Tìm hiểu tư tưởng triết học pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới công nhận là Anh hùng dân tộc, danh nhân
văn hóa kiệt xuất của nhân loại, là một trong những người tạo nên khuôn mặt và
tầm vóc của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa văn hóa
của dân tộc và của nhân loại để tạo nên tư tưởng độc lập của mình. Vì vậy, khi tìm
hiểu nguồn gốc tư tưởng và tư tưởng triết học pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, chúng ta nhất thiết phải tìm hiểu sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa
dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại mà Người đã tiếp thu được không những
qua sách vở mà còn qua những ngày tháng bôn ba khắp năm châu, bốn biển.
Trước hết, phải lý giải tư tưởng triết học pháp quyền là gì và tầm quan trọng của
nó đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia như thế nào.
Theo Hê-ghen, tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Triết học pháp quyền” xuất bản
năm 1820 thì triết học pháp quyền nghiên cứu tư tưởng của pháp luật. Nhiệm vụ
chủ yếu của triết học pháp quyền là tìm hiểu tư tưởng chủ đạo nằm trong pháp
luật
1
tạo nên tinh thần pháp luật. Tư tưởng triết học pháp quyền của Hê-ghen thực
chất là tư tưởng về nguyên tắc và tính chất pháp luật
2
.
Theo cuốn “Từ điển tiếng Pháp” nổi tiếng của Paul Robert
3
thì triết học pháp
quyền nghiên cứu những nguyên tắc chung, theo đó, một hệ thống pháp luật được
xây dựng và thực hiện. Còn theo “Từ điển Bách khoa toàn thư tiếng Pháp” do Nhà
xuất bản ALPHA phát hành tại Paris 1993
4
thì triết học pháp quyền cũng nghiên
cứu những nguyên tắc tạo nên nền tảng của một hệ thống pháp luật. Tóm lại, tư
tưởng triết học pháp quyền là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng, thực hiện một
hệ thống pháp luật nhất định.
nên người nắm quyền lực tối cao này phải là người chính nghĩa, là người được
mệnh trời. Muốn được mệnh trời nhà vua cần cư xử có đức độ và trong phép trị
nước phải lấy dân làm gốc. Nghĩa là vua phải biết thương dân như con đẻ của
mình, chăm nom đến quyền lợi của dân và hết sức công minh, không thể vì lợi ích
của riêng mình, của dòng họ mình, của người thân mình mà làm hại đến lợi ích
của dân. Nhà vua không được làm điều gì trái với lòng dân vì ý dân là ý trời. Vì
vua nào làm trái lòng dân thì vận nước sẽ suy vong, ngai vàng sẽ không được lâu
bền. Trong sách Đại học của Khổng Tử có viết: “Dân chi sở hiếu, hiếu chi, dân chi
sở ố, ố chi, thử chi vị, dân chi phụ mẫu” (nghĩa là: phải thích cái dân thích, phải
ghét cái dân ghét thế mới là cha mẹ của dân). Trong Kinh thư, mệnh trời và lòng
dân rất gần gũi nhau: “Thiên căng vu dân, dân chi sở dục, thiên tất tòng chi” (trời
thương dân, dân muốn gì trời cũng theo). Mạnh Tử - người kế tục xuất sắc tư
tưởng của Khổng Tử cũng đã viết: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
nghĩa là dân là quý hơn hết, sau đó là giang sơn, xã tắc, cuối cùng mới tới vua
5
. Tư
tưởng “lấy dân làm gốc” được các nhà tư tưởng lớn của các triều đại phong kiến
Việt Nam quán triệt một cách sâu sắc. Khi được hỏi về kế sách giữ nước trước khi
lâm chung, Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn đã nói: “Hãy khoan sức dân để làm
kế sâu rễ bền gốc”
6
. Nguyễn Trãi - danh nhân văn hóa thế giới, tác giả của “Bình
Ngô Đại Cáo” nổi tiếng - cũng đã nói: “Dân là nước chở thuyền nhưng cũng có thể
lật thuyền”. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tiếp thu tư tưởng “lấy dân làm gốc” của
Khổng Tử, Mạnh Tử, của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu những tinh
hoa của tư tưởng dân chủ phương Tây để xây dựng nền tư tưởng dân chủ của
mình. Hồ Chí Minh đã viết: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều
của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc là công việc của dân. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở
nơi dân”
có khi nghiêng về pháp trị, song xu hướng chung là kết hợp giữa đức trị và pháp
trị.
Về đức trị, Nho giáo cho rằng, có năm mối quan hệ rường cột: vua tôi, cha con, vợ
chồng, anh em, bạn hữu là những mối quan hệ chính mà bất kỳ người nào cũng
không tránh khỏi, giữ được tốt năm mối quan hệ ấy thì xã hội hòa mục, gia đình
yên vui. Vua Minh Mạng hàng năm vào tháng 4 ban hành “Huấn điều” đến tận
thôn xã, trong đó ngũ luân được định nghĩa ngắn gọn như sau: Đạo làm người
không có gì cốt yếu bằng làm cho luân lý được trong sáng: Vua tôi có nghĩa, cha
con có tình thân, vợ chồng có riêng biệt, anh em có thứ bậc, bạn bè có tin cậy, ấy
là năm điều luân lý quan trọng của người ta. Vua Tự Đức đặt ra phương châm trị
nước là “kính thiên, pháp tổ, cần chính, ái dân, thân hiền”.
Nói về tầm quan trọng của luân lý đạo đức trong việc trị nước, nhà cách mạng
Phan Đình Phùng đã viết: “Nước ta nghìn năm lại đây, đất không rộng, binh không
mạnh, của không nhiều, cái chỗ dựa để dựng nước chỉ ở nơi luân thường, vua tôi,
cha con mà thôi”. Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ yêu nước nổi tiếng, cũng đã từng
viết: “Hai chữ cương thường giằng cả nước. Một câu trung hiếu dựng nên nhà”.
Đạo đức đối với mọi người là yếu tố quan trọng nhất, bởi vậy, thi hào Nguyễn Du
đã từng viết “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Đạo đức đối với người đứng đầu
Nhà nước lại càng quan trọng hơn bởi đạo đức của người đó ảnh hưởng đến đạo
đức của hàng chục, hàng trăm triệu người. “Vua phải đức độ, gương mẫu thì quan
mới liêm, dân mới sống, nhược bằng vua muốn lấy gỗ thì bề tôi phá rừng, vua
muốn lấy cá thì bề tôi tát cạn ao ngòi, vua đa dục thì quan không thanh liêm”
(Nam sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt). Suốt đời mình với “cuộc đời thanh
bạch chẳng vàng son”, Hồ Chí Minh luôn luôn là tấm gương đạo đức: cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư. Người luôn luôn “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, Hậu
thiên hạ, chi lạc nhi lạc” (lo thì lo trước mọi người, vui thì vui sau mọi người).
Người còn là tấm gương sáng ngời về việc tự học, kể cả khi đã ngoài 70 tuổi.
Trong buổi nói chuyện với những đảng viên hoạt động lâu năm ngày 9/12/1961,
Người nói: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào tôi cũng phải học, việc lớn, việc nhỏ
phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi, không học thì theo không kịp, công việc nó
nghĩa xã hội”
11
. Người tự đặt câu hỏi: “Chủ nghĩa xã hội là gì” và Người trả lời:
“Là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”
12
. Chủ nghĩa xã hội là làm
cho mọi người dân được ấm no hạnh phúc và học hành tiến bộ
13
. Chủ nghĩa xã hội
là tất cả mọi người, mọi dân tộc được ấm no hạnh phúc và con cháu chúng ta ngày
càng sung sướng
14
. Người nói một cách tóm tắt, dễ hiểu với tất cả mọi người:
“Chủ nghĩa xã hội trước hết làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm
cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”
15
,
chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh
16
.
Để chống lại chủ nghĩa giáo điều - tiếp nhận mô hình chủ nghĩa xã hội một cách
máy móc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Ta không thể giống Liên Xô, vì ta có
phong tục tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác. Ta có thể đi con đường khác để
tiến lên chủ nghĩa xã hội
17
.
4. Dựa trên tư tưởng triết học pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây
dựng triết học pháp quyền Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó
là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng
đức trong sáng trong xã hội. Tôn vinh cao hơn nữa những người có công lao trong
việc xây dựng đời sống tinh thần của đất nước như các nhà văn, nhà thơ, các nhà
sử học, triết học, các kiến trúc sư, các nhạc sĩ, hoạ sĩ, các nhà tư tưởng, các nhà
văn hóa lớn của dân tộc.
(1) Hêghen, Triết học pháp quyền M.1990, tr. 59 (bản tiếng Nga).
(2) V.X.Nher-se-sians, Triết học pháp quyền M.1993, tr.13 (bản tiếng Nga).
(3) Dictionnaire de la langue Francaise par Paul Robert, Paris 19932, tr.1660.
(4) Dictionnaire encyclopedique da la langue Francaise Paris 1993, tr. 973.
(5) Xem Pháp chế sử - Vũ Quốc Thông, Sài Gòn 1973, tr. 53.
(6) Xem Quỳnh Cư- Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, Hà
Nội 1999, tr. 22.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb. Sự thật, 1985, tr.229.
(8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Sự thật, 1984.
(9) Xem Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật - Viện
nghiên cứu Khoa học Pháp lý, 1993, tr. 213.
(10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr. 245.
(11) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb. Sự thật, 1989, tr.388.
(12) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, sđd tr. 682.
(13) sđd tr. 673.
(14) sđd tr. 73.
(15) sđd tr. 603
(16) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Sự thật 1987, tr.498.
(17) Hồ Chí Minh toàn tập, sđd tr.499.
(18) Chủ nghĩa tam dân của Tôn Dật Tiên: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do;
Dân sinh hạnh phúc.
(19) Hồ Chí Minh, Nxb. Tam Liên, Thượng Hả,i 1949, tr. 1.