Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp che phủ đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lạc đp1 tại chiềng mung sơn la, vụ xuân năm 2013 - Pdf 30



0

TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
==============

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP “NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA BIỆN PHÁP CHE PHỦ ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG LẠC ĐP1
TẠI CHIỀNG MUNG- SƠN LA, VỤ XUÂN NĂM 2013” Sinh viên thực hiện: Lƣờng Thị Thinh
Lớp: CĐ Khoa học cây trồng K47
Giáo viên hướng dẫn: Th.S. Dƣơng Thị Thanh Nga
Giảng viên bộ môn khoa học cây trồng
Khoa: Nông Lâm - Trƣờng Cao Đẳng Sơn La
Sơn La, năm 2013 1

MỞ ĐẦU 7
1. Đặt vấn đề 7
1.2.1. Mục đích 8
1.2.2. Yêu cầu 8
PHẦN II 9
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
2.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây lạc 9
2.2. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 10
2.3. Tình hình sản xuất lạc ở việt Nam 15
2.4. Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Sơn La 19
2.5. Một số nghiên cứu về kỹ thuật che phủ lạc 19
3.1. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 22
3.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 22
3.2.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm 22
3.2.2.1. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh 24
3.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi và phƣơng pháp theo dõi 24
3.2.3.1. Các chỉ tiêu sinh trƣởng phát triển 24
3.2.3.2. Các chỉ tiêu về thời gian sinh trƣởng 25
3.2.3.3. Các chỉ tiêu về phát sinh sâu bệnh 25
3.2.3.4. Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 26
3.3. Xử lý số liệu 26
PHẦN IV 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.2. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến sinh trƣởng phát triển của
giống lạc ĐP1 27
4.2.1. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian
sinh trƣởng qua các giai đoạn 27 3

Bảng 3. Diện tích của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 17
Bảng 4. Năng suất của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam giai đoạn năm
2005 – 2010 18
Bảng 5. Sản lƣợng của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam giai đoạn năm
2005 – 2010 18
Bảng 6. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến tỷ lệ mọc mầm và thời
gian qua các giai đoạn sinh trƣởng 27
Bảng 7. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến động thái tăng trƣởng
chiều cao cây của giống lạc ĐP1 28
Bảng 8. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến chỉ số lá của giống lạc ĐP1 31
Bảng 9. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến khả năng phân cành cấp 1
của giống lạc ĐP1 33
Bảng 10. Ảnh hƣởng của biện pháp che phủ đến khả năng phân cành cấp 2
của giống lạc ĐP1 35
Bảng 11. Ảnh hƣởng của biện pháp che phủ đến khả năng hình thành hoa và
số lƣợng hoa của giống lạc ĐP1 37
Bảng 12. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến số lƣợng nốt sần của
giống lạc ĐP1 39 5
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Đồ thị 1. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến động thái tăng trƣởng
chiều cao thân chính của giống lạc ĐP1 29
Đồ thị 2. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến chỉ số lá của giống lạc ĐP1 31
Đồ thị 3. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến khả năng phân cành
cấp 1 của giống lạc ĐP1 33
Đồ thị 4. Động thái phân cành cấp 2 của giống lạc ĐP1 35
Đồ thị 5. Động thái ra hoa của giống lạc ĐP1 37
Biểu đồ 4.1. Ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến số lƣợng nốt sần

Thành phần dinh dƣỡng trong lạc rất cao, với hàm lƣợng protein thô 26-
34%,lipit 40-60%, gluxit 6-22% và nƣớc 8-10%, trong đó tỷ lệ đạm dễ tiêu hao
đồng thời có một số vitamin và chất khoáng.
Do đó lạc có nhiều thành phần dinh dƣỡng, cho nên có thể thay thế một
phần thịt, cá trong bữa ăn hàng ngày và là nguồn cung cấp chủ yếu chất béo, chất
đạm theo các bữa ăn của con ngƣời, có thể ăn trực tiếp nhƣ rang, luộc, hầm hoặc
chế biến thành các sản phẩm nhƣ lạc rang tẩm muối, bơ lạc, lạc rút dầu, bánh kẹo.
Lạc là nguyên liệu quan trọng để chế biến công nghiệp thành dầu béo, mỹ phẩm,
xà phòng. Các phụ phẩm chế biến từ hạt lạc, thân, lá lạc làm phân bón, làm thức
ăn gia súc giàu dinh dƣỡng góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, lạc là
cây tăng vụ, cải tạo đất, bồi dƣỡng đất, che phủ chống xói mòn đất.
Ở nƣớc ta lạc đƣợc trồng rất phổ biến trong khắp cả nƣớc, lạc không phải
là cây chọn đất, rất thích hợp cho nhiều loại đất khác nhau. Tuy vậy, cho đến
nay nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò của cây lạc trong nông nghiệp cũng
nhƣ trong đời sống của nhân dân ta chƣa thật đúng mức. Vì vậy diện tích trồng
lạc ở nƣớc ta tăng không đáng kể, năng suất lạc cũng vậy.
Sơn La là tỉnh miền núi phía Bắc, có tiềm năng mở rộng và phát triển cây
lạc, nhƣng năng suất chƣa cao. Năng suất lạc còn thấp là do nhiều nguyên nhân
nhƣ: trình độ thâm canh của nông dân còn hạn chế; trong những năm gần đây, 8
tình trạng khô hạn kéo dài xảy ra liên tiếp, đặc điểm địa hình của Sơn La là độ
dốc lớn và mức độ chia cắt sâu dẫn đến đất trống đồi trọc lớn…
Đất dốc là hệ sinh thái đa dạng, nhạy cảm, dễ bị tổn thƣơng, hàm chứa
nhiều tiềm năng phát triển, là nơi cƣ trú ngày càng đông của con ngƣời và là
nguồn đất sản xuất chính trong tƣơng lai. Mọi sai lầm trong quản lý đất dốc đều
tiềm ẩn nhiều hậu quả khôn lƣờng, thiệt hại sẽ nặng nề hơn trên phạm vi rộng
lớn hơn.
Vì vậy, đất dốc cần đƣợc quan tâm chăm sóc nuôi dƣỡng nhiều hơn nữa

Ancôn-thủ đô của Peru vào năm 1897. Lạc đƣợc đựng trong các chum vải khác
nhau. Nhờ khảo cổ học và địa thực vật học con ngƣời đã xác định đƣợc nguồn
gốc cây lạc.
Những ghi chép đầu tiên về cây lạc do thuyền trƣởng Gorzalo
Fenrnandez, ông cũng là ngƣời đầu tiên phổ biến tên “mani” của cây lạc. Từ
vùng nguyên sản ở Nam Mỹ bằng nhiều con đƣờng, lạc đƣợc đƣa từ Peru tới
Mexixco và sau đó ngang qua Thái Bình Dƣơng theo các thƣơng thuyền
Philippin và đi khắp các vùng trên thế giới, nó nhanh chóng thích ứng với
cácvùng có điều kiện thích hợp.
Ngƣời da đỏ ở Inca ở Peru đã đạt tới nền văn minh nông nghiệp khá cao
và họ đã trồng lạc suốt dọc các vùng ven biển Peru. Theo Gregory (1979-1980)
tất cả các loài hoang dại thuộc chi arachis chỉ tìm thấy ở Nam Mỹ và phân bố
vùng đông Bắc Braxin đến Tây Nam Achentina và từ bờ biển nam Uruquay đến
Tây Bắc Mato Grosso.
Về mặt lịch sử học, chắc chắn ngƣời Inđiêng đã biết ăn lạc theo nhiều
cách: rang, luộc, nấu canh, ép dầu, Trung quốc và Ấn Độ cũng biết ép dầu trƣớc
khi kỹ thuật ép dầu suất hiện ở Châu Âu. Sau khi xâm chiếm Xênêgan, Pháp đã
chú ý tới khả năng phát triển lạc ở vùng này để có thể nhập một lƣợng lạc lớn
dùng cho công nghiệp. Nhà hoá học Pháp Roussean năm 1841 lần đầu tiên đã
nhập vào Pháp một lƣợng lớn 70 tấn dầu cho nhà máy ép dầu.
Những tài liệu ghi chép sớm nhất về cây lạc của ngƣời châu Âu là thế kỷ
16. Năm 1587 nhà tự nhiên học ngƣời Bồ Đào Nha Gabriel Soares de sauza đã
mô tả cây lạc và Jean de Lery (1578) mô tả kỹ về cây lạc. 10
Có lẽ cây lạc đầu tiên đƣợc đƣa từ Nam Mỹ (Pêru) tới châu Âu vào năm
1574 theo báo cáo của Nicolas Monardes.
Krapovickas (1968) cho rằng lạc đƣợc đƣa từ bờ biển phía tây Pêru tới
Mêxico và sau đó ngang qua Thái Bình Dƣơng theo các thƣơng thuyền Tây Ban


Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất
(Tạ/ha)
Sản lƣợng
(Triệu tấn)
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
23,30
23,50
24,10
24,04
24,10
26,46
22,73
25,22

32,92
(Nguồn: FAO, 2010).

Trong một số các cây lấy dầu, cây lạc có diện tích, sản lƣợng đứng thứ 2
sau đỗ tƣơng và đƣợc trồng rộng rãi ở hơn 100 nƣớc trên thế giới, từ 40 vĩ độ
Bắc đến 40 vĩ độ Nam.
Diện tích cho thấy diện tích trồng lạc toàn thế giới từ 1990-2010 có biến
động. Năm 1990 diện tích là 20,1 triệu ha, năm 2000 diện tích là 24,1 triệu ha,
tăng 4 triệu ha (19%) đến năm 2006 diện tích 21,67 triệu ha, giảm 4,79 triệu ha
so với năm 2003, năm 2008 diện tích trồng lạc tăng 2,97 triệu ha so với năm
2007, đạt 24,59 triệu ha; năm 2009 và 2010 có chiều hƣớng giảm về diện tích,
chỉ đạt 20,06 triệu ha.
Về năng suất: Xét về năng suất lạc, những nƣớc có diện tích trồng lạc lớn,
lại có năng suất thấp và mức tăng năng suất không đáng kể. Trong những năm 12
gần đây nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật và sử dụng giống lạc mới nên năng suất
lạc trên thế giới không ngừng tăng. Năng suất lạc trung bình trong những năm
1980 là 11,0 tạ/ha, năm 1990 là 11,5 tạ/ha, từ năm 2000 đến nay năng suất ổn
định 14,4 tạ/ha, tăng so với năm 1980 là 30,9%, năm 1990 là 25,2%. Năng suất
lạc trên thế giới tăng, song không đều giữa các khu vực, có nhiều nơi giảm.
Năng suất giữa các quốc gia trên thế giới có sự chênh lệnh nhau khá lớn. Khu
vực Bắc Mỹ tuy có diện tích trồng lạc không nhiều (820-850 nghìn ha), nhƣng
lại là vùng có năng suất cao nhất (20,0-28,0 tạ/ha). Trong khi đó Châu Phi trồng
khoảng 6.400 nghìn ha, nhƣng năng suất chỉ đạt 7,8 tạ/ha. (Nguyễn Thị Dần và
CS, 1996) [4], [7]. Châu Á nhờ sự nỗ lực của các quốc gia đầu tƣ, nghiên cứu áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất lạc tăng nhanh; tăng từ 14,5
tạ/ha năm 1990 lên 16,2 tạ/ha năm 2010.
Về sản lượng: lạc trên thế giới trong những năm gần đây liên tục tăng,

Khu vực Đông Nam Á, diện tích trồng lạc không nhiều, chỉ chiếm 12,95%
sản lƣợng lạc của Châu Á.
Năng suất lạc ở Đông Nam Á nhìn chung chƣa cao, năng suất bình quân
đạt 11,7 tạ/ha. Malayxia là nƣớc có diện tích trồng lạc không nhiều, nhƣng lại là
nƣớc có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, trung bình đạt 23,3 tạ/ha. Về xuất
khẩu lạc chỉ có 3 nƣớc Thái Lan, Việt Nam và Inđônêxia. Trong đó Việt nam là
nƣớc có khối lƣợng xuất khẩu lạc lớn nhất với 33,8 nghàn tấn (chiếm 45,13%)
khối lƣợng lạc xuất khẩu trong khu vực [2].
Theo nhận định các nhà khoa học, tiềm năng để nâng cao năng suất và sản
lƣợng lạc của các nƣớc còn rất lớn cần khai thác. Trong khi năng suất lạc bình
quân của thế giới mới đạt 1,3 tấn/ha thì ở Trung Quốc trồng thử nghiệm trên
diện hẹp đã thu đƣợc năng suất khoảng 12 tấn/ha, cao hơn 9 lần so với năng suất
bình quân của thế giới. Gần đây tại viện quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt
đới bán khô hạn (ICRISAT) Ấn Độ đã 13 thông báo sự khác biệt giữa năng suất
lạc trên các trạm trại nghiên cứu và năng suất trên đồng ruộng nông dân là từ 4-5
tấn/ha. Trong khi cây lúa mì và lúa nƣớc đã gần đạt tới trần và có xu hƣớng
giảm dần ở nhiều vùng trên thế giới thì năng suất cây lạc trong sản xuất còn
cách rất xa so với tiềm năng. Chiến lƣợc này đã đƣợc áp dụng thành công ở
nhiều nƣớc và trở thành bài học kinh nghiệm trong phát triển sản xuất lạc của 14
thế giới (Ngô Thế Dân và CS, 2000) [4]. Ấn Độ, nƣớc đứng đầu thế giới về diện
tích trồng lạc đã thực hiện chƣơng trình phát triển và chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật trồng lạc nhằm giải quyết cơ bản vấn đề tự túc dầu ăn cho đất nƣớc từ
những năm 1980. Các kỹ thuật đƣợc nông dân áp dụng và chấp nhận phải là
những kỹ thuật ít đòi hỏi đầu tƣ chi phí, dễ hiểu, dễ áp dụng và hợp với điều
kiện sản xuất của từng địa phƣơng. Vì vậy, Ấn Độ rất quan tâm đến công tác
nghiên cứu và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên đồng ruộng với sự
tham trực tiếp của nông dân. Phƣơng pháp này đã đem lại hiệu quả ở Ấn Độ và

kỹ thuật, năng suất lạc đã đạt trên 6,0 tấn/ha. Những 15 thông tin trên đây cho
thấy, tất cả các nƣớc đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế
sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tƣ cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành
tựu khoa học công nghệ vào sản xuất chỉ có thể đƣợc khơi dậy thông qua việc áp
dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng.
2.3. Tình hình sản xuất lạc ở việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hƣớng phát triển
ngày càng tăng. Tuy nhiên, do trƣớc đây cây lạc chƣa đƣợc chú ý nhiều nên
năng suất phát triển còn chậm và còn thấp.
Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) [4], sự biến động về diện tích, năng
suất và sản lƣợng lạc ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 1998 chia thành 4 giai
đoạn:
- Giai đoạn 1975 – 1979: sản xuất lạc có chiều hƣớng giảm cả về diện
tích, năng suất và sản lƣợng. Đến năm 1979 diện tích gieo trồng còn 91,8 nghìn
ha, giảm 5,3 nghìn so với năm 1976 (giảm bình quân 2,0%/năm; năm 1976 năng
suất đạt 10,3 tạ/ha, đến năm 1979 chỉ còn 8,8 tạ/ha, giảm 5,0%. Nguyên nhân
chính là thực trạng phong trào hợp tác xã hóa bị sa sút, yêu cầu giải quyết đủ
lƣơng thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang tính tự
cung, tự cấp nên cây lạc không đƣợc đầu tƣ phát triển.
- Từ năm 1980 – 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh, từ
91,8 ngàn ha năm 1979 lên 237,8 ngàn ha năm 1987. Tốc độ tăng trƣởng hàng
năm từ 6,5% năm đến 24,8% năm. Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với
năm 1980 và sản lƣợng tăng 2,3 lần. Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lên nhanh 16
chóng, nhƣng năng suất không tăng, chỉ dao động từ 8,8 – 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc
lúc này còn mang tính quảng canh truyền thống.
- Từ năm 1988 – 1993: Trong 3 năm đầu diện tích trồng lạc giảm từ 237,8
ngàn ha (1987) xuống còn 201,4 ngàn ha (1990) giảm với tốc độ 2,0% năm và

21,0
489,3
462,5
510,0
530,2
510,9
485,7
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011)
Trong giai đoạn 2005 – 2010, diện tích gieo trồng và năng suất có xu
hƣớng phát triển trái chiều nhau. Năm 2005 diện tích gieo trồng lạc cả nƣớc đạt
269,6 nghìn ha, đến năm 2010 cả nƣớc chỉ đạt 231 nghìn ha, giảm 36,8 nghìn ha
(bình quân mỗi năm diện tích trồng giảm 2,9%). Năng suất lại có chiều hƣớng
tăng đều qua các năm, năm 2005 năng suất đạt 18,2 tạ/ha, đến năm 2010 năng
suất tăng lên 20,0 tạ/ha (bình quân mỗi năm tăng 0,56 tạ/ha). Tuy năng suất ở
giai đoạn 2005 – 2010 tăng ở mức khá cao nhƣng do diện tích gieo trồng giảm
khá nhanh nên tổng sản lƣợng năm 2010 chỉ đạt 485,7 nghìn tấn, giảm 3,6 nghìn
tấn. 17
Sản xuất lạc đƣợc phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp
Việt Nam. Trên thực tế cho thấy, ở nƣớc ta đã hình thành 6 vùng sản xuất lạc
chính nhƣ sau:
- Vùng I: Đồng Bằng Sông Hồng
- Vùng II: Trung du và miền núi phía Bắc
- Vùng III: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
- Vùng IV: Tây Nguyên
- Vùng V: Đông Nam Bộ
- Vùng VI: Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 3. Diện tích của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010

107,3
108,2
102,3
24,5
23,1
21,0
18,5
17,7
16,7
34,8
29,9
29,8
29,6
29,1
20,5
13,9
12,0
13,6
13,9
12,5
11,1
18
Bảng 4. Năng suất của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam giai đoạn năm
2005 - 2010
ĐVT: tạ/ha
Vùng
Năm

13,3
14,3
15,7
16,2
17,2
17,5
24,5
25,1
27,5
28,6
28,8
25,2
29,1
29,8
31,5
31,2
33,1
35,6
Bảng 5. Sản lƣợng của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam
giai đoạn năm 2005 - 2010
ĐVT: tấn
Vùng
Năm
I
II
III
IV
V
VI
2005

75,0
82,0
84,2
83,8
51,6
40,4
35,8
42,9
43,4
41,1
39,5
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011)

* Vùng đồng bằng sông Hồng năm 2010 với diện tích 302.000 ha, chiếm
13,07% diện tích cả nƣớc; năng suất 24,1 tạ/ha; sản lƣợng 72.800 nghìn tấn,
chiếm 14,99% cả nƣớc. Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là:
Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Thái Bình.
* Vùng Trung du miền núi phía Bắc năm 2010 với diện tích 50.200 ha,
chiếm 21,7%; năng suất 18,0 tạ/ha; sản lƣợng 90.500 tấn, chiếm 18,63% cả 19
nƣớc. Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là: Bắc Giang, Hà
Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hòa Bình, Thái Nguyên.
* Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung năm 2010 với diện tích
102.300 ha, chiếm 44,28%; năng suất 19,7 tạ/ha; sản lƣợng 102.000 tấn, chiếm
41,59% cả nƣớc. Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là: Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Bình,
Quảng Trị.
* Vùng Tây Nguyên là vùng cây lạc ít đƣợc chú trọng đầu tƣ phát triển;

Nam, biện pháp này đƣợc trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đậu đỗ tiến hành
đƣa vào thử nghiệm từ năm 1996. Qua nhiều năm nghiên cứu kết quả cho thấy
nhƣ sau:
Ở các tỉnh phía Bắc nƣớc ta, vụ lạc xuân thƣờng đƣợc gieo trồng từ trung
tuần tháng 1 đến trung tuần tháng 2, vào thời gian này nhiệt độ trung bình thấp
vào khoảng 16-18
0
C, đôi khi có những đợt nhiệt độ xuống thấp dƣới 13
0
C, kết
hợp với khô hanh kéo dài làm cho lạc mọc không đều, mật độ cây không đảm
bảo, dẫn đến năng suất thấp và không ổn định qua các năm. Vì vậy tạo điều kiện
cho lạc mọc tốt đã giải quyết đƣợc một trong số các yếu tố quan trọng đạt năng
suất cao.
Theo Nguyễn Thị Chinh và CS,1999 viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Việt Nam thì theo dõi về tỷ lệ mọc của các giống lạc L02 cho thấy, 10 ngày sau
gieo cả vụ khác nhau, tỷ lệ mọc của công thức có phủ nilon đạt cao hơn không
phủ (20,8% so với 2,2%). Đến ngày thứ 20 sau ở công thức hủ nilon đã đạt
84,3% trong khi đó ở công thức không phủ mới chỉ 21,3%. Theo các kết quả
nghiên cứu của Trung Quốc thì trong điều kiện có che phủ nilon do nhiệt độ đất
tăng cao so với không che phủ nilon từ 2,5-2,9
0
C kết hợp với sự hạn chế của
lƣợng nƣớc bốc hơi, đảm bảo độ ẩm đất nên tỷ lệ cây mọc cao và mọc sớm hơn,
cây sinh trƣởng tốt ngay từ giai đoạn đầu.
Số liệu trung bình 3 vụ xuân 1996-1998 cho thấy ở các công thức không
phủ nilon do tỷ lệ cây mọc kém nên tổng số quả trên cây cao hơn so với công
thức phủ nilon nhƣng số quả chín/cây thì tƣơng tự nhau và khối lƣợng 100 quả
và 100 hạt tỷ lệ nhân công thức phủ nilon cao hơn không phủ. Các yếu tố quyết
định làm cho năng suất lạc L02 trong điều kiện che phủ nilon cao hơn 43% so

22
PHẦN III
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Đối tƣợng: Giống lạc địa phƣơng tại Mai Sơn, Sơn La
3.1.2. Thời gian: Vụ xuân từ tháng 2-4/2013
3.1.3. Địa điểm: Vƣờn thực nghiệm – Khoa Nông Lâm, Chiềng Mung, Mai
Sơn, Sơn La
3.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
3.2.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của các biện pháp che phủ đến sự sinh trƣởng và
phát triển của giống lạc ĐP1 tại Chiềng Mung – Mai Sơn.
- Thí nghiệm đƣợc bố trí theo phƣơng pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(RCB), gồm 03 công thức, 03 lần nhắc lại.
+ Công thức 1: Không phủ luống (Đ/C)
+ Công thức 2: Phủ luống bằng lá chuối
+ Công thức 3: Phủ luống bằng nilon
Diện tích ô thí nghiệm là 5 m
2
(1,2 m x 4,2 m) (không kể rãnh).
Số ô thí nghiệm: 3 x 3 = 9 (ô).
Tổng diện tích thí nghiệm là 48 m
2
, không tính diện tích bảo vệ.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Dải bảo vệ
I
II
III
1

+ Lấy lá chuối phủ lên luống đối với công thức phủ bằng lá chuối
Quy trình bón phân áp dụng cho thí nghiệm
- Bón lót: 100% P
2
O
5
+ 100% K
2
O
Đối với công thức phủ nilon; 100% P
2
O
5
+ 100% K
2
O + 100% đạm ure
- Bón thúc: Lúc cây từ 2 – 3 lá kép bón 100% N bón theo rãnh cách hốc 4
cm, sâu 4 - 5 cm bón xong lấp đất lại kết hợp với xới phá váng
Tính toán lƣợng phân cho một ô thí nghiệm (5m
2
) 24
- Bón lót:
+ Công thức 1: 0,125 kg vôi bột+0,400kg lân+0,050 kg kaliclorua
+ Công thức 2: 0,125 kg vôi bột+0,400 kg lân+0,050 kg kaliclorua
+ Công thức 3: 0,125 kg vôi bột+0,043kg đạm urê+0,400 kg lân+0,050 kg
kaliclorua
- Bón thúc:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status