ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG TRƯỜNG CHINH Tên đề tài:“NGHIÊN CỨU BỔ XUNG MEN TIÊU HÓA (BACIFO) ĐỂ TĂNG
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÒNG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở
LỢN (YORKSHIRE
×
LANDRACE)
TỪ 60 - 150 NGÀY TUỔI
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
TỪ 60 - 150 NGÀY TUỔI
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Lớp : 42 CNTY - N01
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. Ngô Nhật Thắng
Khoa Ch¨n nu«i - Thó y - Tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Mở đầu trang khóa luận tốt nghiệp em xin được trân trọng gửi lời cảm
ơn tới giám hiệu nhà Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ
nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y, các thầy đang công tác và giảng dạy trong
khoa đã dạy dỗ dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt em xin được gửi lời cảm ơn trân thành và sâu sắc tới thầy
bộ chương trình học tập tại trường. Giai đoạn học tập tốt nghiệp chính là cơ
hội để sinh viên củng cố và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng
thời nâng cao chuyên môn bồi dưỡng lòng hăng say nghề nghiệp.
Thực tập tốt nghiệp không những đào tạo cho sinh viên những kiến
thức khoa học áp dụng vào thực tiễn sản xuất mà còn tạo tinh năng động, sáng
tạo “Dám nghĩ, dám làm” để sau nay rời ghế nhà trường trở thành những bác sĩ
thú y, kỹ sư chăn nuôi có năng lực tốt, chuyên môn giỏi để đáp ứng nhu cầu
của xã hội.
Được sự nhất trí của Khoa Chăn Nuôi Thú Y - Trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên và sự tiếp nhận của cơ sở tôi đã về thực tập tại Công ty
CNHH và PTNTT Nam Sơn thuộc thị trấn Hương Sơn- Huyện Phú Bình-
Tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ tận tình của thầy
giáo hướng dẫn Th.s Ngô Nhật Thắng và các cán bộ công nhân viên tại công
ty, cùng với sự cố gắng của bản thân tôi đã hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu
bổ sung men tiêu hóa (Bacifo) để tăng khả năng sinh trưởng, phòng hội
chứng tiêu chảy ở lợn (Yorkshire
×
Landrace)
từ 60 - 150 ngày tuổi tại
huyện Phú Bình, Tỉnh Thái Nguyên”.
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm
chưa nhiều nên bản khóa luân này chắc chắn không tránh khỏi những sai sót.
Rất mong nhận được những thông cảm và những góp ý báu của các thầy cô
giáo, các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Sinh Viên
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 18
2.2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 18
2.2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn 18
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn 20
2.2.1.3. Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn. 22
2 2.1.4. Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy. 24
2.2.1.5. Những hiểu biết về men Bacifo. 29
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. 30
2.2.2.1. Kết quả sủ dụng men Bacifo trong chăn nuôi lợn. 30
2.2.2.2. Vấn đề sử dụng một số chế phẩm trong chăn nuôi. 32
2.3. ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành. 33
2.3.3. Nội dung nghiên cứu 33
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.4.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 34
2.3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán 35
2.4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 37
2.4.1. Ảnh hưởng của Bacifo đến khả năng sinh trưởng của lợn 37
2.4.1. Sinh trưởng tích lũy 37
2.4.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối 39
2.4.1.3. Sinh trưởng tưởng đối 40
2.4.2. Ảnh hưởng của men Bacifo đến khả năng sử dụng thức ăn của lợn 42
2.4.3. Ảnh hưởng của men Bacifo tới khả năng phòng chống bệnh tiêu chảy43
2.4.4. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy theo lứa tuổi 45
2.4.5. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng men Bacifo 46
2.5. Kết Luận - Tồn Tại Và Đề Nghị 48
2.5.1. Kết luận 48
2.5.2. Tồn tại 48
1 PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1.Điều tra cơ bản
1.1.1.Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Công ty TNHH và PTNT Nam Sơn là đơn vị thuộc thị trấn Hương Sơn
của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Trên địa bàn có đường quốc lộ 37
2 Tài nguyên đất đai của Phú Bình có nhiều chủng loại nhưng phân bố
không tập trung. Nhìn chung đất đai Phú Bình được đánh giá là có chất lượng
xấu, nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước và giữ ẩm kém, độ mùn tổng
số thấp từ 0,5% đến 0,7%, độ PH cao từ 4 đến 5. Với tài nguyên đất đai như
vậy, hiệu quả sản xuất nông nghiệp không cao. Tuy nhiên, đối với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi cần lấy đất ở một số vùng để xây dựng các
khu công nghiệp, chi phí đền bù đất sẽ thấp hơn nhiều so với các vùng đồng
bằng trù phú và ít ảnh hưởng tới an ninh lương thực của quốc gia hơn.
Trong diện tích đất lâm nghiệp của huyện hiện không còn rừng tự
nhiên. Toàn bộ diện tích 6.218 ha rừng của huyện là rừng trồng, chủ yếu là
cây keo.
Nhìn chung, diện tích đất đai nông nghiệp, lâm nghiệp của huyện trong
thời gian qua tuy có giảm nhưng không biến động lớn. Cơ cấu đất sản xuất
nông nghiệp cũng không thay đổi nhiều.
Diện tích đất phi nông nghiệp tuy có tăng nhưng không nhiều. Trong đó
đất ở ít thay đổi. Diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên chủ yếu do xây dựng
cơ sở hạ tầng, phát triển một số khu công nghiệp và công trình công cộng.
Diện tích đất chưa sử dụng của huyện không đáng kể, chỉ chiếm 0,5% diện
tích đất tự nhiên. Điều đó chứng tỏ quỹ đất của huyện về cơ bản đã được khai
thác hết.
1.1.1.3. Điều kiện khí hậu thủy văn
Khí hậu của Phú Bình mang đặc tính của khí hậu của miền núi trung du
Bắc Bộ. Khí hậu của huyện thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm hai mùa rõ
rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng tư
năm sau. Mùa hè có gió Đông Nam mang về khí hậu ẩm ướt. Mùa đông có
gió mùa Đông Bắc, thời tiết lạnh và khô.
1.1.2.1. Dân số và nguồn lao động.
Theo số liệu do Phòng Thống kê và Phòng Lao động - Thương binh và
Xã hội huyện Phú Bình cung cấp, tính đến cuối năm 2008, dân số của toàn
huyện Phú Bình là 146.086 người, với mật độ dân số trung bình là 586
người/km
2
. Mật độ dân số không đều giữa các xã trong huyện, các xã có mật
độ dân số cao trên 1000 người/km
2
là Nhã Lộng, Thanh Ninh và Hà Châu.
Các xã có mật độ dân số thấp dưới 400 người/km
2
gồm Bàn Đạt, Tân Khánh,
Tân Kim và Tân Thành.
Trong số 146.086 nhân khẩu có 83.269 người trong độ tuổi lao động,
trong đó có 78.886 lao động đang làm việc trong nền kinh tế. Đây vừa là
nguồn lực cho phát triển kinh tế, vừa là sức ép đối với vấn đề lao động và việc
làm của huyện trong những năm triển khai quy hoạch. Năm 2008 có 2.266 lao
động được giải quyết việc làm, 2.765 lao động được đào tạo nghề. Phân theo
ngành, năm 2008 lao động nông nghiệp có tỷ trọng lớn nhất với 67.500 người,
chiếm 78% tổng số lao động của toàn huyện.
Đánh giá một cách tổng quan, nguồn lao động của Phú Bình tuy khá dồi
dào nhưng chủ yếu là lao động giản đơn, sinh sống bằng nghề nông. Tỷ lệ lao
động được đào tạo nghề còn thấp. Vấn đề tạo việc làm trên địa bàn bàn huyện
còn nhiều hạn chế. Lực lượng lao động trẻ, được đào tạo nghề thường thoát ly
khỏi địa bàn, đi tìm việc làm tại các huyện hoặc tỉnh khác. Những đặc điểm
về dân số và nguồn lao động như vậy sẽ tạo ra cho Phú Bình cả những thuận
lợi và những khó khăn trong phát triển kinh tế, đặc biệt là trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Lợn con sơ sinh 675 945
Lợn thịt 500 41000
1.1.3.1. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt.
Do diện tích của cơ sở không nhiều cho nên ngành trồng trọt không
được phát triển mạnh. Chủ yếu là một số cây ăn quả, cây tạo bóng mát.
5 1.1.4. Nhận định chung
1.1.4.1. Thuận lợi
Do công ty là nhà phân phối thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi nên
nguồn thức ăn giảm được chi phí. Ngoài ra công ty còn có những nhân viên
kỹ thuật có tay nghề cao và được đào tạo chuyên nghiệp.
1.1.4.1. Khó khăn
Là công ty chuyên về phân phối thuốc và thức ăn chăn nuôi nên về
chuồng trại vẫn chưa được chú trọng, quan tâm và đầu tư.
Do chăn nuôi lợn là ngành có chu kỳ sản xuất dài, tốc độ quay vòng
vốn chậm nên nâu thu hồi vốn. Mặt khác để đầu tư cho một chu kỳ sản xuất
phải đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn, trong khi đó kinh phí đầu tư cho
sản xuất còn hạn hẹp.
1.1.5. Phương hướng sản xuất
Phương hướng vạch ra của công ty là:
- Tiếp tục phát triển quy mô chuồng trại.
- Thay thế một số trang thiết bị để củng cố lại số lượng của đàn lợn.
1.2. Nội dung thực hiện
Để hoàn thành tốt trong thời gian thực tập, tôi đã căn cứ vào kết quả
điều tra cơ bản trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn của cơ
sở, áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế sản xuất,
phát huy những thuận lợi sẵn có của cơ sở, khắc phục những khó khăn về
trang thiết bị để hoàn thành tốt công việc.
1.2.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.2.3.1. Công tác vệ sinh chăn nuôi
Công tác vệ sinh chăn nuôi là một trong những khâu quan trọng và quyết
định đến thành quả chăn nuôi, bao gồm tổng hợp nhiều yếu tố, không khí, đất
nước,… hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này nên trong suốt quá trình thực
tập, tôi cùng với cán bộ tại cơ sở thực hiện tốt qui định vệ sinh thú y.
Quan tâm tới bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi (Luôn thoáng mát vào mùa
hè ấm áp vào mùa đông). Hàng ngày tham gia vệ sinh quét dọn, khơi thông
cống rãnh thoát nước, trồng cây tạo bóng râm xung quanh. Định kỳ phun
thuốc sát trùng bằng foocmôn để tiêu diệt và tránh mầm bệnh từ bên ngoài
xâm nhập vào khu chăn nuôi.
1.2.3.2. Công tác thú y
* Phòng bệnh
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” cho ta thấy, việc tiêm
phòng bệnh cho lợn là biện pháp tích cực và bắt buộc. Phòng bệnh bằng
vacxin cho đàn lợn là biện pháp hết sức cần thiết. Lịch tiêm phòng được
quán triệt, chỉ đạo thực hiện rất chặt chẽ. Tiêm vacxin cho đàn lợn tạo cho
7 cơ thể có một sức miễn dịch chủ động chống lại sự xâm nhập của các vi
khuẩn và để tăng sức đề kháng cho cơ thể, nhằm làm giảm đáng kể thiệt
hại về kinh tế, tránh xảy ra dịch bệnh.
+ Lịch dùng vacxin như sau:
Vacxin dùng cho lợn nái:
- 14-21 ngày trước khi phối tiêm vacxin Parrowsure B.
- 6 tuần trước khi tiêm vacxin E.coli lần 1.
• Bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ.
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn đường tiêu hóa gây ra hoặc do thay đổ
thức ăn, do môi trường sống.
- Triệu chứng: Lợn con bỏ bú, kém ăn, mệt mỏi, cơ thể ủ rũ, gầy yếu,…
- Điều trị: Chúng tôi thường một số thuốc điều trị như sau:
Baytril 0,5% liều 1ml/5kg thể trọng, cho uống 3 - 5 ngày liên tục (hoặc
Baycox 5% 1ml/1con, cho uống 1 liều duy nhất hoặc Baytril max 1ml/13,5kg
thể trọng, tiêm bắp 1 liều duy nhất).
Trong khi điều trị bổ xung thêm Catosal 2ml/5kg thể trọng.
Điều trị 20 con khỏi 16 con.
• Bệnh lợn con phân trắng.
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất là vào vụ Đông Xuân - Xuân
Hè những lúc thay đổi thời tiết đột ngột, những ngày ẩm ướt, nhiệt độ cao.
Bệnh phát sinh ở lợn từ sơ sinh đến cai sữa.
Nguyên nhân: Bệnh do trực khuẩn E.coli có hại thuộc trực khuẩn
đường ruột Entero bacteriaceae. Bệnh do E.coli là bệnh truyền nhiễm cấp tính
đặc trưng tháo chảy, nhiễm trùng và nhiễm độc huyết. Bệnh xảy ra ở hầu hết
các cơ sở chăn nuôi lợn nái sinh sản và chủ yếu ở lợn con theo mẹ.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như:
+ Sàn chuồng bẩn làm cho bầu vú lợn mẹ không được sạch và khi lợn
con bú sẽ làm cho vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa.
+ Do lợn mẹ ít sữa làm cho lợn con đói thường gặm liếm sàn chuồng,
tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể dẫn đến lợn con bị
rối loạn tiêu hóa.
+ Do việc chăm sóc lợn mẹ trong thời kỳ mang thai không tốt, làm cho
bào thai phát triển không bình thường, lợn con sinh ra yếu hoặc trong thời
gian nuôi con lợn mẹ ăn uống kém không đủ sữa cho lợn con bú, dẫn tới sức
đề kháng của cơ thể giảm làm cho lợn con dễ mắc bệnh.
+ Do lợn con tập ăn, ăn quá nhiều thức ăn (cám), hệ tiêu hóa chưa thích
ứng làm cho hệ vi sinh vật đường tiêu hóa rối loạn, dấn đến lợn con tiêu chảy.
Điều trị 56 con khỏi 45 con.
• Bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa
Nguyên nhân: Do chế độ dinh dưỡng, thay đổi thức ăn, thời tiết đột
ngột, do kí sinh trùng, kế phát bệnh phó thương hàn.
Do vi khuẩn Clostridium perfringens gây viêm đường tiêu hóa.
Triệu chứng: Lợn kém ăn, nằm úp bụng, đau bụng, rối loạn tiêu hóa,
phân lỏng dần thành từng dòng, lợn ít sốt, gầy rất nhanh, đi xiêu vẹo, dựa
10 tường, dựa cột, mắt lờ đờ, lợn ốm nằm không yên hoặc nằm không muốn
đứng dậy, lông xơ xác hoặc trụi nhẵn, bụng thắt lại.
Bệnh tích: Xác chết gầy, thân nhiệt lạnh viêm ruột từng mảng màu đen.
Bệnh kéo dài thành ruột cứng, những đoạn ruột không viêm mỏng chứa hơi.
Điều trị: Dùng Baytril 5% liều tiêm 1ml/20kg thể trọng, tiêm trong 2-3
ngày liên tục (hoặc dùng Baytril max tiêm liều 1ml/13,5kg thể trọng, tiêm 1
liều duy nhất hoặc dùng Ampidexalon tiêm 1ml/10kg thể trọng, điều trị 3-5
ngày liên tục).
Đồng thời trộn thêm Lincospectin liều 1kg/500kg thức ăn (hoặc
Tylansulfa G liều 100g/80kg thức ăn).
Điều trị 18 con khỏi 18 con.
• Bệnh tiêu chảy lợn nái
Nguyên nhân: Bệnh do vi khuẩn đường tiêu hóa gây ra, do thay đổi
thức ăn, môi trường sống,…
Điều trị: Dùng Tetracyclin L.A liều 1ml/10kg thể trọng (hoặc dùng
Anflox TTS liều 1ml/10kg thể trọng), điều trị 2-3 ngày liên tục. Trong khi
điều trị bổ sung thêm Catosal liều 1ml/5kg thể trọng, đồng thời trộn thêm men
Bacifo vào thức ăn cho lợn.
Điều trị 10 con khỏi 10 con.
Triệu chứng: thời gian đầu ủ bệnh chỉ trong vài giờ nên bệnh thường xảy
ra đột ngột, bỏ ăn mí mắt sưng lồi, kết mạc mắt đỏ từ khóe mắt có dịch chảy ra,
mắt nhắm hoặc trợn ngược, má phù, đầu sưng tiếng kêu khàn, lợn bồn chồn,
chuyển động liên tục, đi xoay vòng hoặc bị liệt 4 chân, toàn thân co giật.
Điều trị: chỉ điều trị những con khi mới biểu hiện triệu chứng.
- Cách ly lợn ốm, nhốt chuồng yên tĩnh.
- Tiêm bắp: Baytril 5% liều 1ml/7-10kg thể trọng.
Cafein 1 ống.
Tonophosphan liều 2ml/10kg thể trọng
Colivinavet liều 2ml/10kg thể trọng.
Catosal 2ml/10kg thể trọng.
Điều trị kết hợp trong 3-5 ngày.
Điều trị 5 con khỏi 3 con.
• Bệnh Suyễn lợn
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Mycoplasma là tác nhân chính kết hợp với
vi khuẩn Pasteurella multocida, Streptococcus và Staphylococcus.
Triệu chứng điển hình là ho vào buổi sáng sớm và lúc chiều tối, ho
khan tần số ho ít, sau tăng dần từng cơn ho và ho kéo dài. Viêm kết mạc mắt
có mủ. Thân nhiệt tăng, khó thở, thở thể bụng.
12 Điều trị: Tiêm Baytril 5% liều 1ml/20kg thể trọng (hoặc Baytril 2,5%
1ml/10kg thể trọng ngày 1 lần, điều trị 3 ngày liên tục tiêm bắp Duracycline
liều 1ml/10kg thể trọng 1-2 lần/ngày, nặng gấp đôi). Bổ xung 10ml Catosal,
5ml Vigaton E.
Trộn thêm Aurofac G (100-200)g/100g thức ăn.
Điều trị 6 con khỏi 6 con.
• Bệnh ghẻ lợn.
13 sau đó sát trung bên ngoài băng cồn và rắc Streptomycin tiếp rồi tiêm
kháng sinh chống nhiễm trùng.
Lợn sau khi được phẫu thuật phải đưa sang chuồng sạch sẽ và yên tĩnh,
vệ sinh chăm sóc cẩn thận.
Phẫu thuật 2 con an toàn 100%.
* Các công tác khác
- Tham gia công tác chế biến thức ăn.
Từ câu nói “ Giống là tiền đề thức ăn là cơ sở” cho nên tôi nhận thức
rõ được vai trò của thức ăn đối với đàn nái hậu bị, nái chửa và lợn thịt. Tôi đã
từng bước làm quen với công tác chọn lựa nguyên liệu, tham gia vào phối hợp
thức ăn cho đàn lợn. Nhờ sự phối hợp thức ăn cho đàn lợn mà thức ăn giảm
được giá thành, bảo quản được nâu, giữ được mùi thơm và tăng tính thèm ăn
cho lợn.
- Chăm sóc lợn mang thai.
Để khối lượng sơ sinh của lợn con cao, lợn sơ sinh khỏe thì chăm sóc
lợn mẹ ở giai đoạn mang thai là hết sức quan trọng.
Nái mang thai được chia làm 2 giai đoạn:
Nái chửa kỳ 1 (1-84 ngày). Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi
làm tổ ở tử cung, bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy nhu cầu dinh dưỡng
chủ yếu cho lợn ở giai đoạn này chỉ để duy trì cơ thể lợn nái và phần không
đáng kể nuôi bào thai.
Nái chửa kỳ 2 (từ 85 ngày đến khi đẻ). Đây là giai đoạn cuối của quá
trình mang thai, thai phát triển nhanh, khối lượng sơ sinh đạt được chủ yếu là
ở giai đoạn này. Bởi vậy công tác chăm sóc thú y cũng như tiêm phòng
vacxin cho lợn nái là cần thiết. Ngoài ra, thức ăn cho lợn là phải đảm bảo dinh
dưỡng và cho ăn với lượng nhiều hơn (tùy vào thể trạng từng con).
Thức ăn cho lợn nái chửa chúng tôi sử dụng có mã số 1042 (Cargill)
Ở giai đoạn này sức đề kháng của cơ thể lợn con yếu, cơ quan tiêu hóa
chưa hoàn thiện, cơ quan điều tiết chưa ổn định, hệ thống thần kinh điều
khiển chưa hoàn chỉnh. Cho nên việc chăm sóc, vệ sinh, nuôi dưỡng phải
thường xuyên. Đảm bảo luôn giữ nhiệt độ chuồng nuôi 28-32
oC
. Cho lợn cai
sữa ăn duy nhất một loại cám, cho ăn theo từng bữa, mỗi ngày cho ăn 5-6 lần
để tránh thức ăn rơi vãi ra ngoài và lợn ăn quá nhiều sẽ dẫn đến tiêu chảy, giai
đoạn sau cai sữa sẽ cho ăn tự do. Chúng tôi còn trộn vào thức ăn các loại men
tiêu hóa, tiêm vacxin phòng và trị bệnh cho lợn con để đảm bảo lợn cai sữa và
sau cai sữa phát triển khỏe mạnh, tăng sự đồng đều.
Thức ăn sử dụng cho lợn cai sữa và sau cai sữa là các loại cám có mã
số 1022 và 1102 với các thành phần:
+ Thức ăn sử dụng cho lợn cai sữa mã số 1022 (Cargill).
Đạm (tối thiểu): 19%; Canxi: 0,8-1,25 %; Photpho (tối thiểu): 0,65 %;
15 Năng lượng trao đổi: 3100 kcal/kg
+ Thức ăn cho lợn sau cai sữa có mã số 1102 (Cargill).
Đạm (tối thiểu): 17%; Xơ (tối đa): 5,5%; Canxi: 0,7-1,25 %; Photpho
(tối thiểu) 0,65 %; Năng lượng trao đổi: 3000 kcal/kg.
* Các công việc khác.
Chăm sóc theo dõi tình hình sức khỏe đàn lợn, vệ sinh tẩy uế chuồng trại
và tiến hành chuyên đề nghiên cứu khoa học.
- Tiêm phòng vacxin cho lợn.
- Tham gia trực, đỡ đẻ.
- Thiến lợn đực.
- Tiêm sắt cho lợn con.
- Lở mồm long móng
- Phó thương hàn
- Suyễn
100
100
98
98
94
100
100
98
98
94
100
100
100
100
100
3 * Điều trị bệnh
- Tiêu chảy lợn con theo mẹ
- Phân trắng lợn con
- Tiêu chảy lợn sau khi cai sữa
-Tiêu chảy lợn nái
- Viêm tử cung
- Sưng phù đầu
- Suyễn lợn
- Hecni
100
4 * Công tác khác:
- Trực lợn đẻ
- Tiêm Prologal
- Thiến lợn đực
- Th
ụ tinh nhân tạo
18
97
38
5
An toàn
18
97
38
5
100
100
100
100
16 1.3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1.3.1.Kết luận
Qua thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ tận tình của các cô
chú, anh chị phụ trách và thầy giáo hướng dẫn, đã giúp đỡ tôi có điều kiện
PHẦN 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Nghiên cứu bổ xung men tiêu hóa (Bacifo) để tăng khả năng
sinh trưởng, phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn (Yorkshire
×
Landrace)
từ 60 - 150 ngày tuổi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên“.
2.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong
ngành nông nghiệp của Việt nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật
nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng và phân bón cho sản
xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt, làm
tăng kim ngạch xuất khẩu đây cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền
kinh tế quốc dân. Mặt khác lợn là loài gia súc có vòng đời ngắn, tăng trọng
nhanh, có thể tận dụng được thức ăn sẵn có trong phụ phẩm nông nghiệp, góp
phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ
hội làm giàu cho nông dân.
Nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều cũng như tiến bộ
khoa học kỹ thuật còn hạn chế, do vậy mà dịch bệnh vẫn phát sinh hàng loạt
và lây lan thành những ổ dịch lớn. Bên cạnh những dịch bệnh nguy hiểm đối
với chăn nuôi lợn như: Bệnh dịch tả, bệnh Tụ huyết trùng, bệnh Đóng dấu
lợn, bệnh Lở mồm long móng. Thì một vấn đề đáng lo ngại cho những người
chăn nuôi ở đây là hội chứng tiêu chảy ở lợn. Đây là hội chứng thường xuyên
sảy ra ở cả lợn nội và lợn ngoại làm cho lợn còi cọc, chậm phát triển hoặc tỷ
lệ chết cao hơn.
Để nâng cao tốc độ tăng khối lượng của lợn và khắc phục những hậu