TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRƯỜNG PHÁI
ĐẠO GIA 2
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển đạo gia 2
2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của đạo gia 2
2.1 Tư tưởng triết học của Lão Tử 2
2.2.1 Lý luận về đạo và đức 3
2.2.2 Quan niệm biện chứng về thế giới 3
2.2.3 Thuyết vô vi 5
2.2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo Gia 6
CHƯƠNG II: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI
ĐẠO GIA 10
1. Những giá trị của trường phái đạo gia 10
2. Những hạn chế của trường phái đạo gia 11
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21
LỜI MỞ ĐẦU
Mầm mống của tư tưởng triết học Trung Hoa có thể tìm thấy tư tưởng
trong thần thoại, nhưng tư tưởng triết học có hệ thống được hình thành trong thời
Xuân Thu – Chiến quốc. Đây là thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được
phổ cập, nhiều học giả đưa ra học thuyết của mình, lịch sử gọi là thời Bách gia
tranh minh. Vượt lên trên các học thuyết ấy, Đạo giáo (hay Đạo gia) – cùng Nho
giáo và Phật giáo là ba học thuyết phát triển rực rỡ nhất, tạo thành nền tảng cho
văn hóa phương Đông cho đến ngày nay và được trân trọng gọi là Tam giáo.
Trong đó triết học của Đạo gia với nhà tư tưởng khai sáng là Lão Tử có
nhiều điểm độc đáo, đặc biệt là nhận thức vũ trụ quan. Triết học Đạo gia chú
trọng nhận thức về thế giới tự nhiên, về bản thể của vũ trụ và những quy luật vận
động của thế giới khách quan,
Những tư tưởng của Đạo gia thấm sâu vào dân tộc Trung Hoa, làm cốt lõi

256 trước CN), những tư tưởng vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về năng
lượng, chân khí, thuyết âm dương và Kinh Dịch. Nhưng, ngoài chúng ra, những
truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công,
Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng
được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. [2]
2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của đạo gia
Đạo gia còn được gọi là Lão Trang, được gọi theo tên 2 đại diện xuất sắc
nhất của Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử, tư tưởng của 2 nhà triết gia lớn này đặt
nền tảng cho toàn bộ tư tưởng của Triết học Đạo gia.
2.1 Tư tưởng triết học của Lão Tử
Lão Tử là nhà triết học lớn với học thuyết về “Đạo” nổi tiếng ở Trung
Quốc cổ đại. Ông được coi là người sáng lập ra trường phái triết học Đạo gia,
một trong ba trường phái lớn nhất thời Xuân thu – Chiến quốc. Cuộc đời và sự
nghiệp của ông mang đầy tính huyền thoại, cũng thấp thoáng, mập mờ, nửa hư,
nửa thực như triết lý của ông, nên người ta khó xác định được một cách chính
xác. Đa số các tài liệu đều cho rằng Lão Tử có thể sống đồng thời với Khổng Tử
và có dạy lễ cho Khổng Tử. Quan điểm này chủ yếu dựa vào hai thiên “Khổng
Tử thế gia” và “Lão Tử liệt truyện” trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên nói rằng
Khổng Tử đã từng gặp Lão Tử ở Chu để hỏi về lễ. [3]
Toàn bộ tư tưởng của ông, được trình bày ngắn gọn và xúc tích trong cuốn
Đạo đức kinh, gồm 81 chương, chia làm hai thiên thượng và hạ. Với cách diễn
đạt vắn tắt, thâm trầm, gợi mở bằng những châm ngôn, ngạn ngữ có tính ẩn dụ,
Học viên: Hứa Hán Cường Trang 2
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21
Lão Tử đã trình bày ba vấn đề triết học căn bản là: học thuyết về Đạo, tư tưởng
về phép biện chứng và học thuyết “vô vi”.
2.1.1 Lý luận về đạo và đức
Ý nghĩa chữ Đạo giữ một vai trò trọng tâm trong toàn bộ hệ thống triết
học Đạo gia. Đức Lão Tử cho rằng Đạo là bản nguyên của vũ trụ.


Học viên: Hứa Hán Cường Trang 3
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21
của tạo hoá. Đây là những quy luật nghiêm ngặt, không sự vật nào đứng ngoài
quy luật đó kể cả trời, đất, thần linh. [4]
Toàn thể vũ trụ, theo Lão Tử, bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến là: luật
quân bình và luật phản phục. Luật quân bình là giữ cho vận động được thăng
bằng không để cho cái gì thái quá, thiên lệch hay bất cập. Cái gì khuyết sẽ được
tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì vơi dễ được bồi đắp cho đầy, cái gì cũ
thì sẽ đổi mới lại. Đó là Đạo tự nhiên. Biểu tượng của luật quân bình là nước.
Nước có bản tính mềm mại, gặp chỗ trống thì chảy vào, gặp chỗ đầy thì chảy ra,
lánh cao mà tìm thấp. Vì thế nó ngày đêm chảy mãi không ngừng, lên trên thành
mưa thấm nhuần vạn vật, xuống dưới thì thành sông lạch tưới mát muôn loài.
Chính nhờ luật quân bình mà vạn vật tồn tại, biến đổi không ngừng theo
một trật tự tự nhiên, nhất định. Luật quân bình chống lại những gì thái quá trái
với sự điều hoà của tự nhiên. Để chống lại những gì thái quá, nó thường lấy nhu
thắng cương, nhược thắng cường.
Theo Lão Tử, trong quá trình vận động, biến đổi, khuynh hướng tất yếu
của vạn vật là trở về trong Đạo, trở về với tĩnh lặng, hư không theo luật "phản
phục". Lão Tử gọi luật đó là "trở lại của đạo". Luật "phản phục" ở Lão Tử có hai
nghĩa. Thứ nhất, phản phục có nghĩa là vạn vật biến hoá trao đổi cho nhau theo
một vòng tuần hoàn đều đặn, kế tiếp, nhịp nhàng bất tận như bốn mùa xuân, hạ,
thu, đông thay đổi, qua lại. Thứ hai, phản phục còn có ý nghĩa trở về với Đạo, tự
nhiên, vô vi. Trở về với Đạo tự nhiên, vô vi là trở về với chính bản tính tự nhiên
của mình, không thái quá, không bất cập. Như vậy thì "không làm gì cả, mà
không gì không làm". Theo Lão Tử, nếu không trở về Đạo tự nhiên, vô vi, cố
tình can thiệp vào cái bản tính tự nhiên của tạo hoá, là chuốc lấy thất bại: "nếu
trời không trong sẽ vỡ, đất không yên sẽ lở, hang không đầy sẽ cạn, vạn vật
không sống sẽ dứt".
Mọi sự vật biến động, biến đổi, theo Lão Tử có nguồn gốc từ trong bản
thân sự vật. Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập, vừa tương hoà,

muốn nào, nếu cố chạy theo những nhu cầu, ham muốn trái với khả năng, bản
tính tự nhiên của mình thì sẽ đánh mất chính bản thân mình. Và ba là "vô vi" còn
có nghĩa là luôn bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của vạn vật mà trước hết là
chống lại mọi hành động của con người tác động vào xã hội.
Từ quan điểm vô vi, Lão Tử rút ra những điểm căn bản trong nghệ thuật
sống của con người, đó là những đức tính: từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan
dung, trí túc và kiến vi.
Cũng từ học thuyết vô vi, Lão Tử đề cập tới những vấn đề chính trị, xã
hội. Trong đời sống xã hội và phép trị nước, trước hết Lão Tử chủ trương phải bỏ
hết những gì trái với đạo tự nhiên vô vi, vượt quá bản tính, khả năng, nhu cầu tự
nhiên cần thiết của con người. Trị nước bằng vô vi, Lão Tử kêu gọi đưa xã hội và
cuộc sống con người trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên thuỷ, chất phác,
không ham muốn, dục vọng, không thể chế, pháp luật, không ràng buộc bởi
truyền thống đạo đức, không tri thức văn hoá, kĩ thuật. Theo bản tính tự nhiên,
mọi người tự làm những việc mà mỗi con người cần phải làm một cách tự nhiên.
Học viên: Hứa Hán Cường Trang 5
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21
Hơn thế nữa, Lão Tử con chủ trương đưa đức tính con người trở lại với
thời kỳ trẻ thơ, hồn nhiên, chân chất, vô dục. Ông muốn con người thấu suốt mọi
lẽ của tự nhiên mà sống hòa hợp với tự nhiên, không tự mãn, không tự phụ,
không xao động, không phô trương, không thái quá hay bất cập.
Theo đạo vô vi, phản đối những hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội do
sự áp bức bóc lột của bọn quý tộc cũng như sự phát triển kinh tế hàng hoá gây
nên mơ ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã nguyên thuỷ, Lão Tử
chủ trương bất bạo động, phản đối việc gây chiến tranh bạo lực. Ông cho đó là sự
tàn bạo, là tai hoạ của đời sống con người. Trong cuộc chiến tranh Lão Tử cho
rằng, chẳng có thắng bại vinh nhục. Ông viết: "Chiến tranh là việc chẳng lành,
không phải việc của quân tử. Nếu bắt buộc phải dùng binh thì phải điềm đạm.
Nếu thắng cũng đừng cho là hay. Đắc thắng mà cho là hay tức là kẻ thích giết
người, cuộc chiến tranh phải xử bằng tang lễ" (Đạo đức kinh, Chương 31).

Theo Trang Tử, Đạo là cái hư không. Nó mơ hồ hỗn độn, nửa sáng nửa
tối, nửa tồn tại và nửa không tồn tại. Nó vượt ra khỏi mọi mối liên hệ với không
gian, thời gian, sinh tử. Nó không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà là cái vĩnh viễn
vượt ra khỏi cả mối liên hệ giữa tồn tại và không tồn tại, vì thế mà nó vô danh.
Về nguyên nhân và năng lực của Đạo, Trang Tử đã thể hiện quan điểm
duy vật khi ông cho Đạo là cái tự nhiên như thế, nó không do ai sinh ra mà tự
bản tự căn. Nó là bản thể đầu tiên của vũ trụ và vạn vật, nên nó “sinh ra trời đất”.
Nội dung thứ hai về Đạo của Trang Tử là vô thường. Đây là nội dung cốt
lõi của Đạo ở Trang Tử. Đạo vô thường chính là cuộc biến hóa của vũ trụ, là
cuộc đại chuyển tiếp giữa vũ trụ và vạn vật, là trạng thái động, biến đổi không
ngừng của Đạo. Trang Tử tuyệt đối hóa sự vận động, bỏ qua sự đứng im, sự tồn
tại tương đối của vạn vật. Đây chính là điểm khác biệt giữa Trang Tử và Lão Tử.
Nếu Lão Tử chú ý phân biệt các mặt đối lập, tương phản nhau trong Đạo thì ở
Trang Tử, ông đã hòa nhập tất cả là một trong sự biến hóa không lường. Vì vậy,
vũ trụ, vạn vật luôn ở trạng thái tương đối.
Theo Trang Tử Đạo còn là quy luật tự nhiên chi phối mọi sự vận động,
biến đổi của vũ trụ. Trang Tử cho rằng vạn vật trong thế giới vận động, biến hóa
khôn lường, nhưng chúng vận động không lộn xộn, tùy tiện mà vận động theo
một trật tự, một nguyên tắc nghiêm ngặt, không phải theo chiều hướng phát triển
đi lên, mà là theo một vòng tròn khép kín không rõ đầu, cuối.
Trong triết học Trang Tử, quan niệm về Đức cũng là một nội dung hết sức
quan trọng. Nó liên quan đến vấn đề con người tự nhiên và bản chất tự nhiên của
con người, sự đồng nhất giữa Đạo và Đức. Khái niệm Đức không phải là đạo đức
trong đời sống xã hội, mà là năng lực phát triển tự do trọn vẹn có bản tính tự
nhiên ở mọi người, mọi vật. Đức là một trạng thái tất yếu của vạn vật được quy
định bởi bản tính tự nhiên của nó.
Phần không kém đặc sắc trong triết học Trang Tử là phép biện chứng tự
phát. Trang Tử đã xem xét vũ trụ, tự nhiên bằng quan điểm biện chứng, mà nổi
bật là tư tưởng về sự vận động, biến hóa không ngừng của thế giới. Trong quan
Học viên: Hứa Hán Cường Trang 7

những gì trở ngại cho việc phát triển tự nhiên của vạn vật. Trang Tử cho rằng tất
cả những chế độ chính trị, pháp luật, đạo đức luân lý đều là những cái có hại
cho sự phát triển tự do theo bản tính tự nhiên của người và vật, cần phải loại bỏ.
Tóm lại, khái niệm “vô vi” của Trang Tử có ba nội dung chính: một là,
sống, tồn tại theo bản tính tự nhiên vốn có của mình; hai là, thuận theo lẽ tự
nhiên mà làm, không làm gì trái với tự nhiên và ba là, làm cho mọi vật đều được
Học viên: Hứa Hán Cường Trang 8
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21
tự do, bình đẳng sống, hành động theo đúng bản tính, khả năng, sở thích tự nhiên
của chúng. [3]
Trên cơ sở thuyết “vô vi”, Trang Tử phản đối quan điểm tự do và bình
đẳng thông thường, đó là sự tự do, bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật, luân
lý, giáo dục Cơ sở của tự do, bình đẳng ở Trang Tử là mọi vật đều được tự do
sống theo chính bản thân tính tự nhiên của mình, không bị ràng buộc bởi các tiêu
chuẩn do xã hội đề ra. Trên cơ sở tự do, bình đẳng này mà con người có được
hạnh phúc tuyệt đối.
Xuất phát từ học thuyết “vô vi”, Trang Tử đã trình bày những vấn đề
chính trị – xã hội của mình. Tuyệt đối hóa mặt tự nhiên của con người, Trang Tử
đã xem thường vai trò, sức mạnh cải tạo xã hội của con người, phủ nhận mọi
hoạt động thực tiễn xã hội. Tôn trọng bản tính tự nhiên của mỗi người mỗi vật,
phủ nhận mọi thể chế, luật lệ, quy tắc đạo đức, Trang Tử kịch liệt phản đối việc
con người dùng sức lực áp chế, uốn nắn tự nhiên. Mọi hình thức nhân tạo như
pháp luật, chính trị, đạo đức đều chỉ san bằng mọi dị biệt, cá tính, xâm phạm bản
tính tự nhiên vốn có của mỗi người mỗi vật, gò ép chúng vào một khuổn chung
qua sự cắt xén, gọt giũa trái với tự nhiên. Đó là “lấy người để diệt trời”, tất yếu
sẽ dẫn đến kết quả tai hại, mặc dù đó là ý muốn tốt. Ông đòi hỏi phải tôn trọng
chỗ khác nhau của mọi vật, thuận theo bản tính tự nhiên của chúng, mọi vật tự do
sống theo khả năng, sở thích của mình thì thiên hạ sẽ yên bình.
Vậy theo Trang Tử, để trị thiên hạ thì không cần phải làm gì cả, tự nhiên
mà hóa. Mẫu mực xã hội ở ông là một xã hội không thể chế, không pháp luật,

mới nêu ra “ngũ sắc linh nhân mục manh, ngũ âm linh nhân nhĩ lung“ (năm màu
khiến người ta tối mắt, năm âm khiến người ta chói tai) và “mỹ ngôn bất tín, tín
ngôn bất mỹ; thiện giả bất biện, biện giả bất thiện“ (lời đẹp thì không thực, lời
thực thì không đẹp; người thiện không tranh biện, người tranh biện thì không
thiện). Những mệnh đề dường như có phần cực đoan này đều có ảnh hưởng rất
lớn đến văn học nghệ thuật và tư tưởng học thuật Trung Quốc và phương Đông.
Xét trên một ý nghĩa nào đó, có thể nói quan điểm “kiến tố bão phác“ và “mỹ
ngôn bất tín“ của Lão Tử cùng với mệnh đề “phác tố nhi thiên hạ mạc năng dữ
chi tranh mỹ“ (chất phác mộc mạc mà dưới gầm trời chẳng có gì có thể đẹp hơn)
của Trang Tử đã đúc nên cái phẩm chất mỹ học chất phác, thanh đạm, tự nhiên,
thuần chân của văn hóa Trung Hoa. [6]
Ngoài ra với tư tưởng về mâu thuẫn biện chứng đã đạt tới trình độ khá sâu
sắc và trở thành cốt lõi trong phép biện chứng của Lão Tử, ông đã chỉ ra được
Học viên: Hứa Hán Cường Trang 10
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21
bản chất thực sự của mọi sự mâu thuẫn – đó là mối quan hệ biện chứng giữa
động và tĩnh giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Vì mối quan hệ
biện chứng của các mặt đối lập chính là nguồn gốc của mọi sự vận động, biến
đổi.
Triết lý duy tự nhiên của Lão Tử với năm điểm chính phản phục, hư tĩnh,
vô vi, khiêm nhu, bất tranh được hậu thế lưu giữ như một giấc mơ an lạc đã mất
trong nền văn minh cơ khí, phát triển kinh tế và nhịp sống xô bồ của nhân loại
sau ông hơn hai ngàn năm. Tiểu quốc của Lão Tử đầy vẻ ảo tưởng không kém
Utopia của Plato, nhưng giấc mộng an lạc và thuần phác của nó vẫn ám ảnh
người công dân hiện đại, nhất là những lúc quốc gia chẳng may không có được
giới lãnh đạo xứng đáng.
Lão Tử là người sớm nhận thấy sự tha hóa về đạo đức của con người khi
xã hội chuyển từ giai đoạn nguyên thủy sang giai đoạn có tư hữu. Mong ước của
ông về việc trở lại tính thánh thiện của đạo đức con người như không tham lam
(vô dục), không tranh giành (bất tranh), không xảo quyệt của thời kỳ nguyên thủy

có tư hữu, chưa có phân hóa giai cấp (thời kỳ nguyên thủy) và con người còn “vô
dục” (vì chưa có cơ sở để hữu dục) đến thời kỳ có tư hữu có phân hóa giai cấp và
có ý thức hữu dục, cũng như sự xuất hiện các thành tựu văn hóa văn minh, mỹ
thuật, nghệ thuật cũng là sự phát triển khách quan không phụ thuộc vào ý muốn
của con người [7]. Trực cảm thiên tài đã giúp Lão Tử cảm nhận được một số yếu
tố biện chứng trong tự nhiên nhưng hạn chế thời đại lại khiến ông không thể có
hiểu biết đúng đắn về biện chứng lịch sử và do đó khi phê phán về khuyết điểm
này của triết học Lão Tử chúng ta nên đứng ở thời đại của ông để đánh giá.
Còn đối với Trang Tử, ông đã xem xét vũ trụ, tự nhiên bằng quan điểm
biện chứng, mà nổi bật là tư tưởng về sự vận động, biến hóa không ngừng của
thế giới, người cùng với tạo hóa hợp làm một, mọi vật đều vận động theo một
quy luật tất yếu, bất di bất dịch như một vòng tròn lưu chuyển vô cùng tận, dưới
sự tác động của Đạo. Tuy nhiên, Trang Tử lại tuyệt đối hóa sự vận động, biến đổi
để tất cả chỉ là tương đối, và chính chủ nghĩa tương đối ở ông đã xóa nhòa mọi
mâu thuẫn, mọi mặt đối lập. Xóa nhòa mọi mặt đối lập tương phản trong sự vật,
cũng như giữa các sự vật, không còn phân biệt vật ta, phải trái, tốt xấu, sống chết,
Trang Tử đã bỏ mất cái sinh động của phép biện chứng, không tìm thấy động lực
thực sự của sự vận động biến đổi. Đồng nhất cái chung và cái riêng, nội dung và
hình thức, vận động và đứng im, Trang Tử đã đi từ phép biện chứng đến chủ
nghĩa chiết trung, ngụy biện.
Theo Trang Tử, con người là sản phẩm của tự nhiên. Con người cũng như
vạn vật đều chứa đựng “đạo” như là cái bản chất quy định con người, là “tính”
hoặc “lý tự nhiên”. “Tính” là cái biểu hiện của “đạo” ở trong mỗi con người,
chúng hoàn toàn giống nhau, nhưng do “đạo” là cái luôn biến đổi mà tính biểu
hiện lại hết sức khác nhau ở mỗi người. Vượt lên trên tất cả các dị biệt đó thì
người và vật đều chỉ là một. Thực chất Trang Tử đã đề cao và tuyệt đối hóa mặt
tự nhiên của con người, xem xét con người tách hẳn với xã hội hay đối lập hoàn
toàn với xã hội. Biến con người thành một thực thể riêng biệt, khép kín, phủ nhận
Học viên: Hứa Hán Cường Trang 12
Tư tưởng triết học Đạo gia – giá trị và hạn chế Cao học Kinh tế – K.21

nền triết học phương Đông.
Tuy nhiên Đạo gia là một học thuyết nhiều mâu thuẫn. Xuất phát từ một
thế giới quan có vẻ duy vật, nó lại bao hàm rất nhiều yếu tố duy tâm và thần bí,
do đó dẫn đến một luận lý quan và một xã hội quan cũng đầy mâu thuẫn. Thái độ
đồng tình đối với thân phận của nhân dân nghèo khổ cùng thái độ thù địch đối
với trật tự xã hội đương thời và giai cấp áp bức đặt học thuyết của Đạo gia vào
dòng tư tưởng tiến bộ, nhưng chủ trương theo phép tắc tự nhiên bằng thái độ vô
vi lại dẫn học thuyết này đến những kết luận lạc hậu và phản động. Mong muốn
cứu đời nhưng lại phủ nhận sách trơn mọi hoạt động thực tiễn của con người để
cuối cùng tìm đến quyền lực, sức mạnh của tự nhiên – Đạo, và tuyệt đối hóa nó
để biến thành sức mạnh siêu nhiên thần bí.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với mức độ thức tỉnh của
con người về quyền tư hữu. Có thể nói đó là một sự thức tỉnh đầy tính ích kỷ và
mâu thuẫn. Ý thức tư hữu thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển với bước nhảy
vọt tuy nhiên cũng gây ra những bi kịch lớn cho đời sống tâm hồn của con người,
đặc biệt là sự tha hóa đạo đức do tư hữu mang lại. Làm sao để phát triển được mà
không bị tha hóa đạo đức là một câu hỏi được đặt ra từ thời đại của Lão Tử đến
ngày nay vẫn giữ nguyên tính thời sự. Lão Tử đã đúng khi nói rằng con người
của thời kỳ tư hữu đã rời xa sự chất phác và trở nên hữu dục nhưng ông đã không
nhìn ra được nguyên nhân gây ra sự tha hóa đó là do sự ra đời của tư hữu và phân
hóa giai cấp và lại càng không thể hiểu rằng dù đau đớn như vậy nhưng đó vẫn là
con đường phát triển tất yếu của xã hội loài người. Sự tha hóa ấy có lẽ sẽ được
giải quyết ở một xã hội trở về vòng xoáy không tư hữu nhưng ở một trình độ rất
cao của lực lượng sản xuất. Ở đó văn minh vẫn được thúc đẩy phát triển mạnh
mẽ để đảm bảo cho sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, và văn minh không
thể bị xóa bỏ để quay lại xã hội nguyên thủy như chủ trương của Lão Tử.
Thời đại của Lão Tử và Trang Tử đã cách xa hàng ngàn năm nhưng những
tư tưởng triết học về con người của họ vẫn sáng lấp lánh ánh sáng bí ẩn và vẫn
gợi mở những suy ngẫm khám phá. Những tư tưởng này vẫn luôn mới mẻ và bổ
ích cho các hoạt động của chúng ta trong thực tại và tương lai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status