TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT NHỮNG GÍA TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
~~~~~~~~ooo~~~~~~~~
ĐỀ TÀI:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
NHỮNG GÍA TRỊ VÀ HẠN CHẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2012
1
SVTH : Phạm Xuân Hùng
Lớp : Đêm 5
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
MỤC LỤC
Trang
Lời Mở Đầu 1
Chương 1: Những Tư Tưởng Triết Học Của Arixtốt
1.1 Thuyết nguyên nhân- Cơ sở của siêu hình học 2
1.2 Vật lý học 3
1.3 Nhận thức luận 4
1.4 Logic học 4
1.5 Nhân bản học 5
1.6 Đạo đức học 5
1.7 Học thuyết chính trị- xã hội 6
1.8 Thẩm mỹ học và những tư tưởng về kinh tế học 7
Chương 2: Những Giá Trị và Hạn Chế Của Tư Tưởng Triết Học Arixtốt
2.1 Những giá trị tư tưởng triết học Arixtốt 8
2.2 Những hạn chế của tư tưởng triết học Arixtốt 11
Kết luận 13
Danh mục tài liệu tham khảo 14

2
LỜI MỞ ĐẦU

Arixtốt lại quan tâm đến vấn đề “tồn tại nghĩa là gì” Theo Arixtốt vấn đề chính của
Siêu Hình Học là nghiên cứu cái hiện hữu cùng các “nguyên lý’ và “nguyên nhân” của
nó. Mọi tồn tại đều là một cá thể và có một bản chất xác định.
Học thuyết 4 nguyên nhân của Arixtốt là một khung rộng lớn để giải thích toàn
diện về bất cứ sự vật hay mọi sự vật. Theo Arixtốt, bất kỳ sự vật nào cũng đều tồn tại
và phát triển dựa trên 4 nguyên nhân cơ bản là: vật chất (vật liệu), hình thức (hình
dạng), vận động (thao tác) và mục đích (cứu cánh). Tương tự như vậy, bất kỳ sự vật
nào cũng có 4 nguyên nhân trên thì mới có thể tồn tại được. Về bất cứ sự vật nào,
Arixtốt nói, chúng ta có thể hỏi 4 câu hỏi sau, (1) Nó là gì? (2) Nó được làm bằng gì?
(3) Nó được làm ra bởi cái gì? (4) Nó được làm bởi mục đích gì? Ví dụ:
• (1) "Con người được cấu tạo bởi cái gì?" - Trả lời: bởi thịt da và những thứ đại
loại như thế (nghĩa là nguyên nhân về vật chất)
• (2) "Hình thức hoặc bản chất?" - Trả lời: một sinh vật sống có 2 chân có khả
năng lý luận (nghĩa là nguyên nhân về hình thức)
• (3) "Cái gì tạo ra con người?" - Trả lời: người cha (theo thuyết sinh vật học của
Arixtốt) (nghĩa là nguyên nhân về năng lực/khả năng);
• (4) “Con người được tạo ra để làm gì?” - Trả lời: để thực hiện các chức năng
của 1 con người (sát nghĩa là 'để sống 1 cuộc sống hài hòa với lẽ phải, sống hợp
lý') (nghĩa là nguyên nhân về kết quả).
Trong số các nguyên nhân trên của tồn tại thì nguyên nhân hình dạng là cơ bản
nhất và có vai trò quyết định bởi vì nếu không có hình thức thì vật chất chì là khả năng
thụ động chứ không phải là hiện thực. Nó là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự
2
vật. Bản thân nó đã bao hàm cả nguyên nhân vận động và mục đích. Nhờ tính tích cực
của hình thức mà mọi sự vật vận động được, còn vận động của sự vật là một quá trình
khách quan diễn ra theo những trình tự xếp đặt trước, tức là có sự sắp đặt của Thượng
Đế.
Như vậy, coi vận động và mục đích chỉ là những khía cạnh khác nhau của của
nguyên nhân hình dạng, Arixtốt đã thừa nhận học thuyết bốn nguyên nhân chỉ là sự
phát triển, cụ thể hóa quan niệm của ông về hình dạng và vật chất cũng như mối quan

là tối cao. Nó là hoạt động trí tuệ đem lại cho chúng ta những tri thức lý luận có tính
khái quát cao.
1.4 Logic học
Arixtốt được xem là người khai sáng của lôgic học, bộ môn khoa học nghiên
cứu về tư duy và các quy luật của nó. Ông đã khám phá ra các quy luật cơ bản của tư
duy logic như quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ 3.
Ông là người đầu tiên đã trình bày hoàn chỉnh và có hệ thống những quy luật cơ bản
của tư duy đúng đắn.
Những quy luật cơ bản của tư duy lôgic bao gồm: quy luật đồng nhất, quy luật
cấm mâu thuẫn và quy luật loại trừ cái thứ ba. Từ đó, Arixtốt đã xây dựng nên tam
đoạn luận nổi tiếng của mình (nếu A thuộc B, B thuộc C, thì A thuộc C)
Ví dụ: Tất cả mọi người đều phải chết
Xôcrát là người
Xôcrát cũng phải chết
Ngoài ra Arixtốt còn xây dựng lý thuyết chứng minh, đồng thời phân tích các
lỗi lôgic mà mọi người hay mắc phải. Và khẳng định rằng mọi lỗi lôgic là do mọi
người vận dụng sai tam đoạn luận và các quy luật lôgic.
4
Lôgic học của Arixtốt không chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp như vậy mà còn
bao hàm cả học thuyết của ông về các phạm trù, thể hiện như là phương pháp luận
xuyên suốt mọi lĩnh vực thế giới quan của ông. Arixtốt đã xây dựng nên hệ thống các
phạm trù như những hình thức của tư tưởng: 1) bản chất; 2) số lượng; 3) chất lượng; 4)
quan hệ; 5) vị trí; 6) thời gian; 7) tình trạng; 8) chiếm hữu; 9) hành động; 10) chịu
đựng. Do rất quan tâm đến sự chặt chẽ của hệ thống lý luận và ‘thích thú với cắt nghĩa
chứng minh”, Arixtốt đã khai triển về cách suy luận diễn dịch và hình thành nên học
thuyết Tam đoạn luận.
1.5 Nhân bản học
Arixtốt cho rằng con người được cấu thành từ hình dạng và vật chất. Ông phủ
nhận quan điểm của Platon coi thể xác chỉ là chỗ trú tạm thời của linh hồn bất diệt.
Arixtốt dựa vào thuyết nguyên nhân khẳng định sự gắn bó hữu cơ giữa linh hồn và thể

Plato. Ông nhấn mạnh con người là một sinh vật như mọi sự vật khác trong thiên nhiên
chứ không phải thần thánh, nó có bản năng sống của nó, có một “mục đích” đặt trưng
phải đạt tới hay một chức năng phải hoàn thành, vì vậy hạnh phúc của nó ở ngay trần
gian này chứ không phải ở một thế giới vĩnh viễn, siêu cảm đầy thần bí như của Plato.
Đạo đức là cái vốn có của con người, trong đó quan trong nhất là phẩm hạnh.
Phẩm hạnh của mỗi con người được biểu hiện trong quan niệm và thái độ đối với hạnh
phúc cũng như những hành động trong điều kiện không có sự giám sát của người khác,
Arixtốt chia phẩm hạnh ra làm hai loại:
1) Phẩm hạnh lý tính: Có được nhờ vào việc hiểu thấu và làm theo chân lý,
chúng phát sinh và tăng trưởng nhờ dạy dỗ và học tập. Người có phẩm hạnh trí tuệ là
người có tri thức kinh nghiệm, định hướng và làm chủ được trong đời sống của mình.
2) Phẩm hạnh luân lý: Phẩm hạnh có được do thói quen làm theo lẽ phải đời
thường. Mọi phẩm hạnh luân lý phải được học và thực hành, và chúng trở thành đức
6
hạnh qua hành động. Con người cảm thấy khoái lạc khi bản thân sống có đức hạnh, khi
mình làm điều thiện một cách tự nhiên.
Đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong thế giới ý niệm
trên trời mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian; đồng thời chúng phụ
thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người trong cộng đồng xã hội.
1.8 Thẩm mỹ học và những tư tưởng kinh tế học của Arixtốt
Vượt qua những bậc thầy tiền bối của mình về mặt nghiên cứu thế giới nghệ
thuật, ông đã bước qua ngưỡng cửa của thế giới đầy nhạy cảm này và khai sinh ra một
bộ môn khoa học mới, đó là Thẩm Mỹ Học (Aesthetics). Nghệ thuật được coi là toàn
bộ hoạt động vật chất của con người và sản phẩm của nó. Arixtốt đặc biệt nhấn mạnh
chức năng mô phỏng theo giới tự nhiên của nghệ thuật. Trong số các dạng nghệ thuật
Arixtốt đặc biệt đề cao thơ ca, coi đó là ngôn ngữ nói chung. Nó bao hàm cả sử thi hài
kịch, bi kịch mỗi dạng nghệ thuật có một dạng và tính chất mô phỏng khác nhau.
Về Kinh Tế Học, Arixtốt có những quan điểm kinh tế học rất sâu sắc. C.Mác đã
gọi ông là nhà nghiên cứu vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử đã hiểu được hình thức giá
trị của trao đổi. Arixtốt cũng đã nghiên cứu những hiện tượng của đời sống xã hội như:

ở ngay trong những phần còn lại không trọn vẹn của công trình Arixtốt sự phi thường
về hạng mục, tính độc đáo, tính hệ thống hóa đồng nhất của nó.
Các tác phẩm của Arixtốt từ lúc đó trở thành nền móng cho triết học kinh viện
trung cổ; ảnh hưởng lên phần lớn thần học Công giáo La Mã qua Thomas Aquinas, lên
8
triết học Hồi giáo qua Averroes; và quả thật lên toàn bộ truyền thống khoa học và trí
thức phương Tây. Dante Alighieri, nhà thơ bậc nhất của thời Trung Cổ, đã gọi Arixtốt
là “Bậc Thầy của những người hiểu biết”.
Lý thuyết về ngành Động Vật Học của Arixtốt đã không thay đổi và được giảng
dạy tại tất cả các trường học trong nhiều thế kỷ cho tới khi nhà khoa học người Anh
Charles Darwin đề cập tới Thuyết Tiến Hóa vào thế kỷ 19. Học thuyết của Arixtốt
cũng giữ một vai trò quan trọng trong bộ môn Thần Học và trước thế kỷ 20, môn
Logic được coi là của Arixtốt. Mặc dù hệ thống logic học của Arixtốt chưa thực sự
hoàn hảo nhưng chúng ta có thể nói không có một logic nào hơn logic của ông ở thời
cổ đại. đây chính là cống hiến to lớn của Arixtốt cho sự phát triển của tư duy nhân
loại. Giá trị ở chỗ Arixtốt đã phát minh một môn học mới, hoàn toàn không dựa vào
các tác phẩm từ trước để lại. Lối suy luận của người Hy Lạp trước thời Arixtốt không
được minh bạch, chính Arixtốt đã chấn chỉnh tình trạng này bằng cách đặt ra những
quy luật cho sự suy luận. Từ đây, Arixtốt đã khai triển về cách suy luận diễn dịch và
hình thành nên học thuyết Tam đoạn luận nổi tiếng.
Đối với Arixtốt “Thầy đã quý nhưng chân lý còn quý hơn”. Ông mạnh mẽ phê
phán học thuyết duy tâm của người thầy Platon về các ý niệm. Ông nhận thấy học
thuyết của Platon có nhiều mâu thuẫn về mặt logic. Một mặt, Platon phân biệt giữa các
ý niệm, cho rằng các ý niệm chung nhất là thực thể, bản chất các ý niệm mang tính đặc
thù hơn. Như vậy sẽ dẫn đến một nghịch lý là: các ý niệm vừa là thực thể vừa không là
thực thể. Mặt khác Platon vừa khẳng định các ý niệm hoàn toàn tách biệt với các sự
vật cảm tính, đồng thời lại cho rằng các sự vật đó là cái bóng của ý niệm, là bản sao
của chúng. Như vậy là thừa nhận sự vật và khái niệm cũng có điểm tương đồng nhất
định. Arixtốt không chấp nhận điều đó. Từ việc phê phán học thuyết của Platon về các
ý niệm, Arixtốt đi đến xây dựng hệ thống triết học của mình trên cơ sở tiếp thu những

cho quyền lợi của đa số. Ông còn sợ rằng một thiểu số sẽ nấp sau đa số mà thao túng
chính trường. Vì lẽ đó ông vẫn chủ trương rằng chỉ nên trao quyền đầu phiếu cho
những người sáng suốt. Ông muốn có một sự dung hòa giữ hai chế độ dân chủ và quý
10
tộc. Với những quan niệm này chứng tỏ Arixtốt đã nhận thấy sự ảnh hưởng của ngoại
cảnh tác động đến việc hình thành đạo đức và nhân cách của con người. Mặc dù vậy,
khi đứng trên lập trường giai cấp, Arixtốt đã không coi nô lệ là người và ông khẳng
định đạo đức của họ không giống với đạo đức của chủ nô. Đây chính là điểm bất hợp
lý trong quan niệm đạo đức của Arixtốt.
Những nhận xét của Arixtốt về thiên nhiên và xã hội chứa rất nhiều sai lầm
quan trọng. Ông thường để cho các tư tưởng siêu hình ảnh hưởng đến các nhận xét
khoa học. Nếu chúng ta bắt đầu bằng cách khảo sát một tác phẩm của Arixtốt nhan đề
là Vật lý học, chúng ta sẽ bị thất vọng. Sự thật là trong cuốn vật lý học ấy chỉ trình bày
những khái niệm siêu hình về vật chất, sự chuyển động, không gian, thời gian, nguyên
lý , và những khái niệm tương tự. Một đoạn đặc sắc trong tác phẩm trên là đoạn công
kích khái niệm chân không của một học giả đương thời. Arixtốt cho rằng trong vũ trụ
không làm gì có chân không. Ngày nay thuyết của Arixtốt đã bị khoa học chứng minh
là sai, nhưng chính nhờ sự công kích mà chúng ta biết được một thuyết khoa học có
giá trị. Về khoa Thiên văn, Arixtốt không tiến bộ hơn các học giả đương thời là bao.
Ông công kích thuyết của Pythagore cho rằng mặt trời là trung tâm điểm của thái
dương hệ, ông muốn dành vinh dự ấy cho trái đất.
Aristốt không chủ trương thuyết tiến hóa. Ông đả kích thuyết cho rắng các sinh
vật đấu tranh để sống và chỉ những sinh vật nào thích hợp nhất mới được tồn tại. Ông
cũng phủ nhận thuyết cho rằng còn người trở nên thông minh nhờ dùng hai tay để làm
việc thay vì để di chuyển. Ông nói rằng cần phải suy nghĩ ngược lại nghĩa là con người
biết dùng hai tay để làm việc vì đã trở nên thông minh. Vì các phương tiện nghiên cứu
và quan sát trong lãnh vực này còn thiếu sót nên Arixtốt có nhiều nhầm lẫn: Ông
không biết gì về sự hiện hữu của các bắp thịt trong cơ thể, ông không phân biệt được
động mạch và tĩnh mạch, ông tưởng tượng rằng khối óc dùng để làm cho máu trở nên
lạnh, ông tin rằng đàn ông có nhiều mành xương sọ hơn đàn bà, ông tin rằng người ta

chục thế kỷ nhưng vẫn không bị lu mờ bởi những tiến bộ khoa học hiện đại.
Tuy nhiên do hạn chế của lịch sử trong thời đại lúc bấy giờ (thời đại chủ nô),
trong khi đó ông lại là nhà tư tưởng giai cấp chủ Hy Lạp nên về mặt triết học Arixtốt
lẫn lộn giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, cho đến tư tưởng chính trị của ông cũng
thiên về bảo vệ lợi ích của tầng lớp trung lưu giai cấp chủ nô khinh miệt giai cấp nô lệ.
Cho dù bị hạn chế trong tưởng của lịch sử nhưng Arixtốt vẫn là một nhà triết gia vĩ đại
của lịch sử. Hiểu được tư tưởng Arixtốt sẽ giúp ta tiếp cận gần hơn với nền tri thức
Phương Tây cổ đại để từ đó có những góc nhìn khoa học về sự vật cũng như thế giới.
Đây chính là những đặc điểm nổi bật chính yếu nhất của triết gia Arixtốt thời cổ đại.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học phần I Đại cương về lịch sử triết học
2) Bùi Văn Mưa, Triết học và Bức tranh Vật lý học về thế giới, Nxb Đại học quốc gia
TP HCM 2011
3) Will Durant, Trí Hải và Bửu Đích dịch, Câu chuyện triết học
4) Nguyễn Tiến Dũng, Lịch Sử Triết Học Phương Tây, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM, 2006
5) SAMUEL ENOCH STUMPF, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy (dịch), Lịch Sử Triết
Học và Các Luận Đề, Nxb Lao Động, 2006.
6) BRYAN AGEE, Huỳnh Phan Anh-Mai Sơn (d ịch), Câu Chuyện Triết Học, Nxb
Thống Kê - Hà Nội, 2003.
7) Aristotle Và Những Cống Hiến Cho Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại, truy cập
ngày 10/01/2012 tại http://tangnisinhbinhthuan.com/node/105#_ftnref2
8) Chính trị luận – Aristote, truy cập ngày 12/1/2012 tại http://icevn.org/vi/node/366
9) Aristotle, truy cập ngày 12/1/2012 tại
http://vietsciences.free.fr/biographie/artists/writers/aristotle.htm
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status