BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT -NHỮNG
GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ.
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
NGƯỜI THỰC HIỆN : TRẦN QUỐC HÙNG
LỚP : CHKT K21- ĐÊM 5
SỐ THỨ TỰ: 65
TP.HCM 02/2012
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS Bùi Văn Mưa,
người Thầy đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt khóa học,
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian thực hiện tiểu luận vừa qua.
Mặc dù đã rất cố gắng, song chắc chắn bài tiểu luận này sẽ không tránh thiếu sót và
hạn chế, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy để sửa chữa bổ
sung cho bài tiểu luận được tốt hơn.
Tác giả
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Mở đầu 1
Chương 1 :NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT 2
1. 1. Thuyết nguyên nhân- Cơ sở của siêu hình học 2
1.2. Vật lý học 4
1.3. Nhận thức luận 5
1.4. Logic học 7
1.5. Nhân bản học 7
giả nêu ra những giá trị và hạn chế tư tưởng triết học của Arixtốt, những tư tưởng
đó có giá trị như thế nào đối với ai? Đối với các tầng lớp nào trong xã hội và những
mặt hạn chế của nó.
Tác giả đã dùng những tài liệu sau để làm tài liệu tham khảo như: Đại cương
về lịch sử triết học của TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên); Triết học và bức tranh vật lý
học về thế giới của TS Bùi Văn Mưa; Nhập môn Arixtốt của Rupert Woodfin và
Judy Groves do Tinh Vệ biên dịch, nhà xuất bản trẻ; Những Câu Chuyện Triết Học
của Will Durant do Trí Hải và Bửu Đích biên dịch; Quá trình chuyển biến tư tưởng
Phương Tây của Richard Tarnas., Lịch sữ triết học cũa Nguyễn Hữu Vui.
1
Bài tiểu luận môn Triết Học
Chương 1 : TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
Arixtốt đã để lại cho nhân loại một di sản triết học đồ sộ được viết bằng tiếng
Hy Lạp cổ, trong đó lớn nhất là tác phẩm “ siêu hình học”. Những tác phẩm của
Arixtốt còn lại cho đến ngày nay có thể chia làm tám nhóm: triết học chung, logic
học, vật lý học, sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học, chính trị và nghệ
thuật học. Để hiểu rõ một cách toàn diện về tư tưởng triết học Arixtốt chúng ta sẽ
cùng đi tìm hiểu từng vấn đề.
1.1. Thuyết nguyên nhân – Cơ sở của siêu hình học:
Với phương châm “Platông là thầy nhưng chân lý còn quý hơn nhiều”, Arixtốt
đã đứng trên quan niệm duy vật tiến bộ phê phán thuyết ý niệm của Platông;
nhưng ông cũng không ủng hộ quan điểm của các trường phái duy vật bàn về
nguyên vật chất của vũ trụ. [1, 110]
- Thứ nhất, ông phản đối quan niệm của Platông coi các ý niệm như một dạng
tồn tại độc lập, tối cao, còn mọi sự vật cảm tình của thế giới chúng ta đều tồn tại ở
cấp độ thấp hơn
- Thứ hai, Arixtốt phê phán việc Platông tách rời thế giới ý niệm với thế giới
hiện thực, ông chỉ ra rằng, như vậy tức là biến các phạm trù, khái niệm thành những
cái vô dụng đối với nhận thức các sự vật. Vì thế, để có ý nghĩa, theo Arixtốt thì thế
giới ý niệm phải thuộc về thế giới các sự vật.
quan diễn ra theo những trình tự xếp đặt trước, tức là có mục đích của Thượng Đế.
[1,111]
Như vậy, hai tiêu chuẩn trên mâu thuẫn với nhau. Arixtốt đã ý thức được vấn
đề này và tìm cách khắc phục, xong ông đã không giải quyết được. Điều này dẫn
đến mâu thuẫn trong quan niệm về mối quan hệ giữa vật chất và hình dạng. Một
mặt, ông khẳng định mọi sự vật trong thế giới đều là sự thống nhất giữa vật chất và
hình dạng. Ví dụ: quả cầu đồng là sự thống nhất giữa vật chất – chất đồng và hình
dạng – hình cầu, hai yếu tố cùng kết hợp và chuyển hóa tạo nên quả cầu đồng. Mặt
khác, ông thùa nhận tồn tại “ hình dạng thuần túy” phi vật chất hoàn toàn thuộc về
3
Bài tiểu luận môn Triết Học
lĩnh vực tư tưởng, khẳng định có “ vật chất đầu tiên” – vật chất phi hình dạng. từ
việc tách rời vật chất và hình dạng, Arixtốt đã đi đến khẳng định “ hiện thực có
trước mọi khởi nguyên cả về phạm trù, cả về bản chất, còn về thời gian thì theo một
nghĩa nhất định, là tồn tại trước, theo một nghĩa khác thì không do vậy việc xác
định và nhận thức (những cái trong hiện thức) cần phải có trước nhận thức (những
cái trong khả năng). Hơn nữa ông còn coi “ hình dạng thuần túy” là động cơ đầu
tiên của thế giới làm cho mọi vật đều có thể vận động được. Đó chình là thượng đế,
hay trí tuệ thuần túy. Đây là điểm triết học của Arixtốt hòa nhập với thần học của
ông.
Như vật, Arixtốt đã có sự dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm trong quan niệm về vật chất và hình dạng. Điều này làm cho sự phê phán của
ông đối với lập trường duy tâm trong học thuyết về ý niệm không triệt để.
1.2. Vật lý học:
- Thuyết vận động- cơ sở của vật lý học: Arixtốt cho rằng, giới tự nhiên là
toàn bộ các sự vật, quá trình vận động có liên hệ với nhau và được cấu thành từ một
bản thể vật chất. Mọi sự vật hiện tượng tự nhiên chỉ xuất hiện khi:
Một là, hội đủ bốn nguyên nhân là hình dạng, vật chất, mục đích và tác động,
mà khi khái quát lại, chúng đựơc gọi là hình dạng đầu tiên, vật chất ban đầu, tác
động đầu tiên, mục đích cuối cùng.
quát hoá, trừu tượng hoá…) mới khám phá được cái phổ biến, cái tất yếu, tức cái
quy luật, bản chất của sự vật. Dù nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn con
người con người, nhưng linh hồn con người vừa mới sinh ra như một tấm bản trắng.
Nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bên trong linh hồn,
là ghi chép lên linh hồn những dòng chữ tri thức. Nhiệm vụ của khoa học là khám
phá ra cái phổ biến-tất yếu ( cái bản chất, cái quy luật) trong các sự vật, hiện tượng
riêng lẻ nhằm tích luỹ tri thức. [1,113]
5
Bài tiểu luận môn Triết Học
Lý luận nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng
nhận thức luận thời cổ đại. Khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người,
ông coi quá trình nhận thức là quá trình khám phá ra chân lí đích thực về bản chất
sự vật. Ông phê phán mọi quan niệm hoài nghi luận trong nhận thức, ông coi “ ngụy
biện chỉ là một sự thông thái giả hiệu”.
Arixtốt đề cao vai trò của nhận thức cảm tính. Nó đem lại cho ta những hiểu
biết xác thực và sinh động về sự vật đơn nhất. Ông là người khởi xướng nguyên lý
tabula rasa (nguyên lý tấm bảng sạch) – coi linh hồn con người khi mới sinh ra hoàn
toàn không có tri thức – đối lập với tư tưởng của Platon coi nhận thức là quá trình
hồi tưởng lại. Theo Arixtốt nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên, là điểm xuất
phát của mọi quá trình nhận thức.
Tiếp sau là nhận thức kinh nghiệm, theo Arixtốt đó là hàng chuỗi những liên
tưởng về cùng một sự vật hay nhóm các sự vật nhất định. Và cao hơn kinh nghiệm
là nhận thức nghệ thuật mà nền tảng của nó là thực tiễn của con người. Nó đem lại
nhưng tri thức mang tính khái quát hơn so với các dạng nhận thức trên.
Dạng nhận thức cao nhất đó là nhận thức khoa học, trong đó triết học là tối
cao. Nó là hoạt động trí tuệ đem lại cho chúng ta những tri thức lý luận có tính khái
quát cao. Dưới con mắt của Arixtốt, khoa học là một hệ thống tri thức phức tạp.
Ông là người đầu tiên tìm cách phân loại các khoa học. Xuất phát từ luận điểm “
mọi sự duy diễn đều hướng tới hoặc là hoạt động, hoặc là sáng tạo, hoặc là tư biện”.
Đối với ông , khoa học là một hệ thống tri thức phức tạp nhằm hướng đến ba mục
Nhân bản học là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong thế giới quan của Arixtốt.
Ông thấy rằng: “nhận thức linh hồn con người thúc đẩy mạnh mẽ nhận thức mọi
chân lý, nhất là nhận thức giới tự nhiên”.
Arixtốt cho rằng con người được cấu thành từ hình dạng và vật chất. Ông
phê phán quan niệm của Platông coi thể xác chỉ là chỗ trú tạm thời của linh hồn bất
7
Bài tiểu luận môn Triết Học
diệt. Arixtốt dựa trên thuyết nguyên nhân cho rằng, cũng giống như sự vật được
hình thành từ hình thức và vật chất, sinh thể và còn người được cấu thành từ thể xác
và linh hồn. Không có linh hồn bất tử, không có linh hồn trong cơ thể chết và cũng
không có linh hồn nằm bên ngoài thể xác vật chất. Ông khẳng định: “ các trạng thái
của linh hồn đều có cơ sở trong vật chất”, và linh hồn là căn nguyên của sự
sống.Nhưng tuỳ theo cấp độ, Arixtốt chia linh hồn thành ba loại là:
- Linh hồn thực vật với khả năng tự nuôi dưỡng và sinh sản; - linh hồn động
vật có khả năng cảm ứng với môi trường xung quanh. Cả hai linh hồn này đều xếp
là: “ linh hồn vật lý”, chúng gắn bó hữu cơ và bị hủy cùng thể xác; - linh hồn lý tính
là dạng cao nhất của linh hồn và chỉ tồn tại ở người, đó là khả năng tư duy, trí tuệ
của con người. Trong thể xác con người có đủ ba loại linh hồn trên khi con người
chết đi linh hồn thực vật và linh hồn động vật mất đi cùng với sự tan rã của thể xác
nhưng linh hồn lý tính chứa tri thức vẫn tồn tại bất diệt. Theo ông con người là một
sinh thể có lý trí.[ 1,112]
1.6. Đạo đức học
Arixtốt xây dựng học thuyết về đạo đức của mình dựa vào tâm lý học. Theo
ông thì linh hồn con người được chia làm ba phần: lý tính thuần túy, lý tính thực
tiễn, phần khoái lạc ham muốn. Arixtốt coi đạo đức là sự mở rộng nhận thức vào
lĩnh vực hành vi con người. Khi phủ nhận quan điểm của Platông coi hạnh phúc của
con người gắn liền với thế giới ý niệm, arixtốt cho rằng: Ngu dốt, sai lầm là nguồn
gốc của cái ác, lý trí và lẽ phỉa đời thường là cơ sở của điuề thiện, là nền tảng của
phẩm hạnh của con người. Phẩm hạnh của con người nếu có đựơc nhờ vào việc hiểu
thấu và làm theo chân lý (hành động dựa trên cái tất yếu- phổ biến do thông qua
mẽ chế độ bạo chúa, cho rằng nó không phù hợp với bản chất của con người. Theo
ông: “ Mục đích của nhà nước là cuộc sống phúc lợi bản thân nhà nước là sự giao
thiệp của các gia tộc và dân cư nhằm đạt được sự tồn tại một cách hoàn thiện và tự
lập”.[5,206]
1.8. Thẩm mỹ học và những tư tưởng kinh tế học của Arixtốt
- Thẩm mỹ học: Nghệ thuật được coi là toàn bộ hoạt động vật chất của con
người và sản phẩm của nó. “nghệ thuật nói, Arixtốt nhấn mạnh – trong một số
9
Bài tiểu luận môn Triết Học
trường hợp hoàn thành những cái mà giới tự nhiên không thể làm được, trong một
số trường hợp khác, mô phỏng”. Ông đặc biệt nhấn mạnh chức năng mô phỏng theo
giới tự nhiên của nghệ thuật. Trong số các dạng nghệ thuật Arixtốt đặc biệt đề cao
thơ ca
- Kinh tế học: Arixtốt có những quan điểm kinh tế học rất sâu sắc. C.Mác dã
gọi ông là nhà nghiên cứu vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử đã hiểu được hình thức
giá trị của trao đổi. Arixtốt cũng đã nghiên cứu những hiện tượng của đời sống xã
hội như: phân công lao động, hàng hóa, trao đổi, phân phối ông cũng đã tìm ra
mối liên hệ giữa trao đổi với phân công lao động, sự phân ra gia đình nguyên thủy
thành những gia đình nhỏ. Khi nghiên cứu trao đổi, Arixtốt đã tiếp cận đến hai hình
thức sở hữu: tự nhiên và không tự nhiên; đồng thời cũng đoàn ra một cách tài tình
tính hai mặt của giá trị tư tưởng độc quyền và giá cả độc quyền cũng đã xuất hiện
trong học thuyết về kinh tế của ông.[5,208 ]
Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
CỦA ARIXTỐT
2.1. Những giá trị tư tưởng triết học arixtốt:
10
Bài tiểu luận môn Triết Học
- Triết học của ông phản ánh chế độ chiếm hữu nô lệ Hy lạp suy tàn. Củng cố
quyền lực của giai cấp thống trị, những gì ông dạy ở trường Lyceum đều được
Demetrius biến thành luật.
trung tả hiện đại.
- Về Xã hội: Một cống hiến quan trọng của ông mà được Mác đánh giá cao
là ông đã chỉ ra được mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế và tìm ra cơ sỡ kinh tế
của công bằng và bình đẳng trong xã hội. Ông cho rằng cơ sở của sự công bằng XH
là sự công bằng trong trao đổi sản phẩm, trong biểu hiện giá trị của hàng hoá, ông
đã tìm ra được một quan hệ bình đẳng và là nghiên cứu vĩ đại, người đầu tiên phân
tích hình thái giá tri.
- Ta cũng thấy những ý tưởng của Arixtốt về Mỹ học và Ký hiệu học tiếp
tục có tầm quan trọng và đang thách thức như thế nào trước sự bế tắc hậu- hiện đại
trong các lĩnh vực văn hoá.
- Những tư tưởng triết học của Arixtốt phác thảo ra đã định hướng cho sự
thống trị tư tưởng phương tây. Đáng kể nhất là hệ thống bách khoa toàn thư của
Arixtốt mà hầu hết hoạt động khoa học của phương Tây cho tới thế kỷ XVII đựơc
thực hiện dựa trên nền những tác phẩm của ông từ thế kỷ IV trước Công nguyên, và
ngay cả khi khoa học đã vượt xa ông, người ta vẫn tiếp tục theo định hướng ấy và
tiếp tục sử dụng công cụ nhận thức của ông. Nhờ Arixtốt đã đem lại một ngôn ngữ
và lý luận, một nền tảng và cấu trúc, và chí ít là một điều tối nghịch đầy uy lực để
phản bác thuyết của Platông, và sau này chống lại dòng tư tưởng cận đại lúc đầu-
mà nếu không có thì triết học, thần học và khoa học của phương Tây đã không thể
phát triển như thế. [4,66]
2.2. Những hạn chế của tư tưởng triết học Arixtốt:
Là một con người khổng lồ về tư tưởng, Arixtốt đã mở ra một chân trời mới
mênh mông cho khoa học phương Tây, nhưng do hạn chế về lịch sử và bàn thân là
nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô Quý tộc, nên triết học của ông cũng có những mặt
hạn chế:
- Về mặt triết học, ông do dự giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
12
Bài tiểu luận môn Triết Học
- Về học thuyết tồn tài, ông cho rằng: tồn tại nói chung xuất phát từ 4
nguyên nhân cơ bản: Nguyên nhân vật chất, hình dạng, vận động, mục đích, trong
và có giá trị đối với con người lúc đó. Do bên cạnh những tư tưởng duy tâm và
những yếu tố thần bí, siêu hình, bức tranh của Arixtốt còn có nhiều tư tưởng duy vật
và những yếu tố khoa học, biện chứng thơ ngây, nên có thể thúc đẩy sự phát triển
khoa học tự nhiên trong một chừng mực nhất định.
- Arixtốt cho rằng Tam đoạn luận là một lối suy diễn thông thường và chính
xác trong khi ngày nay chúng ta có khuynh hướng coi tam đoạn luận cũng chỉ là
một mánh lới để thuyết phục kẻ khác. Ông tưởng rằng tư tưởng con người đi từ các
nguyên đề để tiến đến kết luận trong khi thực tế có những trưòng hợp con người đi
tìm cái kết luận rồi mới cố tìm ra các nguyên đề để chứng minh các kết luận đó.
- Những nhận xét về thiên nhiên của ông cũng nhiều chỗ sai lầm. ông
thường để cho các tư tưởng siêu hình ảnh hưởng đến các nhận xét khoa học.
- Những giá trị của tinh hoa triết học trước đó cũng ít được Arixtốt tiếp thu.
Chương 3: KẾT LUẬN
Arixtốt là nhà bách khoa toàn thư, nhà triết học vĩ đại nhất thời Hy Lạp – La
Mã. Hêghen đã nhận xét về những tác phẩm của ông: “ bao chứa toàn bộ các quan
niệm của con người, trí tuệ của Arixtốt đề cập đến mọi mặt và mọi lĩnh vực của thế
giới hiện thực”. Mặc dù các quan niệm của ông không nhất quán, dao động giữa lập
trường duy vật và duy tâm, nhưng ông đã là người đặt nền móng cho triết học châu
Âu và thế giới, đồng thời còn là người mở ra hướng nghiên cứu cho một loạt các
khoa học xã hội và nhân văn chuyên ngành như: chinh trị học, kinh tế học, đạo đức
học, thẩm mỹ học, tâm lý học và đặc biệt là khoa lôgic học hình thức cho đến ngày
nay và sau này vẫn còn nguyên giá trị.
14
Bài tiểu luận môn Triết Học
Arixtốt không chỉ dựng nên lý luận đầu tiên vể mỹ học mà còn phát triển cả
môn tâm lý học thuần lý, chính trị học và một pgác thảo về xã hội học, mang lại cho
con người học thuyết đạo đức về đức hạnh vẫn còn được bàn cãi đến tận ngày nay
Những đóng góp của ông cho siêu hình học- về “tồn tại”, “hiện hữu”, “bản thể” và
“nhân quả” tiếp tục thâm nhập vào triết học hiện đại
C.Mác đánh giá: “ tư tưởng sâu sắc của Arixtốt vạch ra những vấn đề trừu