Nghiên Cứu Đề Xuất Một Số Nội Dung Cơ Bản Quy Hoạch Lâm Nghiệp Huyện Tam Đảo - Tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ HỮU MẠNH

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH
LÂM NGHIỆP HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái nguyên, 2009


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ HỮU MẠNH

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH
LÂM NGHIỆP HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 62.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ NHÂM

Thái nguyên, 2009




Trang
1

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Trên thế giới

2

1.1.1. Quy hoạch vùng

2

1.1.2. Quy hoạch vùng Nông nghiệp

5

1.1.3. Quy hoạch Lâm nghiệp

6

1.2. Ở trong nước (Việt Nam)

7

1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh

7

1.2.2. Quy hoạch Nông nghiệp huyện

2.3.2. Những dự báo cơ bản

14

2.3.3. Định hướng và nhiệm vụ PTLN huyện đến năm 2020

15

2.3.4. Quy hoạch 3 loại rừng huyện Tam Đảo

15

2.3.5. Đề xuất một số nội dung cơ bản cho QHLN huyện đến năm 2020

15

2.3.6. Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch

15

2.3.7. Tiến độ thực hiện QHLN huyện Tam Đảo

15

2.3.8. Ước tính vốn thực hiện và hiệu quả đầu tư

15

2.4. Phương pháp nghiên cứu.


3.2.2. Cơ sở hạ tầng
3.2.3. Văn hóa, giáo dục và y tế
3.3. Tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn huyện
3.3.1. Về tổ chức quản lý
3.3.2. Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Tam Đảo
3.3.3. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo chủ quản lý
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Cơ sở quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo

15

4.1.1. Cơ sở pháp lý

15

4.1.2. Điều kiện cơ bản
4.2. Những dự báo cơ bản

14

4.2.1. Dự báo dân số và sự phụ thuộc vào rừng
4.2.2. Dự báo về thị trường lâm sản
4.2.3. Dự báo về nhu cầu sử dụng đất
4.2.4. Dự báo về phát triển KHCN trong lâm nghiệp
4.2.5. Những dự báo khác
4.3. Những định hướng và nhiệm vụ PTLN huyện đến năm 2020

15

4.3.1. Những căn cứ định hướng PTLN huyện

15

4.7. Tiến độ thực hiện QHLN huyện Tam Đảo giai đoạn 2010-2020

15

4.8. Ước tính vốn thực hiện và hiệu quả đầu tư

15

4.8.1. Khái toán vốn đầu tư
4.8.2. Hiệu quả đầu tư
Chương 5. Kết luận - tồn tại - kiến nghị
5.1. Kết luận
5.2. Tồn tại
5.3. Kiến nghị đề xuất


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIẺU

Tên bảng
Bảng 3. 1. Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Tam Đảo năm 2007
Bảng 3.2. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Tam Đảo
Bảng 3.3. Dự báo dân số và lao động
Bảng 3.4. Thực trạng hệ thống giao thông
Bảng 3.5. Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Tam Đảo
Bảng 3.6. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo đơn vị chủ quản lý
Bảng 4.1. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của lượng mưa
Bảng 4.2. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh của độ dốc
Bảng 4.3. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của độ cao tương đối


Bản đồ quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tam Đảo

4

Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất đai huyện Tam Đảo

5

Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên rừng huyện Tam Đảo

Trang


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1

BNN

Bộ Nông nghiệp

2

ĐD

Đặc dụng

3

HĐND


Phát triển lâm nghiệp

9

PTNT

Phát triển nông thôn

10

QHLN

Quy hoạch lâm nghiệp

11

SX

Sản xuất

12

SXLN

Sản xuất lâm nghiệp

13

UBND


Bảo vệ

19

LN

Lâm nghiệp

20

Trđ

Triệu đồng


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm nghiệp là một ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đối tượng
sản xuất kinh doanh của lâm nghiệp là tài nguyên rừng, bao gồm rừng và đất
rừng. Tác dụng của lâm nghiệp đối với nền kinh tế có nhiều mặt, không chỉ cung
cấp lâm, đặc sản rừng mà còn có tác dụng giữ đất, giữ nước và phòng hộ. Vì vậy
cần phải tiến hành quy hoạch lâm nghiệp nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian
tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh, làm cơ sở
cho việc lập kế hoạch, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng
nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất
khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác
của rừng [20].
Quy hoạch là một trong những hoạt động rất quan trọng, đặc biệt đối với

Những năm gần đây, hoà nhịp cùng tiến trình phát triển kinh tế của cả
nước và của tỉnh, kinh tế-xã hội huyện Tam Đảo đã có những bước phát triển
nhất định. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế-xã hội huyện Tam Đảo trong thời
gian qua vẫn còn chậm, chưa đạt yêu cầu của tỉnh, một tỉnh đã được Chính phủ
phê duyệt là 1 trong 8 tỉnh trọng điểm kinh tế phía Bắc. Trong giai đoạn tới,
nhằm đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện và của tỉnh
trong tình hình mới cần phải huy động tốt sức mạnh tổng hợp của các ngành,
các lĩnh vực trên địa bàn huyện.
Trong quá trình biến động thường xuyên và liên tục đó, công tác quản lý
vĩ mô nền kinh tế-xã hội sẽ rất khó khăn nếu không có định hướng cơ bản cho
sự phát triển kinh tế-xã hội. Quy hoạch là căn cứ quan trọng thể hiện sự nhất
quán về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong một thời gian tương đối dài
và làm cơ sở để xây dựng kế hoạch hàng năm. Với những ý nghĩa quan trọng
đó, việc nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở
khoa học sẽ góp phần quản lý tài nguyên rừng bền vững, đóng góp tăng trưởng
kinh tế chung của tỉnh, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người làm nghề
rừng, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế-xã hội miền núi phát triển
hoà nhập với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh là hết sức cần thiết.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành một số chủ trương
chính sách mới có tác động một cách sâu sắc đến công tác quy hoạch lâm nghiệp
như: Luật đất đai năm 2003; Luật Bảo và vệ phát triển rừng năm 2004; Nghị
định 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp; Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ ban hành
Quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày
05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng;
Quyết định số 61 và 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp &
PTNT về việc ban hành tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và phân loại rừng đặc
dụng; Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 của Thủ tướng Chính

tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho
kinh tế, xã hội, môi trường hoặc cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất
trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất
thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác
điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước.
1.1.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác-Lê Nin về phân bố và phát
triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất
của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó
được phát triển đến mức độ nào”
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên
kinh tế - xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”.
Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản
xuất cho mỗi vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và
tương lai phát triển của vùng đó.
Dựa vào học thuyết của Mác và Ăng Ghen. V.I. Lê Nin đã nghiên cứu có
hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ
nghĩa. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:
3


4

Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất nước,
tỉnh, huyện, nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất
cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng.
Đưa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế chi
phí vận chuyển.

4


5

- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ lợi ích công cộng và sản xuất.
- Tổ chức hợp lý mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp
trong phạm vi hệ thống nông thôn.
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên của vùng lãnh thổ, tạo điều kiện tốt cho
người lao động nghỉ ngơi, sinh hoạt.
1.1.1.2. Quy hoạch vùng ở Pháp
Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng, lãnh
thổ. M. Pierre Thénevin một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số mô hình
quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miền tây nam nước cộng hoà Côte
D’ivoire như sau:
Trong mô hình quy hoạch này, nguời ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực
đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các
vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là bài toán quy hoạch tuyến
tính có cấu trúc:
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng
trọt công nghiệp với các mức thâm canh cường độ cao, thâm canh trung bình và
cổ điển (truyền thống).
- Hoạt động khai thác tài nguyên rừng.
- Hoạt động đô thị, khai thác chế biến…
Quy hoạch vùng nhằm mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm
giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực
tiễn của vùng, so sánh với các vùng xung quanh và nước ngoài.
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 của thế kỷ
trước. Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa phương).

thuận lợi cho việc phát triển tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Như vậy, trong
quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành chính nông nghiệp làm đối tượng
quy hoạch.
Quy hoạch vùng nông nghiệp có các nội dung như sau:
- Lập kế hoạch phát triển tương lai của nền kinh tế quốc dân trong vùng
hành chính nông nghiệp.
- Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững.
- Tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đồ quy hoạch vùng.
- Phân bố hợp lý các công ty chế biến nông, lâm sản.
- Xác định cân đối lao động trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
- Lập kế hoạch phân bố nhân khẩu.
- Phân bổ các công ty sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa cơ khí, thương
nghiệp dịch vụ.
- Phân bổ cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, điện nước, thông tin liên
lạc và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác.
- Lập kế hoạch thực hiện tất cả các biện pháp đề ra trong sơ đồ quy hoạch
vùng trong thời gian chuyển tiếp.
Như vậy, lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ
với việc lập sơ đồ quy hoạch vùng là những nội dung quy hoạch vùng nông
nghiệp [10].
1.1.3. Quy hoạch lâm nghiệp.
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu
khối lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi kinh tế địa phương của
6


7

chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Thực

vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích,
xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ phương pháp này, còn
phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” [20].
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên
canh lúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng rau
thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng
7


8

năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An –
Cao Bằng, Ba Vì – Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan – Ninh Bình,
vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,…Các vùng cây công
nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc
Lắc, Chư Pả - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hòa dân
chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum,
vùng dâu tằm Bảo Lộc – Lâm Đồng,…
a). Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định được phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn
hóa và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế cao.
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập trung đầu
tư vốn đúng đắn.
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản
phẩm hàng hóa của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản
xuất, nhu cầu lao động.
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch, phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh

tiêu đó theo hướng chuyên môn hóa tập trung hóa kết hợp phát triển tổng hợp
nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định.
- Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm
sử dụng đất đai được hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì
nhiêu của đất.
- Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
- Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch.
1.2.2.2. Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện
- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp.
- Bố trí sử dụng đất đai.
- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán
quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hóa, xác định vùng sản xuất thâm canh
cao sản, các tổ chức liên kết nông – công nghiệp, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp,
bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi).
- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp.
- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong
nông nghiệp.
- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và
ngoài nông nghiệp.
- Bố trí cơ cấu vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thủy lợi, giao
thông, cơ khí điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp).
- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông thôn.
- Những cân đối chính sách trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực
phẩm), thức ăn gia súc, phân bón, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nguyên liệu cho
các xí nghệp chế biến.
- Tổ chức các cụm kinh tế-xã hội.
- Bảo vệ môi trường.
- Vốn đầu tư cơ bản.
- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch.

Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 – 2020
một trong những tồn tại mà Bộ Nông Nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác
quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp
chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và
thiếu tính khả thi. Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được
lâm phần ổn định trên thực địa,...” [18]. Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp
bách đối với ngành lâm nghiệp của nước ta hiện nay.
1.2.3.1. Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng
ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc,
chia cắt, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động.
Là nơi cư trú của các đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh
tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn.
10


11

Chu kỳ kinh doanh cây lâm nghiệp dài ngày (ngắn 8 – 10 năm, thậm chí
hàng trăm năm). Người dân không chịu tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng chỉ
khi biết chắc chắn sẽ có lợi.
Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng
phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường);
Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,
các khu di tích văn hóa - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các
loại rừng sản xuất.
Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và vi
mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm
trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp.
Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phải

- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc,
vùng, tỉnh) và đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước
tiếp theo là lập dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi.
1.2.3.3. Các văn bản có liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp
- Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu:
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm
bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài ”.
- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp, đất phi
nông nghiệp, đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng (được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng
các lợi ích do công trình của nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được
nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được
nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp
của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng
đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai).
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng (rừng
phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp.
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo
vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao
gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được nhà nước giao, cho
thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp.
- Quyết định 61 về quy định tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và quyết
định 62 quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng (năm 2005).
Từ trước tới nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai
trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát
triển ngành. Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong
từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ
thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng
được điều chỉnh cho phù hợp.

nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và
trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến
lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển
nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực hiện.
Do đặc thù khác với các ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch
lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy
hoạch được thực hiện tùy theo các vùng kinh tế lâm nghiệp.
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định nhiệm
vụ phương hướng phát triển trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm
vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh. Tiến hành quy
hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng: Rừng sản xuất, rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ
vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác. Quy hoạch bảo vệ, nuôi
dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm
tái sinh tự nhiên và trồng rừng) thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng
13


14

rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất,
phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ
tầng, giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực hiện.
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm
nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được thực


15

nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện tài nguyên rừng. Căn cứ vào quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy hoạch cấp huyện và các
điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp
trên địa bàn xã. Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng.
Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã. Căn cứ
vào phương hướng phát triển các điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu
đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo 3 chức năng sử dụng: Sản
xuất, phòng hộ, đặc dụng. Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng
rừng, bố trí không gian tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: Bảo vệ
và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm
kết hợp, khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa
phương và thị trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ. Quy hoạch tổ
chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát
triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận
tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống. Ước tính đầu tư và hiệu quả:
Ước tính đầu tư lao động tiền vốn, vật tư thiết bị. Hiệu quả đầu tư cần được
đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế - xã hội, môi trường. Xác định tiến độ
thực hiện.
Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ từ
toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau. Tuy nhiên mức độ giải
quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tùy theo các cấp.
1.3. Ở Vĩnh Phúc
Vĩnh phúc là một tỉnh trung du miền núi, nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ với tổng diện tích tự nhiên 137.224,14 ha. Dân số 1.169.067
người, cư trú trên địa bàn 152 xã, phường, thị trấn, thuộc 7 huyện và 2 thị xã.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 33.054,61 ha, trong đó đất có rừng 27.137,23
ha, chiếm 82,09% đất Lâm nghiệp. Rừng Vĩnh Phúc có ý nghĩa rất quan trọng,

nhà máy chế biến bột giấy và giấy, các cơ sở chế biến gỗ, ván thanh, ván dăm và
bao bì, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, đồng thời áp dụng các biện pháp lâm
sinh hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng, rút ngắn chu kỳ kinh
doanh, nâng cao giá trị thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích lâm nghiệp. Đảm bảo
độ che phủ rừng của huyện đạt trên 24% trong những năm tới. Để góp phần ổn
định đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sắp xếp lại diện
tích đất lâm nghiệp của huyện một cách hợp lý là nhiệm vụ cấp thiết trong thời
gian tới.

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status