Vấn đề công lý trong tư tưởng triết học
của John Rawls
Đoàn Thị Vương
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Triết học: 60 22 80
Người hướng dẫn : TS. Trần Thảo Nguyên
Năm bảo vệ: 2014
87 tr .
Abstract. Làm rõ quan niệm của John Rawls về công lý.Chỉ ra các khả năng ứng dụng
quan điểm của Rawls về công lý đối với giai đoạn hiện nay
Keywords.Triết học; Tư tưởng triết học John Rawls; Công lý
Content.
1. Lý do chọn đề tài
Dù muốn hay không thì con người vẫn buộc phải sống thành xã hội. Chính vì
thế mà con người luôn phải tranh luận về việc làm thế nào xây dựng một xã hội tốt
đẹp. Song, như thế nào mới là một xã hội tốt đẹp? Đó là câu hỏi đặt ra trong mỗi thời
kỳ lịch sử, ngay cả khi trong xã hội chưa xuất hiện những cuộc khủng hoảng, hoặc
ngay cả khi những vấn đề chung của xã hội đã được giải quyết ở mức độ tạm thời. Bên
cạnh những gì con người đã đạt được thì vẫn còn đó những bất ổn sâu sắc của xã hội.
Tất cả những bất ổn đó đều được bắt nguồn từ nguyên nhân sâu sa là: dù ở tầng lớp
nào, những công dân trong một xã hội cũng không ngừng băn khoăn về việc: sự công
bằng trong quá trình phân phối phúc lợi đã và đang được giải quyết như thế nào. Mở
rộng ra hơn nữa, người ta cũng nhận thấy, ngay trong cách mà con người đối xử với
nhau, hay trong luật pháp và trong các tổ chức xã hội đều đặt ra câu hỏi: công bằng là
gì? Rồi khi mà kinh tế thị trường trở thành một dạng thể chế có tính chất phổ biến thì
một vấn đề khác nữa lại đặt ra là: liệu sự phát triển tự do vượt mức của người này có là
bất công đối với kẻ kém may mắn hơn anh ta không? Hàng loạt những kiểu quan hệ
giữa người với người, giữa công dân với xã hội, giữa công dân với nhà nước đều xoay
vẫn tác động tới sự lựa chọn của bạn. Bởi mỗi con người là một thực thể xã hội - văn
hóa. Và bạn mang vào trong những quyết định lựa chọn của mình tất cả những dấu ấn
của yếu tố văn hóa – xã hội của nơi bạn sinh tồn theo nghĩa rộng nhất của hai từ “văn
hóa” và “xã hội”. Và thế là giữa các cá nhân có một sự khác biệt trong lựa chọn giá trị
xã hội, hoặc không thống nhất được với nhau về cùng một giá trị nào đó. Việc đó hẳn
không có gì là to tát, cho đến khi sự khác biệt trở thành đối nghịch và thù địch trên
phạm vi toàn xã hội, thì xung đột và chiến tranh chắc chắn sẽ xảy ra. Thử hình dung
xem nếu mỗi một quốc gia, mỗi một nền văn hóa không có bất kỳ một sự tương đồng
nào, một sự đồng thuận chung nào trong việc lựa chọn các giá trị xã hội, và cụ thể là
không đồng thuận được việc xem cái gì là công bằng, cái gì là không, thì có lẽ lịch sử
của các cuộc chiến tranh sẽ liên tục được viết bởi cường độ làm việc miệt mài của các
sử gia ưu tú. Cho nên, bây giờ hãy thử làm một trò chơi. Đó là các cá nhân sẽ hoàn
toàn trở nên độc lập trong quyết định của mình. Nghĩa là, thử hoàn toàn rũ bỏ đi những
quan niệm, những ấn tượng, những truyền thống và tập tục trong nếp nghĩ của nền văn
hóa đầy tính dị biệt đang hằn in trong tâm trí, để cùng lựa chọn xem giá trị xã hội nào
là cái mà chúng ta cùng có thể chấp nhận được nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp theo
đó. Một sự đồng thuận giữa những cái vốn khác biệt về bản chất như thế có thể sẽ là
một viễn tưởng, nhưng đó lại chính là cách giải quyết hết sức độc đáo của Rawls khi
ông đi tìm cơ sở cho sự đồng thuận chung của cá nhân trong xã hội về các nguyên tắc
của công lý. Trong triết học chính trị của mình, Rawls đặt ra một vấn đề là: liệu có thể
tồn tại theo thời gian một xã hội công bằng và ổn định với những công dân tự do và
bình đẳng – những người vốn bị phân chia sâu sắc bởi niềm tin tôn giáo, bởi những
chiêm nghiệm triết học và những quan niệm đạo đức? Ở điểm này Rawls rơi vào một
tình huống giống I. Kant, đó là đều cùng bị xem như là những kẻ ảo tưởng đi tìm kiếm
những nền tảng chung, có tính loài của con người, để lấy đó làm nền tảng xây dựng
những giá trị cho tất cả, bất chấp sự dị biệt của cá thể. Cách tiếp cận độc đáo này đối
với vấn đề công lý, tư tưởng triết học của Rawls đã đưa ra nhiều gợi ý quan trọng trong
việc xây dựng nền kinh tế đạt hiệu quả cao mà vẫn duy trì được công bằng xã hội, cụ
thể, đó là những gợi ý quan trọng cho việc hình thành những chính sách đảm bảo sự
phát triển tốt đẹp của một xã hội.
quy luật cực kỳ quan trọng của một nền minh tế phát triển bền vững khi ông xây dựng
quan điểm về công lý đó là: suy cho đến cùng, hiệu quả đích thực của một sự phát triển
kinh tế đó là công bằng xã hội. J.Généreux đánh giá một trong những thành công trong
quan niệm của Rawls đó chính là Rawls đã tính đến sự tồn tại tất yếu của các bất bình
đẳng trong xã hội và trong nền kinh tế, để từ đó khuyến cáo các nhà hoạch định chính
sách có cách ứng xử như thế nào để đạt được tối đa từ cái lợi tối thiểu.
Ngoài những nghiên cứu trên thế giới đã được xuất bản ra tiếng Việt, chúng tôi
còn sử dụng được những bài nghiên cứu đăng trên trang http://plato.stanford.edu/, với
các bài nghiên cứu chuyên đề bàn về các khái niệm như “vị trí khởi thủy”, “bức màn
vô minh”, “sự cân bằng suy tưởng” đều là những khái niệm hết sức quan trọng của
“Một lý thuyết về công lý”.
Trong khi những nghiên cứu về quan niệm của Rawls về công lý trên thế giới
tương đối sâu sắc và ở nhiều lĩnh vực, thì ở Việt Nam đây có lẽ còn là một đề tài mới
mẻ. Những phân tích về quan điểm triết học của Rawls xuất hiện trong các cuốn
nghiên cứu lịch sử triết học như “Triết học Mỹ” tác giả Trần Đăng Duy, “Lịch sử triết
học phương Tây” của Nguyễn Tiến Dũng Trong những nghiên cứu này, tư tưởng của
Rawls được xem là một trong những tư tưởng làm nên sự phong phú của triết học
phương Tây hiện đại. Đáng chú ý nhất trong những công trình nghiên cứu trong nước
về tư tưởng triết học của Rawls phải kể đến công trình luận án tiến sỹ của tác giả Trần
Thảo Nguyên, với đề tài là “Triết học kinh tế trong “Lí thuyết về công lý” của nhà triết
học Mỹ John Rawls”. Luận án này được nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2006. Đây
là một công trình công phu, trong đó Trần Thảo Nguyên đã minh định rõ những nội
hàm của luận điểm chính trong “Một lý thuyết về công lý” đó là luận điểm “công lý
như là công bằng” (justice as fairness). Tác giả cũng chỉ rõ khả năng ứng dụng của
luận điểm “công lý như là công bằng” vào trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, và
cụ thể hơn nữa là những vấn đề thực tế của xã hội Việt Nam. Đây được xem là tài liệu
chính yếu giúp chúng tôi thực hiện những nghiên cứu của mình trong luận văn này.
Những nghiên cứu của Trần Thảo Nguyên trong tác phẩm trên đi theo hướng khai thác
các ý tưởng triết học kinh tế trong “Một lý thuyết về công lý”. Nó có tính chất gợi mở
quan trọng, tuy nhiên, chúng tôi muốn được hiểu rõ hơn vai trò và nội hàm của quan
2. A.Castel, Tự do là gì?, Hoàng Thanh Thủy (dịch), NXB Tri thức, Hà Nội, 2009.
3. Nguyễn Sĩ Dũng (2009), Triết lý của sự phát triển, Tạp chí Tia sáng, 2+3, tr.10.
4. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch sử triết học Phương Tây, NXB Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh.
5. W. Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu Đích (dịch), NXB Văn hóa thông
tin, Hà Nội, 2008.
6. R.H.Davison và W.J.Oleszek, Quốc hội và các thành viên, Trần Xuân Danh (dịch),
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
7. Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Kant, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
8. Plato, Cộng hòa, Đỗ Khánh Hoan (dịch), NXB Thế giới, Hà Nội, 2013.
9. F.D. Peat, Từ xác định đến bất định – Những câu chuyện khoa học và tư tưởng
của thế kỉ 20, Phạm Việt Hưng (dịch), NXB Tri thức, Hà Nội, 2011.
10. R. Feynman, Ý nghĩa mọi thứ trên đời, Nguyễn Văn Trọng (dịch), NXB Tri thức,
Hà Nội, 2013.
11. T.L.Friedman, Chiếc lexus và cây ô liu, Lê Minh (dịch), NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2005.
12. T.L.Friedman, Thế giới phẳng, Nguyễn Quang A (dịch), NXB Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh, 2007.
13. Lương Việt Hải (2004), Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, 4, tr.5-11.
14. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn (2006), Đại cương triết học phương Tây, NXB
Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
15. Đỗ Minh Hợp (2006), Diện mạo của triết học phương Tây hiện đại, NXB Hà Nội,
Hà Nội.
16. J.Généreux, Các quy luật đích thực của nền kinh tế, Hữu Khôi (dịch), NXB Thế
giới, Hà Nội, 2005.
17. S.Kernell và G.C.Jacobson, Logic chính trị Mỹ, NXB Chính trị Quốc Gia, HN,
2007.
18. Phạm Minh Lăng (2003), Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây,NXB
Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Nội, 2002.
34. A.Tonybee, Nghiên cứu lịch sử nhân loại, Việt Thư (dịch), NXB Văn hóa thông
tin, Hà Nội, 2008.
35. A. Toffler, Đợt sóng thứ ba, Nguyễn Lộc (dịch), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,
2007.
36. Phạm Thị Ngọc Trầm (2009, Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội
trong điều kiện nước ta hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
37. F.Vergara, Đạo đức học trong kinh tế, Nguyễn Đôn Phước (dịch), NXB Tri thức,
Hà Nội, 2010.
38. Phạm Thái Việt (2006), Toàn cầu hóa: Những biến đổi lớn trong đời sống chính
trị quốc tế và văn hóa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
39. N.M.Voskresenskaia và N.B.Davletshina, Chế độ dân chủ - Nhà nước và xã hội,
Phạm Nguyên Trường (dịch), NXB Tri thức, Hà Nội, 2009.
40. R. Wacks, Triết học luật pháp, Phạm Kiều Tùng (dịch), NXB Tri thức, Hà Nội,
2011.
Tài liệu tiếng Anh
41. J.Rawls (2001), A theory of Justice, The Belknap Press of Harvard University
Press.
42. J.Rawls (2001), Justice as Fairness: Restatement, The Belknap Press of Harvard
University Press.
43. J. Rawls, Justice as Fairness: Political not Metaphysical, Philosophy and Public
Affairs, Vol. 14, No. 3, (Summer, 1985), pp. 223-251.
44. http://plato.stanford.edu/entries/contractarianism-contemporary/
45. http://plato.stanford.edu/entries/equality/
46. http://plato.stanford.edu/entries/justice-distributive/
47. http://www.scu.edu/ethics/practicing/decision/justice.html
48. http://plato.stanford.edu/entries/reflectiveequilibrium/#RejRawConWidRefEqu
49. http://plato.stanford.edu/entries/autonomy-moral/
50. http://plato.stanford.edu/entries/social-institutions/
51. http://plato.stanford.edu/entries/original-position/