TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Tên đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA
SVTH : PHAN KIM CƯƠNG – STT: 21
LỚP : Cao học Đêm 5 – Khóa 21
TP.Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2012
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang 1
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA1. Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia
2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia
2.1Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử
2.1.1Lý luận về đạo và đức
2.1.2Quan niệm niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử
2.1.3Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội
a. Thuyết vô vi
b. Về đường lối trị nước an dân
2.2Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia
Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
1. Những giá trị của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia
1.1 Tư tưởng Đạo gia thể hiện một trình độ khái quát cao của tư duy biện
phạm vi nghiên cứu của nhiều học giả thuộc bộ môn triết ở các đại học, cho tới
các trí thức muốn tìm cho mình một lối suy tư và sống thanh thoát giữa xã hội bị
cơ khí hóa và mê thích tiêu thụ.
Tiểu luận triết học này dựa trên cơ sở tìm hiểu những tư tưởng cơ bản của
triết học Đạo gia, ý kiến phân tích của các Triết gia trên các báo, tạp chí chuyên
ngành. Do hạn chế về nguồn thông tin và kiến thức chuyên ngành nên tiểu luận
này một phần dựa trên thực tế cảm nhận của người thực hiện về các tư tưởng của
Đạo gia. Từ đó, người thực hiện có thể nhận thấy được những giá trị tinh túy và
những hạn chế của tư tưởng Đạo gia.
1
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
NỘI DUNG
Chương I: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia:
Trường phái Đạo gia xuất hiện vào Thời Xuân Thu (khoảng 722 – 481
trước Công nguyên) còn gọi là thời Đông Chu.
Về kinh tế: đây là thời kỳ nền sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp phát triển mạnh mẽ. Sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất
ngày càng cao. Sự phát triển của lực lượng sản xuất có tác động mạnh đến hình
thức sở hữu ruộng đất, kết cấu và địa vị kinh tế của các giai tầng trong xã hội.
Về chính trị: đây là thời kỳ tranh giành địa vị của các thế lực cát cứ, đẩy
xã hội Trung hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh liên miên, xã hội chuyển biến
từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến.
Về tư tưởng triết học: triết học tư duy trực giác; nhấn mạnh tinh thần
nhân văn; tập trung vào lĩnh vực luân lý đạo đức; nhấn mạnh sự hài hòa, thống
nhất giữa các mặt đối lập.
Sự biến chuyển sôi động của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ
điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra
những hình mẫu của một xã hội tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ
“Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia minh tranh” (trăm nhà đua
lượng sức sống và sự vận hành của thiên nhiên. Cũng có thể gọi là tự nhiên hoặc
thiên lý. Và Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý mà lưu hành.
Trong cái Đạo của vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tập hợp
thành cái trụ cốt, cái bản thể, còn đất trời và sinh linh, v.v. là những thực thể có
vị trí thích hợp và chức năng thích hợp, thao tác theo một thể thức tự nhiên. Đạo
ấy chỉ được biết bằng trực quan, không bằng lý trí.
Theo Lão Tử, đạo vừa là cái có trước vừa là cái nằm trong bản thân sự vật,
nhưng khi có sự can thiệp của con người thì đạo không còn là đạo nữa. Ông viết:
1
TS Nguyễn Ngọc Thu – TS Bùi Văn Mưa. (2003). Giáo trình Đại cương
Lịch sử Triết học, TP.HCM. NXB Tổng hợp TP.HCM.
3
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
có một vật hỗn mang thành tựu trước trời đất, yên lặng, mênh mông, một mình
độc lập, tản mác khắp nơi, không ngừng ở đâu, coi như mẹ của thế gian Cái hỗn
mang chưa có tên nên tạm gọi là đạo Đạo mà ta có thể gọi được không phải là
đạo; Danh mà ta có thể gọi được không phải là danh. Không tên là gốc của trời
đất, có tên là mẹ của vạn vật
Theo Lão Tử, đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật. Vạn vật
nhờ đạo mà được sinh ra, nhờ đức mà thể hiện và khi mất đi là lúc vạn vật quay
trở về với đạo. Đạo sinh ra Một (khí thống nhất), Một sinh ra Hai (âm, dương đối
lập), hai sinh ra Ba (trời, đất, người), Ba sinh ra vạn vật. Lão Tử đếm vài con số
rồi phán như thế và ta hiểu ý của ông cho rằng không thể định nghĩa Đạo, nhưng
Đạo có trước vũ trụ và Đạo là nguồn gốc của vũ trụ.
Tóm lại, đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi
cái đã, đang và sẽ tồn tại trong thế giới. Điều này cho phép hiểu đạo như nguyên
lý thống nhất – vận hành của vạn vật – nguyên lý Đạo pháp tự nhiên (Nhân pháp
địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên). Đạo vừa mang tính khách
quan (vô vi) vừa mang tính phổ biến; vì vậy, trong thế giới, không đâu không có
đạo, không ai không có đạo
một trong hai mặt đối lập để tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục (quay
trở lại cái ban đầu), hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để là cho mặt đối lập kia
tự mất đi theo quy luật quy bình (cân bằng nhau).
2.1.3 Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội
a. Thuyết vô vi
Khi xuất phát từ nguyên lý Đạo pháp tự nhiên và mở rộng quan niệm về
đạo và lĩnh vực đời sống xã hội, Lão Tử xây dựng thuyết vô vi để trình bày quan
điểm của mình về các vấn đề nhân sinh và chính trị xã hội. Mặc dù Lão Tử đề
cao mặt tự nhiên của con người, phủ nhận mặt xã hội, nhưng quan điểm “vô vi”
của Lão Tử vẫn biểu hiện sâu sắc nghệ thuật sống, thái độ ứng xử của con người,
phương pháp trị nước của vua chúa hay bộ máy nhà nước, và đây cũng chính là
chỗ tập trung giá trị hệ thống triết học của ông.
5
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
“Vô vi” là một khái niệm triết học đạo đức của người Trung Hoa cổ đại.
Đó là phương pháp sống tự nhiên, mộc mạc, thuần phác, không bị cưỡng chế, gò
ép. Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo,
không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ
bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức. Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi
thì mới nhận thấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo thì mới có thể vô vi được.
Đối lập với vô vi là hữu vi. Hữu vi là sống và hành động không theo lẽ tự
nhiên, là đem áp đặt ý chí của mình vào sự vật, là can thiệp vào đất trời. Lão Tử
phản đối mọi chủ trương hữu vi vì ông cho rằng hữu vi chỉ làm xáo trộn trật tự tự
nhiên vốn mang tính điều hòa, làm mất bản tính tự nhiên của con người, dẫn đến
sự xa lánh và làm mất đạo.
Khái niệm “vô vi” ở Lão Tử cũng xuất phát từ ý nghĩa này, nhưng cốt lõi
thực sự của nó là nghệ thuật sống của con người trong sự hoà nhập với tự nhiên,
thuận theo bản tính tự nhiên của con người. “Vô vi” trong “Đạo Đức kinh” có ba
ý nghĩa chính: Một là vạn vật đều có bản tính tự nhiên của mình, chúng tồn tại,
vận động, biến hoá theo lẽ tự nhiên, không cần biết đến ý nghĩa, mục đích của
quan điểm của Khổng Tử. Lão Tử sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền
miên cho nên rất ưu tư về vấn đề quốc trị. Ông thấy là “dân đói vì người trên lấy
thuế nhiều cho nên dân đói, dân khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân
khó trị”, “thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì dân càng nghèo; dân nhiều lợi khí thì quốc
gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo thuật thì vật kỳ lạ càng xuất hiện, pháp
luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.”. Lão Tử cho rằng hành động hay
nhất là đừng can thiệp đến việc đời; nhưng nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm
cái không làm một cách kín đáo, khéo léo. Ông coi đây là giải pháp an bang tế
thế. Ông viết: Chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến thành chất phác, chính
phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa.
Nếu Khổng tử đòi hỏi người trị vì thiên hạ phải là bậc Thánh nhân với các
phẩm chất đạo đức như nhân, lễ, nghĩa, trí ; thì Lão Tử chủ trương bậc Thánh
nhân trị vì thiên hạ bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi. Nếu Khổng Tử chủ trương
xây dựng xã hội đại đồng, thì Lão Tử chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về
7
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
mặt đạo đức, pháp luật đối với con người để trả lại cho con người cái bản tính tự
nhiên vốn có của nó. Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thủy chất
phác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hòa tan con người vào đạo (tự nhiên).
Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà
trong đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết
nhiều, không muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi.
Trong quốc gia lý tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục
với thiên nhiên; bởi vì hài lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa xa
nơi sinh trưởng, không có lòng tham để tranh giành quyền lợi. Con người không
tranh giành quyền lợi thì thiên hạ không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có
xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không dùng đến. Khi người dân có đời sống thái
hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc gia có thể “giũ áo, chắp tay, không
làm” (vô vi) mà thiên hạ cũng được thái bình.
2.2. Trang tử và sự phát triển Đạo gia
trường phái Đạo gia đã thể hiện một trình độ khái quát cao của tư duy về những
vấn đề bản nguyên thế giới được xem xét trong tính chỉnh thể thống nhất của nó.
Triết học Lão Tử chú trọng nhận thức về thế giới tự nhiên, về bản thể của
vũ trụ và những quy luật vận động của thế giới quan. Những nhận thức này được
Lão Tử làm cơ sở cho những đề xuất của ông về các vấn đề xã hội và chính trị.
Triết học Lão Tử bắt đầu từ việc tìm hiểu về tự nhiên để nhận thấy con người là
một bộ phận không thể tách rời khỏi tự nhiên và con người ở đây không bắt đầu
được bàn đến trong trục quan hệ con người – xã hội mà lại bắt đầu từ trục con
người – tự nhiên. Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong vũ trụ quan của
Lão Từ là: Tự nhiên có trước con người, tồn tại và vận động theo quy luật khách
quan, con người cần phải biết nương theo quy luật của tự nhiên để hành động
hợp theo lẽ tự nhiên.
2
Theo xuất phát điểm đó bằng một trực quan tuệ tính và
minh triết, Lão Tử đã cảm nhận được bản thể thống nhất của vũ trụ thông qua
khái niệm Đạo trong Đạo đức kinh.
2
Lê Hồng Giang (trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQG-HCM).
(2009). Về vấn đề con người và xã hội con người trong Triết học Lão Tử, Tạp chí
Phát triển Kh&CN, Tập 12, Số 01-2009.
9
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Theo Lão Tử, vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến: luật quân bình
và luật phản phục. Luật quân bình là giữ cho vận động được thăng bằng không để
cho cái gì thái quá, thiên lệch hay bất cập. Cái gì khuyết sẽ được tròn đầy, cái gì
cong sẽ được thẳng, cái gì vơi dễ được bồi đắp cho đầy, cái gì cũ thì sẽ đổi mới
lại. Đó là Đạo tự nhiên. Chính nhờ luật quân bình mà vạn vật tồn tại, biến đổi
không ngừng theo một trật tự tự nhiên, nhất định. Trong quá trình vận động, biến
đổi, khuynh hướng tất yếu của vạn vật là trở về trong Đạo, trở về với tĩnh lặng,
hư không theo luật “phản phục”. Lão Tử gọi luật đó là “trở lại của đạo”.
thể trị vì lâu dài. Thậm chí để biện minh cho vai trò đặc quyền của mình, họ tự
cho mình là những con người ưu việt về mặt đạo đức. Nhà hiền triết đích thực cai
trị dân chúng “bằng cách dưỡng dục họ nhưng không tuyên bố mình có quyền
lực đối với họ”, và bằng cách loại trừ những nguyên nhân tranh chấp hơn là
trừng phạt khi xảy ra hậu quả: “Nếu chúng ta đừng trọng kẻ hiền tài. Sẽ không
có sự ghen tranh trong dân chúng. Nếu chúng ta thôi đánh giá cao những vật
khó tìm
Sẽ không có trộm cắp nữa…”
Cho nên người lãnh đạo sáng suốt cai trị dân mình bằng cách “làm cho
tâm trí họ trống không và làm cho bụng họ no đầy” để đạt được mục đích là hoàn
toàn tẩy rửa sạch ra khỏi đầu óc những ý nghĩ lan man, để cho sự nhận thức trực
giác về Đạo có thể hiện lên một cách tự phát. Một tâm trí rối bời sẽ làm che
khuất Đạo, trong khi đó một “hư tâm” lại phản chiếu Đạo như một tấm gương.
Do vậy, bậc cai trị khôn ngoan luôn cố gắng giữ cho tâm trí của thần dân mình
càng trống vắng mọi ý tưởng và ham muốn nhân tạo càng tốt, vì chúng chỉ làm
cho con người bối rối, tạo ra những xung đột, làm phân tán sự chú tâm về Đạo.
4
2.7 Tư tưởng Đạo gia đề ra những điểm căn bản trong nghệ thuật sống
của con người
Khái niệm vô vi trong Đạo đức kinh thường được hiểu lầm là không nên
làm gì cả, nhưng thật ra Lão Tử khuyên rằng làm mà như không làm, và không
làm những điều không nên làm. Ông cũng viết rằng nước tuy mềm mại uyển
chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một khối lượng lớn thì có
thể làm lở cả đất đá. Như vậy, vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước.
5
4
Mai Sơn. (2004). Tiểu luận về Đạo đức kinh. Website www.evan.vnexpress.vn.
5
Thích Pháp Như. (2011). Quan điểm vô vi của Lão Tử và vô vi của đạo Phật.
6
Triết học Trung Hoa cổ, trung đại. Khoa lý luận chính trị - Trường ĐH Mỏ Địa
chất. www.humg.edu.vn
12
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Lão Tử quá sùng bái tự nhiên, mạt sát sự tiến bộ văn minh, chỉ coi xã hội
thời nguyên thủy là hoàn hảo, muốn hướng xã hội loài người tiến về thời kỳ đó.
Lão Tử đã cho rằng sự phát triển của các yếu tố văn minh làm cho con
người tha hóa nên ông chủ trương hủy bỏ mỹ thuật, nghệ thuật (sản phẩm của
văn minh), tránh xa danh vọng, địa vị tiền của “ Ngũ sắc làm cho người ta mờ
mắt, ngũ âm làm cho người ta ù tai, ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruổi ngựa
săn bắn làm cho người ta mê loạn, vàng bạc châu báu làm cho hành vi con người
đồi bại cho nên thánh nhân cần no bụng mà không cần vui mắt, bỏ cái này (xa xỉ,
đa dục) mà lựa chọn cái kia (chất phác vô dục)”.
Ông chủ trương xây dựng nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi,
có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành Dân hai
nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn,
cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy sáng nhưng đến già, đến chết họ
không bao giờ qua lại thăm nhau.
Lão Tử đã đem tự nhiên đối lập với văn minh và đối lập với sự phát triển
tiến hóa của xã hội loài người để từ đó muốn xóa bỏ văn minh, muốn giữ xã hội
ở trạng thái nguyên thủy. Tuy nhiên ông không biết rằng nếu với tự nhiên sự vận
động phát triển là “ tự hóa” là khách quan thì với xã hội loài người thì sự vận
động phát triển cũng là “tự hóa” và khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn
của con người.
7
2.3Tư tưởng của Đạo gia không nhận thấy nguyên nhân sự tha hóa của
con người
Lão Tử đã đúng khi nói rằng con người của thời kỳ tư hữu đã rời xa sự
trong bùn, còn hơn làm con rùa thần đã chết cất nơi miếu đường, trong một cái
giỏ có phủ lụa”. Cách sống dững dưng, thoát tục, vị ngã của trường phái Đạo gia
là một phản ứng tiêu cực trước sự bế tắc của thời cuộc bấy giờ.
14
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
ua việc nghiên cứu vể trường phái Đạo gia chúng ta phần nào hiểu thêm
được nguồn gốc ra đời, hệ tư tưởng của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đến
xã hội. Dù còn những khuyết điểm, hạn chế song chúng ta không thể phủ nhận
những giá trị đạo đức to lớn mà Đạo gia mang lại. Đặc trưng hướng nội của Đạo
gia giúp con người tự suy ngẫm về bản thân, cân nhắc các hành động của mình
để không gây ra đau khổ bất hạnh cho người khác. Nó giúp con người sống thân
ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình. Tuy Lão Tử không đúng khi muốn hướng
xã hội loài người quay lại xã hội nguyên thủy nhưng ông lại là người sớm nhận
thấy sự tha hóa về đạo đức của con người khi xã hội chuyển từ giai đoạn nguyên
thủy sang giai đoạn có tư hữu. Mong ước của ông về việc trở lại tính thánh thiện
của đạo đức con người như không tham lam, không tranh giành, không xảo quyệt
của thời kỳ nguyên thủy lại là mong ước muôn thuở về tính nhân bản của nhân
loại.
Q
Tóm lại, những tư tưởng sâu sắc và độc đáo về đạo, về đức, về phép biện
chứng, về vô vi trong hệ thống triết học của Lão Tử đã nâng ông lên vị trí những
nhà triết học hàng đầu trong nên triết học Trung Hoa cổ đại. Chúng là mạch suối
nguồn làm phát sinh nhiều tư tưởng triết học đặc sắc của nên triết học phương
Đông nói chung và triết học Trung Hoa nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những
ảnh hưởng tích cực, Đạo gia cũng đem lại những tác động tiêu cực. Vì vậy,
chúng ta cần chọn lọc những tiến bộ trong Đạo gia để có sự vận dụng thích hợp.
15
Phan Kim Cương - CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa