TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
ARIXTOT – GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
Người thực hiện: ĐINH THẾ HƯNG
STT: 068
Lớp: K21 – Đêm 5
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
TP.HỒ CHÍ MINH, 02/2012
Mục lục
Phần mở đầu
Từ những ngày đầu, con người luôn tìm tòi và thắc mắc, luôn đặt ra những câu
hỏi nhằm làm rõ nguyên lý của các sự vật hiện tượng và cố gắng giải thích chúng.
Nhưng khi tri thức còn chưa phát triển, con người đã tự thỏa mãn mình bằng các câu
chuyện thần thoại mang nặng tính mê tín và ngây ngô buổi sơ khai. Thế nhưng với
những vấn đề lớn (vũ trụ, thiên hà) thì cần một trí tuệ lớn với sự tư duy sâu sắc. Và thế
là Triết học được hình thành, với việc đi nghiên cứu về mọi sự vật và con người với tư
cách là một chỉnh thể, tìm những quy luật chung chi phối sự vận động của chỉnh thể đó
và của xã hội loài người.
Theo các nhà nghiên cứu, Triết học được hình thành vào khoảng thế kỷ VI-V
(BC), ở Hy Lạp cổ đại. Nhiều tư tưởng triết học đã hình thành và hoàn thiện với các
triết gia vĩ đại như Socrate, Platon… và đến Arixtot, bằng các nghiên cứu khoa học
sáng tạo và thực tiễn, ông đã làm một cuộc cách mạng thực sự cho triết học. Ông là
cha đẻ của nhiều học thuyết và nhiều ngành học có ảnh hưởng lớn cả đến nền triết học
suốt nhiều thế kỷ sau ông.
Cuộc đời của ông là một câu chuyện thú vị, bởi ngoài tư cách là một nhà khoa
học vĩ đại thời cổ, ông còn là một người học trò lớn của nhà triết học Platon và là một
người thầy, một người bạn tâm giao của nhà quân sự, chính trị lừng lẫy nhất thời bấy

sự vật đó là cái bóng của ý niệm là bản sao của chúng. Như vây là thừa nhận sự vật và
khái niệm dù sao cũng có điểm tương đồng nhất định. Từ mâu thuẫn logic trên đây,
Platon buộc phải thừa nhận sự tồn tại của một “thế giới thứ ba”giống với hai thế giới
kia và đứng lên trên chúng. Như vậy, mỗi người cụ thể chẳng hạn, để có thể biểu hiện
đúng bản chất với khái niệm con người của mình lại cần đến “con người thứ ba” làm
môi giới. Điều đó theo Arixtot là không thể chấp nhận được.
- Thứ tư, các ý niệm của Platon không thể là công cụ nhận thức thế giới vì
chúng tách rời với quá trình vận động, phát triển không ngừng của các sự vật.
Đối với Arixtot giới tự nhiên là đối tượng nghiên cứu của vật lý học. Đây cũng
là triết học nhưng là “triết học thứ hai” - nghiên cứu các dạng tồn tại cụ thể. Bởi vậy,
để khám phá bản chất tồn tại đích thức nói chung, lí giải cụ thể các vấn đề về nguồn
gốc, bản chất của thế giới thì cần phải có “triết học thứ nhất” tức là “siêu hình học”.
Theo Arixtot “siêu hình học” là một khoa học ít nhiều mang tính thần thánh vì đối
tượng nghiên cứu của nó là “những cái thần thánh” trong đó có Thượng đế. Vì lí do
đó, đôi khi ông gọi triết học là thần học. [4;194-195]
Trang 2
Nếu như các khoa học khác nghiên cứu các sự vật của giới tự nhiên các dạng
tồn tại cụ thể đang vận động và biến đổi không ngừng, thì triết học thứ nhất nghiên
cứu những gì có tình chất vĩnh hằng trong thế giới hiện thực, vì thế nó là nền tảng của
mọi lĩnh vực thế giới quan khác của con người.
Theo Arixtot tồn tại nói chung xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ bản là: hình dạng,
vật chất, vận động và mục đích. Chẳng hạn, cái nhà đã có được là nhờ hình dạng của
nó – tức ý tưởng, đồ án về cái nhà mà con người cần có trước khi xây dựng; vận động
– hoạt đồng của người thợ làm nhà; và mục đích của việc con người làm nhà. Như vậy,
bất kỳ sự vật nào cũng có 4 nguyên nhân trên thì mới có thể tồn tại được.
Trong đó nguyên nhân hình dạng là cơ bản nhất. Nó là thực chất của tồn tại, là
bản chất của sự vật. Bản thân nó đã bao hàm cả nguyên nhân vận động và mục đích.
Theo Arixtot, mọi vật trong thế giới chúng ta đều có thể vận động nhờ hình dạng vốn
rất tích cực của chúng. Ông khẳng định tính mục đích trong sự phát triển của mọi sự
vật, ông đã hiểu mục đích theo nghĩa khách quan hơn Platon. Trong suy nghĩ của ông,

Từ việc tách rời vật chất và hình dạng, Arixtot đã đi đến khẳng định “hiện thực có
trước mọi khởi nguyên cả về phạm trù, cả về bản chất, còn về thời gian thì theo một
nghĩa nhất định, là tồn tại trước, theo một nghĩa khác thì không do vậy việc xác định
và nhận thức (những cái trong hiện thức) cần phải có trước nhận thức (những cái trong
khả năng)”. Hơn nữa ông còn coi “hình dạng thuần túy” là động cơ đầu tiên của thế
giới làm cho mọi vật đều có thể vận động được. Đó chính là thượng đế, hay trí tuệ
thuần túy. Đây là điểm triết học của Arixtot hòa nhập với thần học của ông. [4;198]
Như vật, từ chỗ chưa hiểu đúng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng,
Arixtot đã có sự dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong quan
niệm về vật chất và hình dạng. Điều này làm cho sự phê phán của ông đối với lập
trường duy tâm trong học thuyết về ý niệm không triệt để.
1.2. Thuyết vận động – Cơ sở vật lý học
Vật lý học được coi là “triết học thứ hai” (hay khoa học về giới tự nhiên) được
xây dựng trên nền tảng của “triết học thứ nhất”. Mọi sự vật trong thế giới chúng ta,
theo Arixtot đều vận động và phát triển không ngừng. Vì thế, nghiên cứu vận động là
điều kiện cần thiết để hiểu giới tự nhiên. Chính “sự thiếu hiểu biết về vận dụng tất yếu
sẽ kéo theo sự không hiểu biết về giới tự nhiên”. Coi vận động là mọi sự biến đổi
chung, Arixtot nhấn mạng rằng “không thể có vận động bên ngoài sự vật”, bởi vì vận
động là phương tiện tất yếu biến những cái khả năng thành hiện thực. Do đó vận động
cũng vĩnh viễn tựa như thời gian vậy. [4;205]
Coi giới tự nhiên là toàn bộ các sự vật, quá trình luôn vận động có liên hệ với
Trang 4
nhau và được cấu thành từ một bản thể vật chất. Vận động không thể bị tiêu diệt và
cũng không thể tách ra khỏi sự vật, quá trình tự nhiên. Có sáu hình thức vận động là
phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí. Arixtot đã dừng lại
trước quan niệm vận động tự thân của vật chất mà thừa nhận cái hích đầu tiên của
Thượng đế nằm bên ngoài giới tự nhiên là nguồn gốc thần thánh của mọi vận động xảy
ra trong giới tự nhiên. Dưới con mắt của ông, mọi quá trình vận động trong thế giới
chúng ta đều có mục đích nhất định, theo sự xếp đặt tiền định. Chẳng hạn, trời mưa
làm cho lúa mì được tươi tốt, mèo sinh ra để bắt chuột…. Tóm lại, mọi cái đều có

chính bản thân sự vật tồn tại trên thực tế.
Nhà bách khoa toàn thư thời cổ đặc biệt đề cao vai trò của tri thức cảm tính. Nó
đem lại cho ta những hiểu biết xác thực và sinh động về các sự vật đơn nhất. Ông là
người khởi xướng nguyên lý tabula rasa (nguyên lý coi linh hồn con người khi mới
sinh ra hoàn toàn không có tri thức, tựa như một tấm bảng sạch) đối lập với tư tưởng
của Platon coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại. Theo Arixtot nhận thức cảm tính là
giai đoạn đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình nhận thức.
Tiếp sau là nhận thức kinh nghiệm, theo Arixtot đó là hàng chuỗi những liên
tưởng về cùng một sự vật hay nhóm các sự vật nhất định. Đây cũng là dạng nhận thức
quan trọng, bởi vì “cả khoa học và nghệ thuật đều xuất phát ở mọi người thông qua
kinh nghiệm”.
Cao hơn kinh nghiệm là nhận thức nghệ thuật mà nền tảng của nó là thực tiễn
của con người. Nó đem lại nhưng tri thức mang tính khái quát hơn so với các dạng
nhận thức trên.
Dạng nhận thức cao nhất đó là nhận thức khoa học, trong đó triết học là tối cao.
Nó là hoạt động trí tuệ đem lại cho chúng ta những tri thức lý luận có tính khái quát
cao. Dưới con mắt của Arixtot, khoa học là một hệ thống tri thức phức tạp. Ông là
người đầu tiên tìm cách phân loại các khoa học. Xuất phát từ luận điểm “mọi sự duy
diễn đều hướng tới hoặc là hoạt động, hoặc là sáng tạo, hoặc là tư biện”, ông phân chia
các khoa học ra làm ba dạng:
- Thứ nhất, đó là các khoa học mang tính thực tiễn như đạo đức, chính trị…. Ở
đây thực tiễn bị hiểu theo nghĩa hẹp, đó chỉ là các hoạt động luân lý, chính trị của con
người.
- Thứ hai, đó là các khoa học sáng tạo. Ở đây, danh từ “sáng tạo” cũng bị hiểu
theo nghĩa hẹp lại, đó chỉ là các hoạt động nghệ thuật, kĩ thuật. Tuy nhiên, không nên
đồng nhất các khoa học này với nghệ thuật.
- Thứ ba, đó là các khoa học tự biện, bao gồm triết học thứ nhất, toán học, vật
Trang 6
lý…trong đó triết học thứ nhất là tối cao, là chẩn mực cơ bản để đánh giá trình độ
thông thái của con người. Còn giữa toán học và vật lý thì Arixtot do dự trong việc

Trang 7
bản chất như ở phần đã nêu trên, Arixtot đi đến thừa nhận hai dạng bản chất. Bản chất
thứ nhất là những sự vật khách quan tồn tại dưới dạng đơn nhất. Từ góc độ này, phạm
trù bản chất cho phép chúng ta thể hiện được sự vật một cách cụ thể, sinh động và xác
thực. Arixtot gọi đây là bản chất cho phép chúng ta thể hiện được sự vật một cách cụ
thể, sinh động và xác thực. Arixtot gọi đây là bản chất có trước. Bản chất thứ hai (hay
bản chất có sau) là những khái niệm chung về sự vật, chẳng hạn như các khái niệm con
người, động vật, thực vật. Chúng cho phép ta nhận thức một cách bao quát một nhóm
các sự vật có chung những đặc tính nhất định, Arixtot trên thực tế đã thừa nhận rằng
các sự vật tồn tại khách quan và có trước các khái niệm chung và tri thức về chúng.
Học thuyết của Arixtot về các phạm trù còn mang tính trực quan và cảm tính.
Số lượng các phạm trù được ông xem xét còn rất hạn chế. Tuy nhiên, học thuyết đó có
vai trò to lớn trong việc nghiên cứu các phạm trù như những hình thái của tư duy và
công cụ của nhận thức sau này. Khác với Platon, Arixtot đã hiểu được các phạm trù
như những công cụ để nhận thức thế giới chứ không phải “những lực lượng tinh thần
siêu nhiên”. Ông đã hiểu được dự thống nhất giữa các khía cạnh bản thể luận, nhận
thức luận và ngôn ngữ trong các quan niệm về phạm trù. Ông còn tìm cách chỉ ra các
mối quan hệ phạm trù với nhau, coi tất cả các phạm trù đều là sự thể hiện các khía
cạnh khác nhau của phạm trù bản chất. Arixtot đã đưa ra một tư tưởng biện chứng sâu
sắc, coi “các sự vật đang tồn tại và bản chất được cấu từ các mặt đối lập”. Vì vậy, đánh
giá cao logic học của Arixtot, Lenin đã coi “ logic của Arixtot là nhu cầu, là sự cố gắng
tìm tòi, là sự đến gần với logic của Heghen – nhưng từ logic này của Arixtot (người
mà bất cứ nơi nào, cứ mỗi bước, đều đặt ra chính vấn đề phép biện chứng), người ta đã
làm thành một triết học kinh viện chết, bằng cách vứt bỏ tất cả cái gì là tìm tòi, là doa
động, là cách đặt vấn đề”.
1.5. Nhân bản học
Nhân bản học là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong thế giới quan của Arixtot.
Ông thấy rằng: “nhận thức linh hồn con người thúc đẩy mạnh mẽ nhận thức mọi chân
lý, nhất là nhận thức giới tự nhiên”.
Arixtot cho rằng con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác tựa như mỗi

trị tốt nhất không phải là chế độ dân chủ hay chế độ quân chủ mà là chế độ công hòa
quý tộc. Trật tự xã hội bấy giờ (chiếm hữu nô lệ), đối với Arixtot là một trật tự xấu,
nhưng đó lại là mật trật tự xấu cần thiết, vì vậy cần phải bảo vệ nó… Arixtot xem xét
cả mối liên hệ giữa đạo đức và kinh tế trên bình diện xã hội. Theo ông, công bằng
trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng xã hội và bình đẳng giữa các cá
nhân trong cộng đồng. Arixtot đòi hỏi phải quan tấm đến lao động và phân công lao
Trang 9
động. [1;115]
Sứ mệnh của nhà nước không chỉ bảo đảm cho mọi người sống bình thường,
mà còn phải làm sai để con người sống hạnh phúc. Tiêu chuẩn đánh giá nhà nước đó là
mức độ phúc lợi mà nó đem lại cho các công dân trong xã hội (trừ nô lệ - không được
Arixtot coi là con người, mà chỉ là công cụ biết nói). “Mục đích của nhà nước là cuộc
sống phúc lợi bản thân nhà nước là sự giao thiệp của các gia tộc và dân cư nhằm đạt
được sự tồn tại một cách hoàn thiện và tự lập”, tức là đạt được cuộc sống ưu việt nhất,
mà theo ông, không chỉ về phương diện của cải vật chất mà còn bảo đảm công lý (theo
cách hiểu của nhà tư tưởng xuất thân từ tầng lớp chủ nô).
1.7. Đạo đức học
Học thuyết đạo đức của Arixtot xoay quanh niềm tin của ông rằng: con người
giống như mọi sự vật khác trong thiên nhiên, có một “mục đích” đặc trưng phải đạt tới
hay một chức năng phải hoàn thành. Ông coi đạo đức học là sự mở rộng nhận thức vào
lĩnh vực hành vi của con người. Khi phủ nhận quan điểm của Platon coi hạnh phúc của
con người gắn liền với thế giới ý niệm, Arixtot cho rằng: ngu dốt, sai lầm là nguồn gốc
của cái ác; lý trí và lẽ phải đời thường là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm
hạnh (làm một cách tự nhiên, không gò bó) của con người. Phẩm hạnh của con người
nếu có được nhờ vào việc thấu hiểu và làm theo chân lý (hành động dữa theo cái tất
yếu – phổ biến, do thông qua giáo dục và đào tạo) thì đó là phẩm hạnh lý tính; còn
phẩm hạnh của con người có được nhờ thói quen làm theo lẽ phải đời thường (hành
động dựa theo cái trung dung, tức là không thái quá, thông qua tập quán lâu đời của
công đồng) thì đó là phẩm hạnh luân lý. Con người cảm thấy khoái lạc khi bản thân
sống có đức hạnh, khi mình làm điều thiện một cách tự nhiên. Khoái lạc chỉ là một cơ

trong tư tưởng thời sau. Ông đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc của bị kịch, tập
trung vào khái niệm thanh lọc và tẩy rửa.
Kinh tế học
Arixtot có những quan điểm kinh tế học rất sâu sắc. C.Mác đã gọi ông là nhà
nghiên cứu vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử đã hiểu được hình thức giá trị của trao đổi.
Arixtot cũng đã nghiên cứu những hiện tượng của đời sống xã hội như: phân công lao
động, hàng hóa, trao đổi, phân phối ông cũng đã tìm ra mối liên hệ giữa trao đổi với
phân công lao động, sự phân ra gia đình nguyên thủy thành những gia đình nhỏ. Khi
nghiên cứu trao đổi, Arixtot đã tiếp cận đến hai hình thức sở hữu: tự nhiên và không tự
nhiên; đồng thời cũng đoán ra một cách tài tình tính hai mặt của giá trị tư tưởng độc
quyền và giá cả độc quyền cũng đã xuất hiện trong học thuyết về kinh tế của ông.
Trang 11
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
ARIXTOT
2.1. Giá trị:
Nhận thức luận của Arixtot chứa đựng các yếu tố cảm giác luận và kinh nghiệm
luận có khuynh hướng duy vật. Ông tìm ra phương pháp thống nhất lôgích lịch sử
trong nghiên cứu lịch sử triết học. Arixtot không chỉ nghiên cứu những quy luật lôgích
của tư duy con người, mà còn xác lập phong cách khoa học để xem xét các vấn đề triết
học. Ông là người đầu tiên tổng kết và hệ thống hóa tư tưởng triết học trong lịch sử
triết học Hy Lạp cổ đại. Bên cạnh đó giá trị của Arixtot là ở chỗ ông đã phát minh một
môn học mới, hoàn toàn không dựa vào các tác phẩm từ trước để lại. Lối suy luận của
người Hy Lạp trước thời Arixtot không được minh bạch, chính ông đã chấn chỉnh tình
trạng này bằng cách đặt ra những quy luật cho sự suy luận.
Trong lĩnh vực sinh vật học, ông là người đầu tiên nhận thấy rằng những loại
sinh vật có thể được xếp hạng và giữa những hạng ấy có mối liên hệ mật thiết trong
nhiều phương diện khác nhau, chẳng hạn như trong sự cấu tạo cơ thể, cách sinh sống,
sự thụ thai, sự cảm xúc…Với các phương tiện nghiên cứu và quan sát trong lĩnh vực
này còn hạn chế, nhưng ông đã tìm ra kết luận gần giống như thuyết của Von Baer về
các đặc tính của giống nòi và thuyết của Spencer về sự tương quan giữa các giống vật

2.2. Hạn chế:
Các quan niệm của ông không nhất quán, dao động giữa lập trường duy vật và
duy tâm như sự dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong quan
niệm về vật chất và hình dạng…
Arixtot thần thánh hóa nhận thức lý tính, coi nó như là chức năng của linh hồn,
của thượng đế.
Vật lý học và vũ trụ học của Aritot có nhiều tư tưởng duy tâm và cũng mắc
nhiều sai lầm như việc ông công kích thuyết của Pitago cho rằng Mặt Trời là trung tâm
điểm của Thái Dương hệ, vì ông muốn dành vinh dự ấy cho Trái Đất
Những nhận xét của Arixtot về thiên nhiên và xã hội chứa rất nhiều sai lầm
quan trọng. Ông thường để cho các tư tưởng siêu hình ảnh hưởng đến nhận xét khoa
học. Và đây cũng là một đặc điểm của nền ăn hóa Hy lạp: các học giả thời ấy thường
đi đến một kết luận quá hấp tấp.
Công trình nghiên cứu của Arixtot về đạo đức học bị ảnh hưởng quá nhiều của
luận lý học. Kết quả là một công trình quá khô khan, không đủ sức thúc đẩy con người
tự cải thiện. Lý tưởng của Arixtot thiên về một đời sống quá bình thản, quá ôn hòa.
Trang 13
Do hạn chế lịch sử, sự phân loại các khoa học của ông tuy còn mang nặng tính
thơ ngây và cảm tính. Các phạm trù “thực tiễn”. “sáng tạo”, “lý luận” đều chỉ được
ông hiểu theo nghĩa hẹp và tách rời nhau. Vì thế nhà triết học không nhìn thấy mối liên
hệ giữa các dạng khoa học, hơn nữa ông còn quá đề cao các khoa học tự biện, coi
thường các khoa học thực tiễn.
Vì các phương tiện nghiên cứu và quan sát trong lĩnh vực này còn thiếu sót nên
Aristot có nhiều lầm lẫn, ta có thể liệt kê một vài điều: ông không biết gì về sự hiện
hữu của các bắp thịt trong cơ thể, ông không phân biệt được động mạch và tĩnh mạch,
ông tưởng rằng khối óc dùng để làm cho máu trở nên lạnh, ông tin rằng đàn ông có
nhiều mảnh xương sọ hơn đàn bà, và đàn bà có ít răng hơn đàn ông.
Đối với lĩnh vực tâm lý học, Arixtot có nhiều khó hiểu và mâu thuẫn. Như về
vấn đề tự do của ý chí và bất tử của linh hồn thì ý kiến của Arixtot không được đồng
nhất, khi thì ông lý luận theo thuyết định mệnh nghĩa là con người không thể làm gì

lùi bước, xao lãng khát vọng hiểu biết về thế giới. Ngoài ra, sự mạnh dạn phủ nhận
những thiếu sót và làm sáng tỏ chân lý của ông cũng là một hành động đáng để chúng
ta quan tâm.
Qua tấm gương của Arixtot một điều được rút ra là “không có thành công nào
mà không phải trả giá bằng sự lao động, học tập thực sự. Bên cạnh đó, sự kiên trì và
nỗ lực cho cái mình yêu thích cũng là điều đáng quý”; và “chân lý cần được tôn trọng
và bảo vệ.” Chính những phẩm chất cao quý như thế đã hình thành nên một Arixtot,
một vĩ nhân, một triết gia lớn của mọi thời đại.
Trang 15
Tài liệu tham khảo
[1] TS Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học phần I Đại cương về lịch sử triết học
[2] TS Bùi Văn Mưa, Triết học và Bức tranh Vật lý học về thế giới, Nxb Đại
học quốc gia TP HCM 2011
[3] Will Durant, Trí Hải và Bửu Đích dịch, Câu chuyện triết học
[4] GS, PTS Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử Triết học, NXB chính trị quốc gia, Hà
Nội 1998
[5] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử Triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn và
Lưu Văn Hy biên dịch, NXB Lao Động hà Nội 2004
[6] Forrest E.Baird, Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida, Đỗ Văn
Thuấn và Lưu Văn Hy biên dịch, NXB Văn Hóa Thông Tin 2006
[7] Samuel Enoch Stumpf & Donald C.Abel, Nhập môn triết học Phương Tây,
Lưu Văn Hy biên dịch, NXB Tổng Hợp TPHCM 2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status