TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VIỆN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN TRIẾT HỌC

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
GVHD: BÙI VĂN MƯA
HỌC VIÊN: BÙI THỊ THANH CHÂM
LỚP ĐÊM 5 - K21
SỐ THỨ TỰ: 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 02/2012
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU 3
3. Tư tưởng của triết học nho giáo về đạo đức xã hội 7
4. Tư tưởng triết học nho gia về giáo dục đạo đức 9
CHƯƠNG II. GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA 10
1. Giá trị của triết học Nho gia 10
2. Hạn chế của triết học Nho gia 12
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nhắc đến văn hóa Phương Đông, hẳn ai cũng nghĩ tới một bộ phận dân cư
sống và lưu giữ rất nhiều nét văn hóa để phân biệt với các dân tộc khác trên thế giới.
Phương Đông tự hào có một bề dày lịch sử khá trừu tượng và đậm bản sắc dân tộc.
Nơi đây đã tiếp thu qua rất nhiều nền văn hóa khác nhau, mỗi nền văn hóa đi qua hòa
trộn, gặn lọc lại hình thành nên những nét đặc trưng cho con người bởi phong cách
sống, truyền thống gìn giữ văn hóa cũng như hệ thống giáo dục được lưu truyền từ đời
này sang đời khác.

• Thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu)
• Thời Xuân Thu-Chiến Quốc
Sự phát triển của Nho giáo không chỉ được ghi nhận ở bề rộng trải dài trên
nhiều quốc gia, lãnh thổ mà còn đi sâu vào các giai đoạn lịch sử của nó. Đã rất nhiều
lần Nho giáo được đem ra phân tích, khái quát ý nghĩa, các mặt ưu điểm cũng như
nhược điểm từ tính không hoàn chỉnh của nó khi du nhập vào từng quốc gia thế cho
nên người ta mới nói rằng nó không phải là nhất thành bất biến mà chuyển biến từ cặn
nguồn của chính nó. Đã từng có giai đoạn Nho giáo và Phật giáo đấu tranh mà chung
sống. Nho giáo đã trở thành tư tưởng, văn hoá, in đậm dấu ấn của mình lên lịch sử của
một nửa châu Á trong suốt hai nghìn năm trăm năm qua, và cho đến tận hôm nay, lất
phất ít nhiều chúng ta cũng nhận thấy rằng còn rất nhiều người đang chịu ảnh hưởng
học thuyết Nho gia, học thuyết này đã trở thành cốt lõi của cái mà ta gọi là văn hóa
phương Đông. Dĩ nhiên, nó có những hạn chế nhất định, trước hết là những hạn chế
của thời đại, nhưng những giá trị nhân văn mà nó mang lại là điều không thể chối cãi.
Vài nét về Khổng Tử và những người đóng góp vào tư tưởng Nho Giáo:
Khổng Tử (551-479 TCN) tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ (Sơn
Đông) là nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn và đầu tiên của Trung Quốc. Dù có làm một
số chức quan ở nước Lỗ trong mấy năm, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc đời của
mình, ông chu du nhiều nước để trình bày chủ chương chính trị của mình và sau đó mở
trường dạy học. Tương truyền số học trò của ông có đến 3000 người, trong đó có
nhiều người thành đạt mà sử sách gọi là thất thập nhị hiền. Khổng Tử không chỉ dạy
học mà còn chỉnh lý các sách (san Thi, dịch Thư, tán Dịch, định Lễ, bút Xuân Thu).
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 4
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
Lý luận của ông là một hệ thống triết lý sâu sắc về đạo đức-chính trị-xã hội, được học
trò chép lại thành sách Luận Ngữ. Lý luận về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng… tạo nên
nội dung quan điểm về đạo đức của ông. [1, 53]
Theo sau đó còn có Mạnh Tử (372-298 TCN) và Tuân Tử (315-230 TCN) kế
thừa và phát huy những giá trị tư tưởng do Khổng Tử để lại. Mạnh Tử tin tưởng sâu
sắc vào sự tồn tại thiên mệnh và cho rằng mọi việc đều do trời quyết định. Theo ông,

Tiểu nhân và quân tử được ông phân giai tầng một phần dựa trên địa vị xã hội và phần
lớn là dựa vào phẩm chất đạo đức.
Quan niệm về Lễ theo Khổng Tử thì đó là nhân tố để lập lại xã hội trong thời
đại rối ren, trật tự kỷ cương từ gia đình đến xã hội đều bị xáo trộn. Khi con người nhận
thức được lễ thì có thể xác định được vai trò, nghĩa vụ cũng như bổn phận của từng
người trong các mối quan hệ. Lễ thể hiện hành vi ứng xử, ý thức của con người đối với
nhau, không chỉ dựa vào các mối quan hệ trong xã hội mà còn dựa vào nhân của từng
người. Khi con người có đầy đủ đức nhân thì họ sẽ nhận thức được lễ, người có đức
nhân thì không bao giờ thất lễ. Tuy nhiên bên cạnh quan điểm rất tích cực của ông thì
mặt khác nó có phần cứng nhắc về như quy tắc, phong tục, luật lệ, hình pháp và không
thể ép buộc tuân theo ở mọi thời đại, mọi quốc gia, chính vì vậy khi truyền bá sâu rộng
ra bên ngoài thì các quy tắc luật lệ này dần dần được thay đổi để phù hợp với phong
tục tập quán của từng nơi.
Quan niệm về Trí: là sự thông minh, nhạy bén, minh mẫn khi nhìn nhận mọi sự
vật sự việc luôn là điều cần thiết để con người hiểu thấu đáo mọi việc. Khổng Tử coi
trí là điều kiện để có nhân, trí không chỉ là sự thông minh mà là tự tích cóp dần dần
qua việc học tập. Xã hội thời này cũng vì thế mà rất coi trọng việc học, trau dồi kinh
thư, thi cử, học hành đỗ đạt để lên làm quan phò vua giúp nước.
Quan niệm về Tín: là sự tín nhiệm của mọi người dựa trên việc làm và lời nói
luôn song hành cùng nhau của con người. Khổng Tử đã đưa ra một quan điểm vô cùng
chính xác và rất có ảnh hưởng kể cả thời đại ngày nay. Người ta nói chữ tín còn là còn
tất cả ngay cả khi người ta mất đi của cải vật chất, tinh thần nhưng khi vẫn giữ được
chữ tín đối với mọi người thì có thể lấy lại tất cả những gì đã mất.
Quan niệm về Dũng: đây là sức mạnh tinh thần, sự can đảm, dũng cảm biết lên
tiếng bảo vệ chính nghĩa. Kẻ có dũng dám đứng lên bảo vệ sự thật không chút e dè lo
sợ. Nhưng người có dũng cũng cần có nhân, nghĩa, trí để cư xử phù hợp, người chỉ có
dũng mà không có nhân, nghĩa, trí thì chỉ là người nóng tính, bồng bột, hành động
theo cảm xúc. Có lẽ chính vì điều này mà Khổng Tử khi nói lên ý kiến của mình luôn
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 6
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa

HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 7
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
quan hệ chủ đạo xây dựng trong xã hội thời này là quân-thần, phụ- tử, phu-phụ, mà
các mối quan hệ này được đặt ra dựa trên những nguyên tắc hà khắc như “ Quân xử
thần tử, thần bất tử bất trung” hay “ phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa” [2].
Thời đại này trở thành thời đại hoàng kim của Nho giáo, mọi nguyên tắc luật lệ đều đi
vào khuôn mẫu, phổ biến khắp mọi nơi. Con người từ già đến trẻ, lớn đến bé, nam đến
nữ đều sống theo suy nghĩ tam cương đã được đặt ra. Ngay cả trong nền giáo dục thời
này cũng mang đậm tính nho giáo sâu sắc. Đó là cách giáo dục để trở thành người
quân tử phải đạt được ngũ thường bao gồm năm điều phải có khi ở đời là “ nhân,
nghĩa, lễ , trí, tín” như đã nói ở trên. Người phụ nữ phải sống tiết hạnh, thuận với đạo
lý. Thế nhưng thời đại này người phụ nữ vẫn bị xem thường, rẻ rúng, chỉ thuộc hạng
người tiểu nhân, không có tiếng nói trong xã hội. Vô hình chung cuộc sống của họ trở
nên lệ thuộc theo cách sống, cách nghĩ và cách giáo dục theo thời đại và ảnh hưởng
đến tận ngày nay, tư tưởng Nho giáo vẫn còn hiện hữu trong mỗi gia đình và xã hội
Phương Đông cho nên cuộc sống của họ đôi khi vẫn thiệt thòi trong cách phân biệt đối
xử.
Theo Nho giáo, quan niệm người quân tử phải đạt được ba điều trong quá trình
tu thân là đạt đạo, đạt đức và thông hiểu thi thư lễ nhạc. Đạo là phương cách ứng xử
mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống, đạo dựa trên các mối quan hệ xã hội
như vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Đây chính là ngũ thường hay ngũ
luân. Trong xã hội cách tốt nhất là “trung dung”, mọi sự vật sự việc xảy ra dù như thế
nào cũng phải giữ cho mình một thái độ không thái quá. Bên cạnh đó để đạt được đức,
quân tử phải đạt được ba đức là “nhân-trí-dũng” Khổng Tử nói: “ Đức của người quân
tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại,
người dũng không sợ hãi” [2]. Nhưng sau đó Mạnh Tử bổ sung thay dũng bằng “lễ,
nghĩa” nên trở thành bốn đức. Hán nho thêm một đức nữa và hoàn chỉnh thành năm
đức gọi là ngũ thường “ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Biết thi thư lễ nhạc là các tiêu chuẩn
ngoài đạo và đức để góp phần hoàn thiện toàn diện người quân tử.
Sau khi tu thân thì người quân tử phải hành đạo, cũng như việc học phải gắn kết

ở đường lối "Đức Trị". Đối với các xã hội phong kiến Châu Á, đường lối "Đức Trị"
luôn luôn là đường lối trị nước duy nhất trong hơn hai nghìn năm lịch sử. Một đường
lối trị nước được độc tôn lâu dài. Như vậy trong lịch sử rất cần được đi sâu vào nghiên
cứu. Hơn nữa, đối với các xã hội Á Đông đương đại, Nho học trong đó có tư tưởng
"Đức Trị" không phải là vấn đề cổ xưa, càng không phải là vấn đề đã hoàn toàn thuộc
về lịch sử.
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 9
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
Trên thực tế sự hiện diện của Nho học với những mức độ khác nhau, vẫn luôn
luôn mang tính thời sự mới mẻ. Với thời đại ngày càng phát triển không ngừng về kinh
tế kéo theo một nền văn hóa được pha trộn rất nhiều giữa các quốc gia với nhau thì tư
tưởng Đức trị lại càng trở nên cần thiết để hướng con người luôn giữ trong mình
những giá trị tốt đẹp, giàu tính nhân văn mà Nho giáo mang lại. Một sự nghiên cứu có
hệ thống về quan điểm“Đạo Đức” hay đường lối "Đức Trị" trong triết lý Nho học lại
càng cần thiết.
CHƯƠNG II. GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA
1. Giá trị của triết học Nho gia
Có thể nói, nhiều tư tưởng của Khổng Tử như học thuyết “Chính Danh” “Ngũ
Luân”, tư tưởng về giáo dục và tự giáo dục là những tư tưởng nền tảng ảnh hưởng lớn
đến đời sống tinh thần và hoạt động thực tiễn của một đại bộ phận dân tộc. Trong giai
đoạn giáo dục nước ta từ xưa đến nay thì học thuyết về “Chính Danh” “Ngũ Luân” tư
tưởng về giáo dục và tự giáo dục của Khổng Mạnh có giá trị rất lớn. Xã hội ngày nay
theo luồng kinh tế thị trường càng ngày càng phát triển đi cùng đó là việc xuống cấp,
mai một về Đạo Đức chính bởi thế mà trong giáo dục rất cần thiết phải khôi phục, phải
giáo dục về “Lễ”. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên kết hợp giữa giáo dục đạo đức và
giáo dục pháp luật (Đức trị và Pháp trị). Việc giáo dục đạo đức còn góp phần vào việc
thức tỉnh lương tâm, thức tỉnh bản chất con người, phải sống không những có trách
nhiệm với bản thân mà còn phải sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội.
Tư tưởng “Đức Trị” của Khổng Tử còn thể hiện ở quan niệm coi nhẹ chính
hình và giảm bớt sưu thuế cho dân, đề cao vai trò của dân. Khổng Tử quan niệm:

cứu sâu thêm nữa và chắc chắn sẽ còn tìm được trong đó nhiều bài học bổ ích.
Sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng góp phần thúc
đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là một học thuyết tích cực nhập
thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những quan hệ xã hội,
những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức. Do đó, nhận thức lý luận
của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng được nâng cao hơn. Dựa vào lịch sử của Nho
giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủ hơn.
Các quy định về nghi thức, lễ nghi và thuyết chính danh của Khổng Tử giúp cho xã
hội sắp xếp lại quy củ, trật tự và luôn đề cao việc tuân thủ các đạo đức ứng xử trong
gia đình và xã hội. Việc này mang lại cho con người ta thói quen và hình thành nên
truyền thống được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 11
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
2. Hạn chế của triết học Nho gia
Nho giáo dựa trên tam cương và ngũ thường để cai trị xã hội, các quy định, tập
tục, lễ nghi được đặt ra có phần hà khắc và giáo điều. Bên cạnh việc giúp cho xã hội
thời nhiễu nhương lập lại trật tự kỷ cương, vai trò và trách nhiệm của mỗi người thì
những quy tắc này đã làm hạn chế quyền nhân sinh, lối sống bị lệ thuộc, các lễ nghĩa,
quy tắc có phần mang tính ép buộc. Mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm
mối quan hệ tự nhiên như cha-con, vua-tôi, vợ-chồng, anh-em và bằng hữu, các mối
quan hệ này thể hiện tính hai mặt của cuộc sống hiện thực trong các mối quan hệ gia
đình và quan hệ xã hội. Hàng loạt các chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng trong mỗi
gia đình đồng thời thực hiện cùng chế độ đẳng cấp chính trị trong xã hội. Xã hội không
hề có sự bình đẳng giới, người phụ nữ trong xã hội thời đại bị trói buộc bởi tam tòng
tứ đức một cách rập khuôn và gay gắt. Chính vì điều này vô hình chung tạo nên quan
niệm “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu vào tiềm thức con người qua rất nhiều thời đại
và ngày nay tư tưởng này tuy có phần bớt gay gắt nhưng vẫn ảnh hưởng đến rất nhiều
khía cạnh xã hội nước ta về bình đẳng giới.
Tuy Khổng Tử đặt quan niệm “dân làm gốc” nhưng ông lại mâu thuẫn trong
phân cấp đặc quyền con người trong xã hội này. Ông cho rằng chỉ có người quân tử là

Nói riêng về Nho giáo Việt Nam dù có lý do để tồn tại và phát triển thì cũng
vẫn gắn liền với giai cấp phong kiến địa chủ trong nước và là công cụ thống trị và tư
tưởng của giai cấp đó. Mà giai cấp địa chủ đó từ thế kỷ XV trở về trước tuy có một vai
trò nhất định nhưng vẫn là một giai cấp bóc lột đối với nhân dân. Và bất cứ một giai
cấp bóc lột nào ngay cả khi đang lên cũng mang theo những vết bùn nhơ và bàn tay
vấy máu của những người lao động.
Vào khoảng thế kỉ XV, Nho giáo ở Việt Nam khi chiếm ở vị trí độc tôn thì đã
làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư
tưởng và trong địa hạt giáo dục khoa học. Các quan lại, sĩ phu, đều lấy thánh kinh,
hiền truyện của Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi người suy nghĩ và hành
động của mình, lấy cái xã hội thời Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho mọi tình trạng
xã hội; lấy những sự tích và điều phạm trong kinh, thư, kinh xuân thu làm tiêu chuẩn
để bình giá mọi sự việc.
Bệnh giáo điều và khuôn sáo này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực khoa học và
nghệ thuật nhất là trong văn học và sử học khiến cho sự sáng tạo trong các lĩnh vực
này bị dập vào những cái khuôn sẵn có. Đó là một tật bệnh đã được rèn đúc ngay từ
khi người nho sĩ phải mài dũa văn chương để tiến vào con đường cử nghiệp.
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 13
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
Sự thịnh trị của Nho giáo còn khuyến khích mọi người nhất là các phần tử tri
thức đi sâu vào cải tạo “tu tề trị bình” vào việc học hành, thi đỗ, dương danh thiên hạ.
Vì vậy mà trong thực tế, Nho giáo đã làm cho những người gia nhập tầng lớp Nho sĩ
này xa rời sinh hoạt kinh tế và lĩnh vực sản xuất xã hội, nó chỉ biết đề cao đạo tư thân
và đạo tự nước chứ không hề đếm xỉa đến các tri thức vè khoa học tự nhiên cũng như
về các ngành sản xuất và lưu thông. Tính chất tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau
càng gây tác hại không nhỏ trong việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.
Khi đã chiếm được địa vị thống trị trên vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt Nam
không tiếp tục đi sâu vào khám phá những vấn đề bản chất của đời sống và của vũ trụ,
vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác. Nó chỉ chú trọng đến những quan hệ chính trị
và đạo đức thực tế. Cho nên khi xã hội phong kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu

khuôn thước xây dựng tính cách con người./
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 15
Tiểu luận triết học GVHD: Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Mưa, Triết học phần I, Đại cương về lịch sử triết học , NXB Đại học Kinh
Tế Thành phố Hồ Chí Minh , 2011.
2. Luận Ngữ thánh kinh của người Trung Hoa.
3. Nguyễn Thị Kim Bình, Đường lối “Đức Trị” của Nho giáo – từ Khổng Tử đến
Mạnh Tử, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 4 (27), 2008.
4. Phan Đại Doãn, Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Học viện chính trị quốc gia .
5.Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB Tân Việt.
HVTH: Bùi Thị Thanh Châm 16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status