TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT VÀ
NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
Thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hương
STT: 69
Lớp: CHKT K21 - Đêm 5
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

Tp.HCM, Tháng 02 - 2012
MỤC LỤC

ĐỀ MỤC TRANG
1. PHẦN MỞ ĐẦU 1
2. NỘI DUNG CHÍNH 2
2.1 Những tư tưởng cơ bản 2
2.1.1 Siêu hình học 2
2.2.2 Quan niệm về nhận thức 3

nhất trong các bộ óc vĩ đại nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại.
Để tìm hiểu rõ hơn về triết học Arixtốt, chúng tôi quyết định thực hiện tiểu
luận: “Tư tưởng triết học cơ bản của Arixtốt và những giá trị, hạn chế của nó”.
Như vậy, có hai vấn đề chúng tôi đề cập tới: một là làm rõ tư tưởng triết học cơ
bản của Arixtốt, hai là làm nổi bật những giá trị và hạn chế của tư tưởng đó.
Về mặt tài liệu tham khảo, gồm 4 tài liệu chính sau đây:
Nguyễn Văn Dũng, 1996. Arixtốt với học thuyết phạm trù. Trung tâm
khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia - Viện triết học. Nhà xuất bản
Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
Bùi Văn Mưa và đtg, 2011. Triết học - Phần I Đại cương về lịch sử
triết học. Trường đại học kinh tế Tp.HCM.
Samuel Enoch Stumf, 1994. Lịch sử triết học và các luận đề (Đỗ Văn
Thuấn và Lưu Văn Hy dịch). Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội.
Tailieu, 2011. Triết học Arixtốt. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011.
<http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/triet-hoc-arixtot.526676.html>
2

2. NỘI DUNG CHÍNH
2.1 Những tư tưởng cơ bản
2.1.1 Siêu hình học
Theo Arixtốt, để khám phá bản chất tồn tại đích thực, lý giải cụ thể các
vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới thì cần phải có siêu hình học, đây là
tác phẩm triết học quan trọng nhất của ông. Nó nghiên cứu những gì có tính chất
vĩnh hằng trong thế giới hiện thực, vì thế nó là nền tảng mọi lĩnh vực thế giới
quan khác của con người. Đối tượng nghiên cứu của siêu hình học là “những cái
thần thánh” trong đó có Thượng đế. Do vậy, ông còn gọi triết học là thần học.
Định nghĩa các vấn đề của siêu hình học
Tồn tại nghĩa là gì? Đây là câu hỏi Arixtốt quan tâm trong siêu hình học
làm cho siêu hình học trở nên “khoa học về mọi tồn tại xét như là cái tồn tại” [3,
78]. Vấn đề siêu hình học mà ông thấy chính là nghiên cứu cái hiện hữu cùng các

khách quan trải qua giai đoạn cảm giác, biểu tượng để đến tư duy, lý luận. Sẽ
không có một tri thức nào nếu không có sự tác động của đối tượng nhận thức
(hiện tượng khách quan) vào giác quan (cơ sở của nhận thức). Nhận thức cảm
tính đó là giai đoạn đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình nhận thức, nó
đem lại cho con người những hiểu biết xác thực và sinh động về sự vật đơn nhất,
nhưng nhận thức cảm tính không có khả năng đi sâu vào bản chất sự vật. Chỉ có
nhận thức lý tính (khái quát hóa, trừu tượng hóa ) mới khám phá được cái phổ
biến, tất yếu (quy luật, bản chất của sự vật).
Theo Arixtốt linh hồn của con người vừa mới sinh ra như một tấm bảng
trắng và nhận thức là quá trình ghi chép lên linh hồn những dòng tri thức, điều
này khác với Platông, Platông coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại. Đối với
Arixtốt, linh hồn lý tính phải được các trang bị các phương pháp suy nghĩ đúng
đắn, phải tuân thủ những yêu cầu của lôgích học để đạt được chân lý và tránh sai
lầm trong quá trình tìm hiểu bản chất, khám phá quy luật của hiện thực khách
quan.
Khoa học là một hệ thống tri thức phức tạp nhằm khám phá ra bản chất,
quy luật trong các sự vật, hiện tượng riêng lẻ để tích lũy tri thức. Aritốt chia khoa
học thành ba nhóm: khoa học thực hành (đạo đức học, chính trị học ), khoa học
4

sáng tạo (hùng biện, thi ca, nghệ thuật ) và khoa học tư biện - lý thuyết (siêu
hình học, vật lý học, toán học, lôgích học ).
2.2.3 Lôgích học
Arixtốt là người sáng lập môn lôgích học hình thức. Ông cũng sáng tạo ý
niệm về việc phân loại các khoa học. Đối với ông, có một mối tương quan mật
thiết giữa lôgích và khoa học như là công cụ để diễn tả các phân tích về khoa học
bằng ngôn ngữ thích hợp. Theo ông, lôgích học là dụng cụ phân tích tư duy con
người khi nó suy nghĩ về thực tại. Hiển nhiên, tư tưởng không luôn luôn phản
ánh chính xác thực tại, nhưng nhiệm vụ của lôgích học luôn luôn là làm việc
nhằm đạt tới một sự tương quan cân xứng hơn giữa ngôn ngữ và thực tại.

tăng, giảm, di chuyển vị trí. Coi vận động là mọi sự biến đổi chung, Arixtốt nhấn
mạnh việc không thể có vận động bên ngoài sự vật và thừa nhận cái hích đầu tiên
của Thượng đế nằm bên ngoài giới tự nhiên là nguồn gốc thần thánh của mọi vận
động xảy ra trong giới tự nhiên. Theo ông, vũ trụ là hữu hạn và khép kín về
không gian, vĩnh viễn về thời gian. Vạn vật trong vũ trụ từ Mặt Trăng trở xuống
Trái Đất đều được cấu thành từ bốn yếu tố vật chất (đất, nước, lửa, không khí)
mang bốn tính chất nguyên thủy (nóng, lạnh, khô và ẩm) luôn vận động (cưỡng
bức, thẳng) dựa trên nguyên lý vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Ông là người
khởi xướng ra thuyết địa tâm coi trái đất là hình cầu, là trung tâm của vũ trụ.
2.2.5 Quan niệm về sinh thể, con người và linh hồn
Arixtốt thấy rằng: “nhận thức linh hồn con người thúc đẩy mạnh mẽ nhận
thức mọi chân lý, nhất là nhận thức giới tự nhiên”. Dựa trên thuyết nguyên nhân,
ông cho rằng sinh thể và con người được hình thành từ thể xác và linh hồn.
Không có linh hồn bất tử, linh hồn trong cơ thể chết và cũng không có linh hồn
nằm bên ngoài thể xác vật chất. Ông phê phán quan điểm của Platông coi thể xác
chỉ là chỗ trú tạm thời của linh hồn bất tử.
Ông chia linh hồn thành ba loại: linh hồn thực vật khả tử thực hiện chức
năng nuôi dưỡng và sinh sản, linh hồn động vật khả tử thực hiện chức năng cảm
ứng với môi trường xung quanh, và linh hồn lý tính bất tử thực hiện chức năng
hoạt động nhận thức. Theo ông, con người là một sinh thể có lý trí. Trong thể xác
con người có đủ ba loại linh hồn trên, linh hồn thực vật và linh hồn động vật sẽ
6

mất đi khi con người chết đi, chỉ có linh hồn lý tính chứa tri thức vẫn tồn tại bất
diệt.
2.2.6 Quan niệm về đạo đức
Arixtốt xây dựng học thuyết về đạo đức dựa vào tâm lý học, coi đạo đức
học là sự mở rộng nhận thức vào lĩnh vực hành vi con người. Học thuyết đạo đức
của Arixtốt xoay quanh niềm tin, ông cho rằng con người giống như mọi sự vật
khác trong thiên nhiên, có một “mục đích” đặc trưng phải đạt tới hay một chức

phúc và công lý cho mọi người (trừ nô lệ) dựa trên sự thống trị. Thể chế chính trị
là trật tự làm cơ sở để phân bố chính quyền nhà nước. Thể chế chính trị điều
hành và quản lý xã hội về ba phương diện: lập pháp, hành chính và xét xử.
Theo ông chế độ chính trị tốt nhất là chế độ cộng hòa chính trị, chính
quyền nên thuộc về tầng lớp chủ nô trung lưu.
2.2.8 Thẩm mỹ học và những tư tưởng kinh tế học của Arixtốt
2.2.8.1 Thẩm mỹ học
Arixtốt khẳng định giá trị nhận thức của nghệ thuật, và nói rằng vì nghệ
thuật thật sự mô phỏng thiên nhiên nên nó truyền đạt thông tin về thiên nhiên.
Nghệ thuật phát minh do nhu cầu của con người muốn diễn tả những cảm nghĩ,
cảm giác của mình. Mục đích của nghệ thuật là diễn tả ý nghĩa bên trong của sự
vật.
Ngoài giá trị nhận thức của nó, nghệ thuật còn có một ý nghĩa tâm lý quan
trọng. Một đằng, nghệ thuật phản ánh một khía cạnh thâm sâu của bản chất con
người là cái phân biệt con người với con vật, và đó chính là khă năng bắt chước.
Ngoài bản năng này, còn có sự kiện là con người cảm thấy vui thú khi đứng
trước nghệ thuật.
Trong số các dạng nghệ thuật, Arixtốt đặc biệt đề cao thơ ca, coi đó là
ngôn ngữ nói chung. Nó bao hàm cả sử thi hài kịch, bi kịch Mỗi dạng nghệ
thuật có một dạng và tính chất mô phỏng khác nhau.
2.2.8.2 Kinh tế học
Arixtốt có những quan điểm kinh tế học rất sâu sắc. C.Mác dã gọi ông là
nhà nghiên cứu vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử đã hiểu được hình thức giá trị
của trao đổi. Ông đã nghiên cứu những hiện tượng của đời sống xã hội như: phân
công lao động, hàng hóa, trao đổi, phân phối… và đã tìm ra mối quan hệ giữa
8

trao đổi với phân công lao động, sự phân ra gia đình nguyên thủy thành những
gia đình nhỏ. Tư tưởng độc quyền và giá cả độc quyền đã xuất hiện trong học
thuyết kinh tế của ông.

thừa và phát triển lên một trình độ cao hơn.
Công lao của Arixtốt là tìm ra một phương pháp mới: phương pháp thống
nhất lôgích lịch sử trong nghiên cứu lịch sử triết học. Arixtốt không chỉ nghiên
cứu những quy luật lôgích của tư duy con người, mà còn xác lập phong cách
khoa học để xem xét các vấn đề triết học.
Nghiên cứu siêu hình học của ông, chúng ta thấy ông coi lịch sử của tư
tưởng triết học chính là lịch sử con người đi tìm chân lý. Theo ông, tìm chân lý
trong một mối quan hệ là rất khó, nhưng trong nhiều mối quan hệ thì dễ hơn.
Việc tìm chân lý trong lịch sử xã hội không thể dựa vào một vài sự kiện mà cần
phải có sự khảo sát công phu từ nhiều góc độ khác nhau với nhiều sự kiện khác
nhau.
Nhận thức luận của Arixtốt chứa đựng các yếu tố cảm giác luận và kinh
nghiệm luận có khuynh hướng duy vật. Trong lý luận nhận thức của mình, ông
thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng nhận thức, là nguồn gốc, kinh nghiệm
và cảm giác. Ở đây, Arixtốt đã thừa nhận tính khách quan của thế giới.
Arixtốt là học trò xuất sắc của Platông, nhưng chính ông lại nhận ra sai
lầm của thầy học mình về học thuyết “ý niệm”. Theo Arixtốt, ý niệm của platông
là không có lợi cho nhận thức của con người, vì nó thuộc về thế giới bên kia - là
cái phi thực thể, do đó nó không có lợi cho cắt nghĩa tri thức về các sự vật của
thế giới quanh ta, dựa vào nó con người không thể nhận biết được thế giới bên
ngoài.
Ông còn phê phán những quan những sai lầm trong học thuyết “con số”
của pitago, chống lại sự đồng nhất giữa cái tồn tại và cái không tồn tại của
pắcmênít.
Tư tưởng giáo dục của ông có nhiều tiến bộ, hệ thống giáo dục hướng tới
là một nền giáo dục thường trực, thường xuyên, liên tục, bao trùm và kéo dài suốt
đời người.
10

2.2.2 Hạn chế

Hy Lạp nói riêng, cũng như nhân loại nói chung.
Arixtốt đã để lại cho hậu thế một di sản triết học đồ sộ mà trong đó những
luận giải của ông về các phạm trù đã được nhiều người coi là một học thuyết có
giá trị.
Điểm nổi bật của Arixtốt là dám mạnh dạn phê phán học thuyết “ý niệm”
của thầy mình - Platông. Ông đã sử dụng tư duy lôgích để diễn đạt quan điểm của
mình.
Arixtốt đã được nhiều triết gia lớn đánh giá cao. Hêghen nhận xét: “Trí tuệ
của Arixtốt đã thấm sâu vào mọi mặt và mọi lĩnh vực của thế giới hiện thực”.
(Hêghen. Các tác phẩm. T.10. Mátxcơva, 1932, tr.224 (tiếng Nga)). Khi so sánh
Arixtốt với các nhà triết học khác, Ph.Ănghen đã gọi ông là “Bộ óc bách khoa
nhất trong các nhà triết học ấy” (C.Mác và Ph.Ănghen. Tuyển tập (gồm 6 tập),
T.V. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1983, tr.34 và tr.581.). C.Mác ví ông như
“Alếchxanđrơ Mêxêđoan của triết học Hy Lạp” (C.Mác và Ph.Ănghen. Từ những
tác phẩm đầu tay. Mátxcơva, 1956, tr.27 (tiếng Nga)).

12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Dũng, 1996. Arixtốt với học thuyết phạm trù. Trung tâm khoa học
xã hội và nhân văn Quốc gia - Viện triết học. Nhà xuất bản Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội.

2. Bùi Văn Mưa và đtg, 2011. Triết học - Phần I Đại cương về lịch sử triết học.
Trường đại học kinh tế Tp.HCM.

3. Samuel Enoch Stumf, 1994. Lịch sử triết học và các luận đề (Đỗ Văn Thuấn
và Lưu Văn Hy dịch). Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status