BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Tìm hiểu tư tưởng triết học trong tác phẩm Lút vích
Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức
1
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Một trong những cống hiến vĩ đại của Mác, Ăng-ghen là để lại cho nhân loại một di
sản lý luận đồ sộ. Mục tiêu của Đảng ta hiện nay là: nghiên cứu học tập chủ nghĩa
Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho học thuyết này chiếm vị trí thống trị trong
đời sống văn hoá, tinh thần của xã hội ta, làm cho chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh thật sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cách
mạng Việt Nam. Cho nên sự thắng lợi của Cách mạng Việt nam, con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của nước ta tuỳ thuộc vào việc triển khai và thực hiện lý luận Khoa học
của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2
2
Tác phẩm “Lút vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” là một tác
phẩm nhằm tổng kết lại toàn bộ triết học và chủ nghĩa Mác. Đánh giá lại những đóng
góp và hạn chế của Phoi-ơ-bắc. Tác phẩm được viết trong giai đoạn Ăng-ghen bảo vệ,
phát triển và hoàn thiện chủ nghĩa Mác. Do đó nó có một vai trò quan trọng trong việc
trang bị cho giai cấp công nhân cơ sở lý luận cho cuộc đấu tranh giai cấp chống lại
triết học tư sản.
Bài tiểu luận: Tìm hiểu tư tưởng triết học trong tác phẩm Lút vích Phoi-ơ-bắc và sự
cáo chung của triết học cổ điển Đứctập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
• Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
• Những nội dung tư tưởng triết học trong tác phẩm.
• Giá trị, ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng tư tưởng triết học trong tác
phẩm đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Về phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở các kiến thức đã được nghiên cứu về lịch sử
bắc và chỉ rõ bước ngoặt cách mạng trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học do Mác
và Ăng-ghen thực hiện. Việc đánh giá toàn diện triết học cổ điển Đức (tập trung vào
Hê-ghen, Phoi-ơ-bắc) được Ăng-ghen coi là một món nợ danh dự phải trả.
Tác phẩm này được viết năm 1886, được Ăng-ghen dành nhiều cho vấn đề lịch sử triết
học. Ông đã nghiên cứu hàng loạt các vấn đề cơ bản của lịch sử triết học, trong đó nổi
bật là vấn đề đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học; phương pháp luận mác-xít về
lịch sử triết học; động lực phát triển của tư tưởng triết học v.v…
2. Kết cấu của tác phẩm
Tác phẩm gồm có Lời tựa và 4 phần:
Trong lời tựa viết năm 1888, Ăng-ghen trình bày lý do của việc viết tác phẩm này.
4
4
Phần I: Ăng-ghen đánh giá lại triết học của Hêghen. Ông coi triết học Hêghen là đỉnh
cao của triết học cổ điển Đức và là một trong những nguồn gốc lý luận của triết học
Mác. Trong khi đánh giá vai trò to lớn của phép biện chứng trong triết học Hêghen,
Ăng-ghen đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản trong triết học này là mâu thuẫn giữa phương
pháp biện chứng và hệ thống duy tâm siêu hình.
Phần II: Trên cơ sở phân tích vấn đề cơ bản của triết học, Ăng-ghen đã chỉ ra đối
tượng của lịch sử triết học mác xít là nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm, chỉ ra sự phụ thuộc của tư tưởng triết học vào thực tiễn xã
hội và nhận thức khoa học tự nhiên. Đồng thời, ông cũng chỉ ra những hạn chế của chủ
nghĩa duy vật trước Mác, kể cả Phoi-ơ-bắc.
Phần III: Ăng-ghen tập trung phê phán tính chất không triệt để của triết học Phoi-ơ-
bắc, thể hiện ở quan điểm duy tâm về vấn đề tôn giáo và đạo đức, đồng thờ ông cũng
chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó.
Phần IV: Tác phẩm đề cập một cách khái quát và hệ thống những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa duy vật biện biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời ông
khẳng định rằng sự ra đời của triết học Mác là một bước ngoặt trong sự phát triển của
lịch sử triết học.
Như vậy, qua kết cấu tác phẩm, Ăng-ghen cũng muốn chỉ ra rằng, triết học Mác có
Cantơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người. Ăng-ghen phê phán
khuynh hướng bất khả tri luận đó và của cả phái Cantơ mới, phái Hium mới, ông viết:
“Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép ý ngông triết học ấy, cũng như tất cả những
triết học khác là thực tiễn, tức thực nghiệm và công nghiệp”. Ăng-ghen đã đưa ra
những phát minh khoa học để bác bỏ bất khả tri luận và cho rằng khi người ta nhận
thức được “vật tự nó” và áp dụng một cách có hiệu quả thì “vật tự nó” sẽ chuyển thàh
vật cho ta.
Trên cơ sở của việc phân tích vấn đề cơ bản của triết học, Ăng-ghen xác định đối
tượng nghiên cứu của lịch sử triết học là cuộc đấu tranh giữ chủ nghĩa duy vật và chủ
1 Các Mác, Phri đíchĂngghen: Tuyển tập, NXB Sự thật, Hà nội, 1984, tập VI, trang 372.
6
6
nghĩa duy tâm. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra
xoay quanh vấn đề cơ bản của triết học.
Ăng-ghen cũng phê phán quan điểm duy tâm coi lịch sử triết học như là lịch sử phát
triển kinh tế, xã hội; là sản phẩm của tư duy thuần tuý của nhà triết học. Trái lại, Ăng-
ghen chỉ ra rằng: “cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên, hoàn toàn không phải chỉ là
sức mạnh của tư duy thuần tuý, như họ tưởng tượng. Cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên
thì chủ yếu là bước tiến mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của
khoa học tự nhiên và của công nghiệp”. Như vậy, Ăng-ghen đã nhấn mạnh đến vai trò
của khoa học và công nghiệp trong sự phát triển của tư tưởng triết học. Khi khẳng định
nội dung của triết học chịu sự quyết định của quá trình phát triển các quan hệ kinh tế -
xã hội, Ăng-ghen cũng coi triết học là một trong những phương tiện quan trọng trong
cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp trong xã hội.
2. Đánh giá triết học Hêghen
Khi cho rằng Phoi-ơ-bắc bắt đầu từ triết học của Hêghen, sau đó đoạn tuyệt với nó,
phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật, Ăng-ghen đã đánh giá một cách khoa học
triết học Hêghen. Trước hết, Ăng-ghen đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản của triết học
Hêghen, đó chính là mâu thuẫn giữa phép biện chứng với hệ thống triết học. Nếu phép
biện chứng là hạt nhân hợp lý, là mặt tiến bộ của triết học Hêghen, thì ngược lại, hệ
coi “tự ý thức” có vai trò to lớn đối với hiện thực. Và theo Ăng-ghen: “Đông đảo
những người kiên quyết nhất trong phái Hêghen trẻ bị những tất yếu thực tiễn của cuộc
đấu tranh của họ chống lại tôn giáo hiện có, kéo trở về chủ nghĩa duy vật Anh-Pháp”.
Một trong đại diện của phái Hêghen trẻ, theo Ăng-ghen, đó chính là Phoi-ơ-bắc với tác
phẩm “Bản chất đạo Cơ đốc” đã giải quyết được mâu thuẫn trên và phục hồi chủ nghĩa
duy vật.
3. Đánh giá chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc
Ăng-ghen đã đánh giá cao vai trò của Phoi-ơ-bắc trong cuộc đấu tranh chống lại chủ
nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật. Ăng-ghen coi tác phẩm “Bản
chất đạo Cơ đốc” có tác dụng giải phóng và đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy
vật trở lại ngôi vua. Tư tưởng duy vật của Phoi-ơ-bắc có ảnh hưởng to lớn đối với thế
8
8
giới quan triết học của Mác và Ăng-ghen lúc bấy giờ và “là khâu trung gian” giữa triết
học của Hêghen và triết học của hai ông.
Khi chỉ ra vai trò to lớn đó của Phoi-ơ-bắc trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa
duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật, Ăng-ghen cũng khẳng định rằng
Phoi-ơ-bắc chưa vượt khỏi những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII.
Ăng-ghen đã chỉ ra ba hạn chế lớn như sau: thứ nhất, chủ nghĩa duy vật của thế kỷ đó
chủ yếu là có tính chất máy móc; thứ hai, chủ nghĩa duy vật đó có đặc trưng siêu hình,
có nghĩa là không biện chứng, và thứ ba, chủ nghĩa duy vật đó không triệt để, duy tâm
trong cách hiểu về các hiện tượng xã hội.
Trong quan hệ với triết học của Hêghen, Ăng-ghen cho rằng, Phoi-ơ-bắc có công lao
phê phán chủ nghĩa Hêghen, song thiếu sót lớn của Phoi-ơ-bắc trong vấn đề này là
không biết kế thừa hạt nhân hợp lý của triết học Hêghen là phép biện chứng. “Phoi-ơ-
bắc đã đập tan hệ thống Hêghen và chỉ đơn giản gạt nó ra một bên thôi. Song chỉ tuyên
bố một triết học nào đó là sai lầm thì chưa có nghĩa là thắng được nó”. Ăng-ghen cũng
đòi hỏi “phải tiêu diệt hình thức của nó bằng phê bình, nhưng cứu lấy nội dung mới
mà nó đã đạt được”.
Vượt xa Phoi-ơ-bắc, trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật, Mác đã phê phán chủ nghĩa duy
phải chỉ đơn giản đúng y như bản thân chúng là như vậy… Đối với ông ta, điều chủ
yếu không phải ở chỗ những quan hệ thuần tuý giữa người với người tồn tại, mà là ở
chỗ những quan hệ ấy phải được coi là một thứ tôn giáo mới, chân chính”. Phoi-ơ-bắc
muốn xây dựng một thứ tôn giáo không cần Thượng đế và Ăng-ghen coi đó cũng như
“Thuật luyện kim cũng không cần đến viên đá tạo vàng của nó”. Ăng-ghen cũng phê
phán luận điểm sai lầm của Phoi-ơ-bắc coi các thời đại của loài người chỉ khác nhau
bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo.
Trong vấn đề đạo đức, theo Ăng-ghen, Phoi-ơ-bắc hoàn toàn duy tâm khi coi lòng
mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh của con người, do đó nó phải là cơ sở của đạo đức.
Và để thực hiện lòng mong muốn hạnh phúc đó, Phoi-ơ-bắc đòi hỏi phải có sự tự hạn
chế hợp lý bản thân mình và tình yêu giữa người với người lại trở thành những quy tắc
cơ bản của đạo đức. Bằng sự bóc lột giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp và sự
bất bình đẳng xã hội, Ăng-ghen phê phán quan điểm về đạo đức của Phoi-ơ-bắc, “nó
10
10
được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì
thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả, cả đối với thế giới hiện
thực” và Ăng-ghen cho rằng: trong thực tế mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp
đều có đạo đức riêng của mình và đều vi phạm đạo đức ấy. Như vậy, quan niệm về đạo
đức của Phoi-ơ-bắc vẫn chưa thoát khỏi sự trìu tượng, vì ông hiểu con người một cách
trìu tượng phi lịch sử, không thấy con người là sản phẩm của xã hội, của lịch sử và con
người là chủ thể của hoạt động. Điều đó biểu hiện trong nhận xét rất chính xác của
Ăng-ghen rằng, Phoi-ơ-bắc “bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con người; song đối
với ông, cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh từ mà thôi. Ông không biết
nói với chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực, cũng như về con người
hiện thực”.
Trên cơ sở phê phán một cách khoa học triết học của Hêghen và triết học của Phoi-ơ-
bắc, Ăng-ghen đã chỉ ra cho chúng ta thực chất cuộc cách mạng trong lịch sử triết học
do Mác và Ăng-ghen thực hiện.
4. Thực chất cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do Mác - Ăng-ghen thực hiện
biết ấy nói chung và có thể trình bày một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự
nhiên”.
Về sự hình thành các quan điểm duy vật lịch sử cũng tương tự, Ăng-ghen coi “cái đã
đúng với giới tự nhiên mà do đó chúng ta coi là một quá trình phát triển lịch sử, thì
cũng đúng với tất cả các bộ môn của lịch sử xã hội và cũng đúng với toàn bộ các khoa
học nghiên cứu những cái thuộc về con người (và thuộc về thần thánh)”. Theo Ăng-
ghen, phải loại bỏ những mối liên hệ nhân tạo, và phải tìm ra những mối liên hệ hiện
thực, nhất là phải phát hiện ra các quy luật chung chi phối sự phát triển của lịch sử.
Đấy chính là nhiệm vụ của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Ăng-ghen phân biệt sự khác nhau giữa quy luật lịch sử - đối tượng nghiên cứu của chủ
nghĩa duy vật lịch sử với các quy luật tự nhiên - đối tượng nhận thức của các khoa học
tự nhiên. Trong giới tự nhiên, các quy luật diễn ra tự động, bên ngoài ý thức của con
người trái lại các quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người.
Nhưng cũng giống với các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội cũng bị chi phối bởi vô số
12
12
những ngẫu nhiên. Thông qua vô số ngẫu nhiên đó, chúng ta phát hiện ra quy luật nội
tại bị che giấu.
Ăng-ghen cũng chỉ ra đặc trưng của các quy luật xã hội. Ông cho rằng: “Con người
làm ra lịch sử của mình… bằng cách là mỗi người theo đuổi những mục đích riêng,
mong muốn một cách có ý thức, và chính kết quả chung của vô số những ý muốn tác
động theo nhiều hướng khác nhau đó và của những ảnh hưởng muôn vẻ của những ý
muốn đó vào thế giới bên ngoài đã tạo nên lịch sử”.
Tiếp theo, Ăng-ghen xem xét đến một vấn đề rất quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch
sử, đó là vấn đề động lực của lịch sử. Theo Ăng-ghen, chủ nghĩa duy vật cũ không bao
giờ đặt vấn đề đó ra cả vì vậy quan điểm của họ về lịch sử, “về bản chất, là quan điểm
thực dụng chủ nghĩa; nó đánh giá mọi cái theo động cơ của hành động”. Ăng-ghen đã
phê phán quan điểm trên và cho rằng: “Chủ nghĩa duy vạtt cũ không trung thành với
bản thân mình, vì nó coi những động lực lý tưởng tác động trong lĩnh vực lịch sử là
những nguyên nhân cuối cùng, chứ không nghiên cứu xem cái gì ẩn sau những động
Với phương pháp như trên, Ăng-ghen tiếp tục xem xét mối quan hệ với cơ sở kinh tế
của một số yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước và pháp luật, chính trị và hệ
tư tưởng chính trị, triết học và tôn giáo. Khi xem xét môố quan hệ giữa nhà nước và xã
hội công dân, Ăng-ghen khẳng định nhà nước là yếu tố tuỳ thuộc, “còn xã hội công
dân, tức là lĩnh vực của những quan hệ kinh tế, là yếu tố quyết định”.
Nếu như nhà nước và công pháp là do các quan hệ kinh tế quyết định thì tư pháp cũng
thế, vì tư pháp, theo Ăng-ghen, về bản chất, chỉ xác nhận những quan hệ kinh tế hiện
có và “những quy tắc của pháp luật tư bản chỉ là sự biểu hiện - dưới một hình thức
pháp lý - của những điều kiện sinh hoạt kinh tế của xã hội”.
Về vấn đề chính trị và hệ tư tưởng chính trị cũng vậy, nhưng dường như trong thực tế
ý thức về mối liên hệ giữa chính trị và hệ chính trị với cơ sở kinh tế bị mờ dần đi và
thậm chí có thể hoàn toàn biến mất. Còn trong hệ tư tưởng cao hơn, xa hơn cơ sở kinh
tế như triết học và tôn giáo, thì do những khâu trung gian mà mối liên hệ đó bị lãng
quên. Song dù sao, theo Ăng-ghen, “mối quan hệ đó vẫn tồn tại” và những tư tưởng
14
14
triết học từ thế kỷ XV trở đi qua triết học Pháp, triết học Anh và đến triết học của
Hêghen đều phản ánh sự phát triển của giai cấp tư sản.
Về tôn giáo, Ăng-ghen cho rằng tôn giáo là hình thái ý thức xã hội xa đời sống vật
chất hơn cả và hình như nó xa lạ với đời sống vật chất. Nhưng thực ra xét đến cùng,
tôn giáo cũng như các hình thái ý thức xã hội khác đều gắn liền với những điều kiện
sinh hoaạtvật chất của con người. Để làm rõ luận điểm ấy, Ăng-ghen chỉ ra sự phát
triển của tôn giáo có nguồn gốc ban đầu nguyên thuỷ của nó “từ những khái niệm hết
sức sai lầm, nguyên thuỷ của con người về bản chất của chính họ và về giới tự nhiên
bên ngoài xung quanh họ”. Khi xem xét tồn giáo phát triển từ tôn giáo dân tộc thành
tôn giáo thế giới, đạo Cơ đốc phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang xã hội phong
kiến, sự ra đời của giai cấp tư sản gắn liền với cải cách tôn giáo, đạo Tin lành ra đời
đối lập với đạo Thiên chúa phong kiến, Ăng-ghen đi đến kết luận: “Tôn giáo, một khi
đã hình thành, luôn luôn chứa đựng một chất liệu truyền thống, cũng như trong tất cả
các lĩnh vực tư tưởng, truyền thống là một lực lượng bảo thủ lớn. Song những sự biến
Điểm quan trọng nhất trong tác phẩm là chủ nghĩa duy vật biện chứng; trong các hoạt
động thực tiễn của Cách mạng Việt nam, chúng ta không xem xét các sự vật hiện
tượng một cách máy móc, siêu hình, không nên vận dụng một cách dập khuôn một mô
hình của một nước cụ thể nào cho riêng mình. Cần tự tìm cho mình quy luật, con
đường riêng, phù hợp với điều kiện – hoàn cảnh hiện thực của nước ta. Trong thực tế
Cách mạng Việt nam, do nhận thức chưa đầy đủ, nóng vội chúng ta đã học tập mô
hình xây dựng của Liên Xô, sự vận dụng các học thuyết của Mác chưa đúng, dẫn tới
những sai lầm nghiêm trọng. Từ đó Đảng ta cũng rút ra một bài học từ Đại hội 6: đó là
phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng khách quan.
IV. KẾT LUẬN
Tác phẩm “Lút vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” được
Ăng-ghen (1886) viết nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Trong tác phẩm này
ông trình bày các vấn đề chủ yếu sau:
16
16
• Lịch sử triết học; như vấn đề cơ bản của triết học, đối tượng và phương pháp
luận mác xít về lịch sử triết học; động lực phát triển của tư tưởng triết học.
Đánh giá lại triết học của Hêghen, phê phán tính không triệt để của triết học
Phoi-ơ-bắc.
• Trình bày khái quát và hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Ra đời trong thời kỳ phong trào công nhân thế giới rơi vào khủng khoảng, trì trệ, tác
phẩm đã góp phần quyết định vào việc trang bị cho giai cấp công nhân cơ sở lý luận
chính trị để chống lại chủ nghĩa cơ hội và mọi biến tướng của nó, chống lại hệ tư
tưởng tư sản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT Tên tài liệu
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo: Triết học (tập 1, 2, 3) - Dùng cho Nghiên cứu
sinh và Học viên cao học không thuộc chuyên ngành Triết học. NXB Chính
trị Quốc gia – năm 2001.