ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THÀNH MINH
PHƢƠNG ÁN SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ ĐẤT ĐAI
CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 – 2020
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN KHÁNH DOANH
Thái Nguyên, năm 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “ Phương án sử dụng Lao động và
đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2012-2020 " đã đƣợc triển khai nghiên cứu tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Nguyên là công trình nghiên cứu độc lập.
Luận văn đã sử dụng nhiều nguồn thông tin, số liệu liên quan khác
việc nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn những cộng tác viên, đồng nghiệp đã giúp
đỡ, chia sẻ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn Nguyễn Thành Minh
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các Bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3. Giới hạn đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3
5. Kết cấu của luận văn 3
Chƣơng I:TỔ NG QUAN TÀ I LIỆ U VÀ PHƢƠNG PHÁ P NGHIÊN CƢ́ U 4
1.1. Tổng quan tài liệu 4
1.1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đất đai cho phát triển cây chè 4
2.3.5 Biến động diện tích và cân bằng chè khi mở rộng diện tích 69
2.3.6 Biến động về sản lƣợng và cân bằng chè khi có sự thay đổi đồng thời
của các yếu tố 70
Chƣơng III:ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG LAO ĐỘNG, ĐẤT
ĐAI CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI
NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 – 2020 72
3.1 Quan điểm, định hƣớng và mục tiêu sử dụng lao động, đất đai cho phát
triển cây chè của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2012 -2020 72
3.1.1 Quan điểm 72
3.1.2 Định hƣớng 73
3.1.3 Mục tiêu 73
3.2 Đề xuất một số giải pháp sử dụng lao động và đất đai cho phát triển cây
chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 -2020 74
3.2.1 Giải pháp về sử dụng lao động 74
3.2.2 Giải pháp về sử dụng đất đai 75
3.2.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 76
3.2.4 Giải pháp về yếu tố kỹ thuật 77
3.2.6. Giải pháp về giảm tỷ lệ hao hụt 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Số TT
Ký hiệu viết tắt
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Diện tích đất chè thế giới giai đoạn 1996 – 2010 14
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng chè Việt Nam 16
Bảng 2.1: Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Đồng Hỷ so với tỉnh Thái Nguyên 29
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành nông, lâm
thủy sản 32
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2010 38
Bảng 2.4: Thực trạng dân số lao động huyện Đồng Hỷ 41
Bảng 2.5: Biến động diện tích trồng chè của tỉnh Thái Nguyên và huyện Đồng
Hỷ qua các năm 43
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên 45
Bảng 2.7: Sự thay đổi diện tích, năng suất, sản lƣợng chè huyện Đồng Hỷ giai
đoạn 2000-2010 46
Bảng 2.8: Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất chè của huyện Đồng Hỷ 48
Bảng 2.9: Sự thay đổi của dân số, lao động đến năm 2020 50
Bảng 2.10: Sự thay đổi diện tích đất chè đến năm 2020 53
Bảng 2.11: Sự thay đổi sản lƣợng chè đến năm 2020 54
Bảng 2.12: Sự thay đổi của dân số, lao động, đất chè, sản lƣợng chè đến năm 2020 55
Bảng 2.13: Liều lƣợng phân đạm urê bón cho chè 57
Bảng 2.14: So sánh kết quả phƣơng án gốc và phƣơng án 1 58
Bảng 2.15: So sánh kết quả phƣơng án gốc và phƣơng án 2 60
viii
Bảng 2.16: So sánh kết quả phƣơng án gốc và phƣơng án 3 61
Bảng 2.17: So sánh kết quả phƣơng án gốc và phƣơng án 4 62
Cây chè đã tồn tại và phát triển ở Thái Nguyên từ lâu đời nay. Ngƣời dân Thái
Nguyên có nhiều kinh nghiệm trồng, chế biến chè và đã biết tận dụng lợi thế
về đất đai, khí hậu tạo nên hƣơng vị đặc trƣng cho chè Thái Nguyên.
Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất chè hiện nay vẫn chƣa tƣơng xứng
với tiềm năng hiện có, chƣa khai thác, sử dụng đầy đủ và hợp lý các nguồn
lực cho phát triển cây chè, để cây chè thực sự là cây trồng mũi nhọn, cây
trồng đem lại giá trị kinh tế cao cho ngƣời nông dân Thái Nguyên nói chung
và huyện Đồng Hỷ nói riêng.
Để nghiên cứu về tình hình sử dụng, dự báo xu hƣớng biến động, nghiên
cứu và đề xuất những định hƣớng, giải pháp sử dụng có hiệu quả đất đai, lao
động cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ, tác giả đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Phương án sử dụng lao động và đất đai cho phát triển cây chè
của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2020” làm đề tài
Luận văn thạc sĩ.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè
từ đó lựa chọn phƣơng án tối ƣu và đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu
quả lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên, giai đoạn 2012 - 2020.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động
và đất đai cho phát triển cây chè.
- Đánh giá thực trạng và phân tích xu hƣớng sử dụng lao động, đất đai
cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lao động và đất đai
cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ đến năm 2020.
3. Giới hạn đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4
Chƣơng I
TỔ NG QUAN TÀ I LIỆ U VÀ PHƢƠNG PHÁ P NGHIÊN CƢ́ U
1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đất đai cho phát triển cây chè
1.1.1.1 Khái niệm
* Lao động nông nghiệp: Trong kinh tế học, lao động được hiểu là yếu
tố sản xuất do con người cung cấp. Nó là một trong những nguồn lực khan
hiếm được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội. Lao
động bao gồm cả thời gian của con người chi phí trong quá trình sản xuất.
Nó vừa là đầu vào thông thường nhất, vừa là đầu vào quan trọng nhất của
quá trình sản xuất (Paul. A Samuelson, 2002).
Trong nông nghiệp lao động đƣợc hiểu là tổng thể sức lao động tham gia
vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lƣợng và chất lƣợng của
ngƣời lao động. Số lƣợng lao động bao gồm những ngƣời trong độ tuổi (nam
từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55) và những ngƣời trên và dƣới độ tuổi nói
trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Nhƣ vậy, về lƣợng của lao động trong nông nghiệp khác ở chỗ, nó không
phải chỉ bao gồm những ngƣời trong độ tuổi mà bao gồm cả những ngƣời trên
và dƣới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động. Về chất lƣợng bao
gồm thể lực và trí lực của ngƣời lao động, cụ thể là trình độ sức khoẻ, trình độ
nhận thức, trình độ chính trị, trình độ học vấn, nghiệp vụ và tay nghề của
ngƣời lao động (Đinh Phi Hổ, 2008)
* Đất nông nghiệp: Khái niệm về đất nông nghiệp đƣợc thể chế hóa tại
Điều 13 - Phân loại đất của Luật Đất đai đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã
5
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11
yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp. Song trong những điều
kiện nhất định thì điều kiện dinh dƣỡng của đất có ảnh hƣởng rất lớn đến
phẩm chất. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trƣởng trên loại
đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hƣơng
của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng
và nƣớc có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu hƣơng không thơm, vị nhạt và
chất hòa tan ít.
Địa hình và địa thế có ảnh hƣởng rất rõ đến sinh trƣởng và chất lƣợng
chè. Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè trồng trên
núi cao có hƣơng thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng
bằng. Kinh nghiệm nhận thấy chè đƣợc chế biến từ nguyên liệu ở núi cao
Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hƣơng vị đó không thể có đƣợc trong chè
trồng ở khu vực thấp. Nhiều tác giả ở Liên Xô: Kharabava, Đjêmukhatze đã
xác định chè trồng ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng
mực nhất định) thì khuynh hƣớng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn
(Hoàng Văn Chung và cs, 2004).
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nƣớc trên thế giới
thƣờng có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét. Vùng chè ngon có tiếng
ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét. Chất lƣợng chè ở vùng cao
tốt nhƣng về sinh trƣởng thƣờng kém hơn ở vùng thấp.
Hƣớng dốc có ảnh hƣởng đến khả năng tích lũy vật chất trong chè.
Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng cƣờng độ tích lũy tanin và vật chất hòa tan
phụ thuộc nhiều vào chế độ nhiệt. Ở hƣớng dốc phía nam hàm lƣợng tanin và
chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hƣớng dốc phía bắc. Ở độ vĩ càng cao
phẩm chất và sản lƣợng chè càng có xu hƣớng giảm thấp. Do độ nhiệt thấp,
7
độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hƣởng không tốt đến sinh trƣởng và tích lũy
vật chất trong cây chè. Nhìn chung, qua nghiên cứu về đất trồng chè chúng ta
thấy đây là đất trồng cây lâu năm có tầng canh tác mặt khoảng 80 cm, tơi
nghiệp hóa, sản xuất nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất
lao động nông nghiệp có tăng lên,
một số lao động nông nghiệp đƣợc giải
phóng trở nên dƣ thừa và đƣợc các
ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt
động sản xuất - dịch vụ. Nhƣng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong
khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao động dƣ thừa từ nông
nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động nông nghiệp mới giảm tƣơng
đối, số lƣợng lao động tuyệt đối còn tăng lên. Giai đoạn này dài hay ngắn là
tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của đất nƣớc quyết định.
Đài Loan là nơi có tốc độ tăng trƣởng kinh tế khá cao với thời gian dài.
Trong 40 năm, thu nhập quốc dân bình quân đầu ngƣời của Đài loan tăng trên
70 lần. Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đài Loan trở thành một nền công
nghiệp mới. Năm 1952 nông nghiệp chiếm 35,9%, công nghiệp chiếm 18,0%
và dịch vụ chiếm 46,1% trong tổng GDP. Cùng thời gian này dân cƣ nông
nghiệp có 4.257 ngàn ngƣời, chiếm 52,4% dân số Đài Loan. Đến năm 1970 tỷ
trọng của nông nghiệp giảm xuống 17,5% và công nghiệp tăng lên 34,7%
trong GDP; dân số nông nghiệp tăng lên 5.997 ngàn ngƣời và chiếm 40,9%.
Đài Loan kết thúc giai đoạn I, giai đoạn lao động nông nghiệp mới giảm tƣơng
đối, phải mất 20 năm. Việt Nam ở giai đoạn thứ nhất, tỷ trọng lao động có việc
làm trong khu vực nông nghiệp chiếm tới 69,22% (năm 1999) giảm chỉ còn
53,96% (2009), nhƣng số lao động còn tăng lên, từ 24,81 triệu lao động tăng
lên 25,73 triệu lao động cùng thời gian tƣơng tự (Bộ Lao động -Thương binh và
Xã hội, 2010).
Giai đoạn thứ hai, nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao
động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao.
9
Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã đƣợc các ngành khác thu hút
hết. Vì thế giai đoạn này số lƣợng lao động giảm cả tƣơng đối và tuyệt đối.
ngƣời. Đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con ngƣời và
thuộc sở hữu chung của xã hội.
Xét về đại thể, có nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình sử dụng đất
nông nghiệp, có thể chia thành ba nhóm cơ bản sau đây:
- Điều kiện tự nhiên là yếu tố có ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp nhƣ địa hình, khí hậu, thời tiết, nguồn nƣớc vì đây là cơ sở để để sinh
vật sinh trƣởng, phát triển và tạo sinh khối. Do vậy, khi sử dụng đất trên bề
mặt không gian cần tạo ra sự thích ứng với điều kiện tự nhiên và các yếu tố
hình thành đất nhƣ khí hậu, địa hình, đá mẹ Trong nhân tố điều kiện tự
nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng sau đó là nguồn nƣớc và các
nhân tố khác. Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở để xác định cây
trồng, vật nuôi phù hợp và định hƣớng đầu tƣ thâm canh tăng hiệu quả.
- Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con ngƣời vào đất đai, cây
trồng nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố sản xuất. Nó là những tác động
thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con ngƣời về đối tƣợng sản xuất, về thời tiết,
về điều kiện môi trƣờng và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo. Con
ngƣời lựa chọn những tác động kỹ thuật, chủng loại và cách sử dụng đầu vào
phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Tại các quốc gia phát triển có nhiều tác động tích cực trong canh tác nhƣ
đổi mới kỹ thuật, áp dụng các giống mới, đầu tƣ cho thủy lợi, bón phân hiệu
quả qua đó đã thúc đẩy cho kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh và bền
11
vững. Ở Việt Nam trong những năm gần đây nhiều tiến bộ khoa học và công
nghệ đƣợc áp dụng vào sản xuất nông nghiệp đã tạo ra giá trị gia tăng trong
tăng trƣởng nông nghiệp khoảng 30% (Hội nghị quốc tế về “Khoa học và
công nghệ trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa”
tháng 11 năm 2010 tại Hà Nội). Nhƣ vậy, các biện pháp kỹ thuật canh tác có
ý nghĩa lớn trong khai thác theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp.
kg, Coet 2,23 kg, Tuynidi 1,82 kg, Braxin 1,45 kg, Ai Cập 1,44 kg, Srilanka
1,41 kg.
Tổng lƣợng tiêu thụ chè của cả thế giới năm 2010 tăng 5,6%, lên 4 triệu
tấn, chủ yếu nhờ thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng mạnh, đặc biệt tại Trung
Quốc, Ấn Độ và một số nền kinh tế mới nổi khác.
Trung Quốc giữ vững vị trí hàng đầu thế giới về sản xuất chè với 1,4
triệu tấn, chiếm 33% sản lƣợng chè của cả thế giới. Với tốc độ tăng bình quân
5,31%/năm, hiện nay Trung Quốc đã trở thành nƣớc có diện tích chè lớn nhất
thế giới với 1,84 triệu ha. Năm 2009, lƣợng chè tiêu thụ tại Trung Quốc tăng
8,2% và năm 2010 tăng 1,4%, lên 1,06 triệu tấn và là mức tiêu thụ lớn nhất
trên thế giới.
Ấn Độ: Năm 2010, sản lƣợng chè của Ấn Độ là 960 ngàn tấn. Sản lƣợng
chè của Ấn Độ chiếm khoảng 28% sản lƣợng chè toàn cầu và 14% giao dịch.
Theo Aditya Khaitan, giám đốc điều hành của McLeod Russel Ấn Độ, tiêu
dùng nội địa tăng với tốc độ 3 – 3,5%/năm và trong năm 2011, sản lƣợng chè
phải tăng 30 ngàn tấn để đáp ứng nhu cầu.
13
Sri Lanka: Ngành chè của Sri Lanka đã có lịch sử phát triển trên 140
năm. Từ nhiều năm nay, Sri Lanka đƣợc biết đến là một nƣớc sản xuất và
xuất khẩu chè lớn tại khu vực Nam Á và trên thế giới. Ngành chè có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế Sri Lanka, trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn, cung cấp việc làm và xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Số lao động
trực tiếp và gián tiếp đƣợc sử dụng trong ngành chè là 2 triệu ngƣời. Với tỷ
trọng 65% trong xuất khẩu nông sản, ngành chè đóng góp khoảng 2% GDP
của quốc đảo Sri Lanka. Sản lƣợng chè của Sri Lanka khá ổn định từ năm
2005 đến nay với mức thu hoạch trên 300.000 tấn hàng năm. Năm 2010, sản
lƣợng đạt 331.400 tấn
Giai đoạn 1996 - 2010 diện tích trồng chè thế giới có xu hƣớng giảm
nhẹ. Năm 1996, diện tích chè là 2.303,8 nghìn ha đến năm 2010 còn khoảng
2.419,38
2.105,66
2.139,44
-0.53
1
Châu Á - Thái
Bình Dƣơng
1.913.46
2.029,76
1.717,28
1.749,44
-0.64
2
Trung Quốc
891,45
933,25
1.058,58
1.840,35
5.31
3
Ấn Độ
427,07
486,61
523,46
556,54
1.91
4
Srilanka
187,69
203,17
-1.00
9
Iran
34,68
32,27
29,85
30,71
-0.86
Nguồn: FAO, 2011
1.1.2.2 Tình hình phát triển sản xuất chè tại Việt Nam
Lịch sử trồng chè của Việt Nam đã có từ lâu. Quá trình phát triển diện tích
trồng chè ở Việt Nam có thể chia làm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1890 - 1945: Năm 1890 một số đồn điền chè đƣợc thành lập
đầu tiên: Tĩnh Cƣơng (Phú Thọ), Đức Phổ (Quảng Nam)… Năm 1925 - 1940
ngƣời Pháp mở các đồn điền trồng chè ở cao nguyên Trung bộ với diện tích
khoảng 2.750 ha. Đến năm 1938, tổng diện tích trồng chè của Việt Nam là
15
13.405 ha với sản lƣợng trên 27 ngàn tấn chè búp tƣơi. Cây chè đƣợc trồng
nhiều ở Bắc bộ và Trung bộ trong đó trên 75% diện tích là của ngƣời Việt,
khoảng 25% diện tích là của ngƣời Pháp. Theo số liệu thống kê năm 1939 sản
lƣợng chè của Việt Nam là 10.900 tấn, đứng hàng thứ 6 sau Ấn Độ, Srilanca,
Trung Quốc, Nhật Bản và Indonesia. Một đặc điểm nổi bật trong thời kỳ này
là diện tích trồng chè rất phân tán, lẻ tẻ, sản xuất mang tính chất tự túc, tự cấp.
Kỹ thuật canh tác lâu sơ sài với phƣơng thức quảng canh, năng suất rất thấp
chỉ đạt trên dƣới 1,5 tấn búp tƣơi/ha. Các cơ sở nghiên cứu về cây chè đƣợc
thành lập ở hai nơi Phú Hộ (Vĩnh Phú) và Bảo Lộc (Lâm Đồng).
Giai đoạn 1945 - 1955: Do ảnh hƣởng của cuộc chiến tranh chống Pháp
các vƣờn chè bị bỏ hoang nhiều, số còn lại không đƣợc đầu tƣ chăm sóc cho
nên diện tích và sản lƣợng chè trong thời kỳ này giảm sút dần.
(tấn/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
2000
87.700
3,59
314.74
2001
98.300
3,46
340.13
2002
109.300
3,88
423.60
2003
116.300
3,86
448.62
2004
120.800
4,25
513.81
2005
122.500
4,65
570.02
2006
122.900
5,28