giai đoạn hội nhập
tới, cần có đầu t phát triển sản xuất và mở rộng thị trờng xuất khẩu, đẩy
mạnh hoạt động sản xuất chè. Góp phần đa nghành chè Việt Nam phát triển
hơn nữa.
Tình hình phát triển cây chè ở Phú Bình
Tại huyện Phú Bình, diện tích cây chè hiện nay với ở con số khiên tốn.
Theo thống kê 2005, diện tích là trên 124,2 ha, so với năm 2004 tăng trên 70
ha. Tuy cha thực sự là một địa phơng có cây chè phát triển nh một số vùng
khu vực khác của tỉnh Thái Nguyên, nhng chính quyền địa phơng hết sức
quan tâm. Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2005 đến 2010,
huyện phấn đấu đa diện tích chè lên 500 ha, bằng cách chuyển đổi, cải tạo
diện tích đất vờn tạp và thay thế diện tích đất trồng rừng sản xuất kém hiệu

18
quả hiện nay. Việc lựa chọn dựa trên cơ sở nghiên cứu xác định các khu vực
thích hợp để phát triển cây chè đang là yêu cầu đặt ra.
2.3 cơ sở khoa học và thực tiễn của phơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu về đánh giá đất
2.2.1.1 Sự cần thiết của đánh giá đất
Hiện nay, sự hạn chế về số lợng và sự giới hạn về không gian của
nguồn tài nguyên đất đai cũng tạo lên sức ép không nhỏ trong hoạt động kinh
tế - xã hội phát triển sản xuất của xã hội con ngời. Thực tế ở các nớc đang
phát triển quá trình sử dụng đất một cách tràn lan, chủ quan, tự phát vô hình
chung đã và đang gây ra những nguy cơ đối với con ngời: đất đai bị sử dụng
không hiệu quả, thiếu khoa học, không đợc bảo vệ tu bổ dẫn đến xói mòn rửa

định phục vụ cho việc định hớng phát triển, quy hoạch vùng chuyên canh
là những yêu cầu thực tế cần phát triển và thực hiện trong quá trình tiến tới
xây dựng một nền nông nghiệp bền vững.
2.2.1.2 Nội dung và yêu cầu đánh giá đất
Nội dung đánh giá đất [25]
Trong những thập niên 60 - 70, nhiều quốc gia trên thế giới có những
nghiên cứu phát triển hệ thống phơng pháp đánh giá đất cho mình. Trong
hoàn cảnh đó các nhiều khoa học đất nhận thấy phải có sự thống nhất và tiêu
chuẩn hoá hệ thống đánh giá đất trên phạm vị toàn cầu, đông thời nhận thấy
sâu sắc đợc tầm quan trọng của công tác đánh giá đất, phân hạng, đó là cơ sở
cho công tác quy hoạch sử dụng đất. Tổ chức Nông - Lơng của Liên hợp
quốc (FAO) đã tập hợp các nhà khoa học đất và các chuyên gia đầu nghành về
nông nghiệp để tổng hợp các kết quả và kinh nghiệm đánh giá đất đai của các
nớc, xây dựng nên tài liệu "Đề cơng đánh giá đất đai" (FAO, 1976). Tài liệu
này đã đợc nhiều nớc trên thế giới quan tâm thử nghiệm và vận dụng vào
công tác đánh giá đất ở nớc mình và đợc công nhận là phơng tiện tốt nhất
để đánh giá đất đất sản xuất nông lâm nghiệp. Tiếp theo tài liệu này, hàng loạt

20
các tài liệu hớng dẫn đánh giá đất đai cho các đối tợng cụ thể đợc công bố
nh:
- Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nớc trời (FAO, 1983)
- Đánh giá đất đai cho vùng đất rừng (FAO, 1984)
- Đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tới (FAO, 1985)
- Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển (FAO, 1986)
- Đánh giá đất đai cho đồng cỏ chăn thả (FAO, 1989)
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử
dụng đất (FAO, 1994).
- Đánh giá và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất
(1992).

xuất.
- Mức độ thực hiện đánh giá đất phụ thuộc vào cấp tỷ lệ bản đồ.
2.2.1.3 Nghiên cứu đánh giá đất ở vùng trung du, miền núi
Khái niệm và công việc đánh giá đất, phân hạng đất đã xuất hiện từ rất
lâu ở nớc ta, từ thời kỳ phong kiến để tiến hành việc thu thuế đất đã có sự
phân chia tứ hạng điền - lục hạng thổ.
Sau hoà bình lập lại (1954), vụ Quản lý ruộng đất và Viện nông hoá thổ
nhỡng và sau này Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp đã có những công
trình nghiên cứu và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm
tăng cờng công tác quản lý đất.
Hiện nay, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã và đợc đẩy mạnh
theo hớng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông lâm nghiệp bền vững.
Chơng trình xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các cấp
đòi hỏi ngành quản lý đất đai phải có những thông tin và dữ liệu về tài nguyên
đất và khả năng khái thác sử dụng bền vững diện tích đất nông lâm nghiệp.
Công tác đánh giá đất không chỉ dừng ở mức phân hạng chất lợng tự nhiên
của đất mà phải chỉ ra đợc các loại hình sử dụng đất thích hợp cho từng hệ
thống sử dụng đất khác nhau với nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp. Vì

22
vậy, các nhà khoa học cùng với các nhà quy hoạch đã tiếp thu các tài liệu
đánh giá đất của FAO, từng bớc ứng dụng vào Việt Nam. Qua nhiều năm,
nhiều dự án nghiên cứu, nhiều chơng trình áp dụng quá trình đánh giá đất đã
đợc thực hiện và đạt kết quả khả quan.
Bùi Quang Toản (1970) cùng một số cán bộ khoa học của Viện Thổ
nhỡng Nông hoá nh Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tĩnh, Nguyễn Văn Thân.... đã
thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286
hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh. Các kết quả bớc đầu đã phục vụ thiết thực
cho công tác tổ chức lại sản xuất. Từ các kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang
Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các hợp tác xã và

của Nguyễn Khang, Phạm Dơng Ưng, Nguyên Văn Tân, Đỗ Đình Đài. Các
kết quả nghiên cứu đã xác định đợc Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54
đơn vị sinh thái nông nghiệp, đã có những đóng góp to lớn cho việc sử dụng
đất hiệu quả hơn.
Trong hội thảo Quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên
quan điểm sinh thái và bền vững (1995) Tác giả Nguyễn Văn Tuyển đã đa ra
Một số kết quả nghiên cứu bớc đầu về đánh giá đất ở tỉnh Kom-Tum. Các tác
giả Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân có kết quả nghiên cứu về Đánh giá đất
đai vùng dự án đa mục tiêu EASOUP ĐAKLAK;
Cùng với những thành tựu lớn đối với vùng, lãnh thổ lớn (phạm vi tỉnh
và lớn hơn) thì công tác nghiên cứu đánh giá đất đai với quy mô lãnh thổ hẹp
(phạm vi cấp huyện) trong những năm gần đây cũng đang đợc đẩy mạnh
nhằm phục vụ mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp theo hớng đa dạng hoá
sản phẩm nh các đề tài nghiên cứu nh: Tác giả Đoàn Công Quỳ (2000)
nghiên cứu Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Đại Từ -
Tỉnh Thái Nguyên [5]; Tác giả Hà Thị Thanh Bình (2002) nghiên cứu về Kết
quả đánh giá đất huyện Lâm Thao - Phú Thọ; Tác giả Vũ Thị Bình (2004) đã
tiến hành đề tài Điều tra đánh giá thích hợp đất đai huyện Cao Lộc, Lạng

24
Sơn Các tác giả khác thực hiện công tác đánh giá đất tại các địa phơng
trong các luận văn thạc sỹ nh: tác giả Nguyễn Thị Kim Yến (2003) vận dụng
phơng pháp đánh giá đất theo FAO nhằm định hớng sử dụng đất sản xuất
nông lâm nghiệp huyện Điện Biên Lai Châu
Có thể thấy, đến nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu những công
trình về đánh giá đất phục vụ cho nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và
định hớng quy hoạch. Công tác đánh giá đã mang lại những thành tựu to lớn
trong quá trình đa sản xuất nông nghiệp nớc ta theo quan điểm bền vững.
2.2.2 Bản đồ đơn vị đất đai
2.2.2.1 Khái quát chung về đơn vị bản đồ đất đai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status